Điều trị bệnh Benrger và cảm lạnh.

Điều trị:

Cai thuốc lá dưới mọi hình thức:

– Khi được chẩn đoán bệnh Buerger, bệnh nhân cần bỏ thuốc lá để chặn đứng diễn tiến của bệnh. Phản ứng viêm sẽ ngừng lại khi ngừng hút thuốc. Đa số bệnh nhân bỏ được thuốc lá sẽ không còn nguy cơ bị cắt bỏ ngón về sau này. Những người tiếp tục hút thuốc sẽ khiến bệnh nặng hơn và cần phải cắt bỏ ngón hoại tử.

Bỏ thuốc lá rất khó. Trước đây, có thể bạn đã hiểu rõ tác hại của thuốc lá và từng tìm cách từ bỏ nó nhưng không thành công.

Hãy trao đổi với bác sĩ về các chiến lược để bỏ thuốc lá. Hiện đã có một số thuốc giúp bạn vượt qua được cơn thèm thuốc.

Tuy nhiên, bạn không thể dùng các sản phẩm thay thế có chứa nicotine như miếng thuốc dán hoặc kẹo sing-gum, vị nicotin trong các sản phẩm này cũng sẽ ảnh hưởng đến bệnh Buerger.

– Do bắt buộc phải từ bỏ thuốc lá, bác sĩ đôi khi sẽ khuyến cáo những biện pháp mạnh. Ví dụ, bác sĩ có thể kiểm tra nước tiểu định kỳ để biết chắc chắn rằng bạn không còn hút thuốc nữa.

Một biện pháp nữa là áp dụng chương trình cai thuốc lá nội trú. Bạn sẽ phải sống tập trung tại một cơ sở điều trị, đôi khi tại bệnh viện, trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần. Trong thời gian điều trị, hàng ngày bạn sẽ được tham gia các khoá tư vấn cùng các hoạt động khác để giúp vượt qua sự thèm thuốc và luyện tập cách sống không có thuốc lá.

Các điều trị khác:

Bệnh Benrger không thể chữa khỏi được. Bác sĩ có thể dùng nhiều loại thuốc để giảm bớt các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh.

Các chọn lựabao gồm:

– Thuốc để cải thiện lưu lượng máu và làm tan cục máu đông.

– Phẫu thuật cắt lọc các dây thần kinh bị tổn thương (phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm) để giảm đau.

– Đoạn chi, nếu nhiễm trùng và hoại thư xảy ra.

+ Phòng ngừa:

Bạn có thể phòng ngừa bệnh Buerger, bằng cách bỏ thuốc lá. Nếu bạn không nghiện, xin hãy tránh xa điếu thuốc.

Tự chăm sóc:

– Hãy chăm sóc kỹ các ngón tay và ngón chân của mình khi bị bệnh Buerger.

– Kiểm tra phần da ở tay, chân mỗi ngày để phát hiện những vết cắt và trầy xước. Lưu lượng máu đến nuôi các chi không đủ khiến cơ thể khó chống chọi với nhiễm trùng. Những vết rách ra và trầy xước nhỏ sẽ có thể là tiền đề cho những nhiễm trùng nặng sau này.

– Rửa kỹ các vết trầy xước da và băng sạch. Hãy theo dõi sát vết thương xem chúng có lành lại không.

– Nếu vết thương xấu đi, Cần phải khám bệnh ngay.

* CẢM LẠNH

+ Giới thiệu chung.

Cảm hay cảm lạnh là một trong những nhóm bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus gây ra, có tính lây lan cao. Thường gặp nhất là hai nhóm virus: Picornavirus (bao gồm Rhinovirus) và Coronavirus.

+ Dịch tể.

Nhiễm trùng đường hô hấp trên là loại nhiễm trùng phổ biến nhất ở người lớn và trẻ em. Trung bình, người lớn thường bị cảm 3 lần/năm nhưng cũng không phải bất thường nếu ai đó bị 6 lần.

Tỉ lệ mắc bệnh cảm cao nhất là ở em bé và trẻ đang tập đi vì hệ miễn dịch của chúng chưa phát triển. Trẻ đi học có thể nhiễm cảm cả chục lần trong năm. Con số này sẽ giảm theo độ tuổi. Những người có hệ miễn dịch tốt đối với nhiều loại virus có thể chỉ bị cảm 1 -2 lần hoặc thậm chí không bị.

Virus nào cũng đều hoạt động quanh năm, nhưng phần đông chúng ta bị nhiễm cảm vào mùa thu và mùa đông (khoảng 60%). Có lẽ vì vào mùa thu và mùa đông, cũng là mùa trẻ em đi học, thời tiết làm người ta ở trong nhà nhiều hơn và tiếp xúc với người khác gần hơn, nên khả năng lây lan virus tăng lên.

+Tác nhân gây bệnh:

Cảm lạnh thường do một trong 100 loại virus thuộc nhóm Rhinovirus (một loại của Picornavirus) gây ra. Ngoài ra còn có các loại virus khác như Coronavirus, adonovirvis, emerevirus. Do đó, không thể có miễn nhiễm với bệnh cảm, nghĩa là người bệnh cảm rồi vẫn có thể mắc lại.

Virus lây truyền từ người qua người bằng một trong 2 cách:

+ Khi người bệnh ho hay hắt hơi.

+ Tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với nước bọt hoặc dịch tiết của người bệnh.

+ Triệu chửng:

Thông thường, triệu chứng xuất hiện sau 2 đến 5 ngày tiếp xúc với virus, cá biệt có trường hợp khỏi phát sau 10 giờ. Biểu hiện đầu tiên của cảm thường chỉ là đau hay rát họng.

Các triệu chứng thường gặp khác là chảy mũi, nghẹt mũi, ho hoặc hắt hơi. Những triệu chứng này thưòng đi kèm với đau cơ, mỏi mệt, nhức mỏi, khó chịu, nhức đầu, chán ăn. Cảm lạnh đôi khi làm sốt, nếu sốt cao có thể làm người bệnh kiệt sức (thường gặp ở bệnh cúm hơn).

Những triệu chứng của cảm lạnh thường mất đi sau 1 tuần, nhưng cũng có khi kéo dài liền 14 ngày, trong đó ho thường kéo dài hơn các triệu chứng khác. Trẻ em thường có những triệu chứng nặng hơn, và có thể gặp sốt, phát ban.

 

 

 

Viêm thuyên tắc mạch máu.

+ Nguyên nhân:

Bệnh Buerger xảy ra do viêm các động mạch và tĩnh mạch ở cánh tay và cẳng chân.

Các tế bào viêm và đôi khi các huyết khối (cục máu đông) hình thành ở mạch máu, chặn dòng chảy của máu đến và máu đi ở chân tay người bệnh.

Giảm lưu lượng máu sẽ khiến các mô ở tay chân không nhận đủ oxygen và các chất dinh dưỡng để duy trì hoạt động.

Điều này đưa đến các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh Buerger, bắt đầu bằng đau và yếu các ngón tay, ngón chân rồi sau đó lan rộng đến các bộ phận khác của cánh tay và cẳng chân.

Hiện chưa biết rõ điều gì đã khởi động cho phản ứng viêm và hình thành huyết khối, các nhà nghiên cứu cho rằng có thể do thuốc lá kích thích yếu tố miễn dịch tế bào làm viêm và gây tổn thương thành mạch.

* Yếu tố nguy cơ

Hút thuốc lá làm tăng rất cao nguy cơ bệnh Buerger. Người nghiện thuốc lá nặng rất dễ mắc bệnh. Bệnh xảy ra khi dùng bất cứ dạng thuốc lá nào kể cả xì gà và thuốc lá nhai.

Hiện giờ vẫn chưa rõ thuốc lá tác động ra sao để làm tăng nguy cơ bệnh nhưng hầu như tất cả những người được chẩn đoán bệnh Buerger đều có dùng thuốc lá.

Tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở vùng Trung Đông và Viễn Đông là nơi có nhiều người nghiện thuốc lá nhất.

Bangla Desh hiện là quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh trong dân cao nhất thế giới do người dân, theo tập quán, nghiện nặng một loại thuốc lá thô tự trồng và tự chế biến.

+ Khi nào cần đi khám bệnh?

Khi bạn có những triệu chứng và dấu hiệu gợi ý bộnh Buerger: tê tay chân, yếu tay chân, tay chân lạnh hơn bình thường, đi khập khiễng gián cách.

+ Kiểm soát và chuẩn đoán.

Bác sĩ sẽ hỏi bạn về chiệu chứng và dấu hiệu. Không một xét nghiệm nào có thể xác định chính xác bạn có bị bệnh hay không.

Bác sĩ sẽ chỉ định một số xét nghiệm để hướng đến chẩn đoán, và phân biệt với những bệnh lý khác. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Xét nghiệm máu: Xét nghiệm có thể tìm thấy trong máu một số chất (kháng thể) giúp ta loại trừ những bệnh lý khác gây triệu chứng và dấu hiệu tương tự.

Ví dụ, xét nghiệm máu có thể giúp loại trừ bệnh xơ cứng bì, lupus, các rối loạn đông máu, đái tháo đường…

Dấu hiệu Allen: bệnh nhân nắm chặt bàn tay. Bác sĩ dùng bàn tay mình siết chặt cổ tay người bệnh. Sau đó, bệnh nhân mở lòng bàn tay và bác sĩ cũng buông tay mình khỏi cổ tay bệnh nhân.

Dựa trên thời gian phục hồi màu sắc ở bàn tay bệnh nhân, sơ bộ có thể đánh giá lưu lượng của các mạch máu. Máu đến bàn tay một cách châm chạp là dấu hiệu gợi ý cho bệnh Buerger.

Chụp động mạch: chụp động mạch còn gọi là chụp mạch máu, giúp thầy thuốc hiểu rõ tình trạng của các động mạch. Bác sĩ tiêm cân quang vào động mạch sau đó chụp X-quang hoặc dùng các kỹ thuật chẩn đoánhình ảnh khác.

Các chỗ tắc nghẽn trong lòng động mạch sẽ được phát hiện ngay, Bác sĩ có thể chỉ định chụp động mạch cân quang ở cả hai tay lẫn hai chân ngay cả khi bạn chưa có triệu chứng của bệnh.

Bệnh Buerger thường gây tổn thương ở nhiều chi, chụp động mạch sẽ giúp phát hiện sớm tổn thương hầu có kế hoạch điều trị kịp thời trước khi các dấu hiệu và triệu chứng xảy ra.

Siêu âm Doppler mạch máu, chụp MSCT 64, chụp động mạch xoá nền kỹ thuật số (DSA) là những phương pháp mới để chẩn đoán bệnh Buerger.

+ Biến chứng:

Khi bệnh nặng hơn, lưu lượng máu đến các chi sẽ giảm. Do tắc nghẽn tại động mạch, máu khó đến được các đầu ngón tay và ngón chân.

Các mô không nhận đủ máu sẽ thiếu oxy và chất dinh dưỡng để sống còn. Hoại tử vùng da và mô ở đầu ngón tay, ngón chân sẽ xảy ra.

Các dấu hiệu và triệu chứng hoại tử là: da đổi màu xanh đen, mất cảm giác ở ngón bị tổn thương và bốc mùi hôi thối. Hoại tử là một tình trạng nghiêm trọng đòi hỏi phải cắt bỏ ngón tay hoặc ngón chân tương ứng.

 

Bệnh Buerger (viêm thuyên tắc mạch máu) là gì?

• Ở giai đoạn trung bình:

+ Bạn có thể ho và khạc đàm nhiều hơn.

+ Bạn thường bị hụt hơi khi làm nặng hoặc đi nhanh.

+ Bạn thấy khó khăn nếu làm việc nặng hay các việc lặt vặt.

+ Bạn phải mất vài tuần mới phục hồi sau một đợt cảm hay nhiễm trùng.

– Ở giai đoạn nặng:

+ Bạn có thể ho nhiều hơn nữa và khạc ra nhiều đàm.

+ Bạn khó thở cả ngày lẫn đêm.

+ Bạn phải mất vài tuần mới phục hồi sau một đợt cảm hay nhiễm trùng phổi.

+ Bạn không thể đi làm hay làm các việc lặt vặt trong nhà được nữa.

+ Bạn không thể đi băng ngang qua phòng hay lên cầu thang được nữa.

+ Bạn dễ bị mệt.

– Chẩn đoán bệnh

Bạn nên đến bác sĩ khi bạn có vấn đề về hô hấp hay bị ho đã hơn 1 tháng. Phần lớn bệnh nhân đợi cho đến khi bệnh hô hấp nặng mới tìm đến bác sĩ. Họ không chú ý đến triệu chứng ho hay vấn đề về hô hấp trong nhiều năm.

Khi bạn có vấn đề về hô hấp, tìm gặp bác sĩ về BPTNMT càng sớm càng tốt. Bác sĩ sẽ khám cho bạn, hỏi về tình trạng hô hấp và sức khỏe của bạn, nhà ở và nơi làm việc của bạn. BPTNMT được chẩn đoán xác định bằng một xét nghiệm hô hấp đơn giản gọi là hô hấp ký.

Xét nghiệm này dễ làm và không đau. Bạn chỉ cần thổi mạnh vào một ống do gắn liền với máy hô hấp kế. Bác sĩ sẽ nói cho bạn biết BPTNMT của bạn đã nặng tới đâu.

Điều trị BPTNMT như thế nào?

– Bác sĩ không thể chữa lành được BPTNMT vì các tổn thương thường không thể hồi phục được (đường dẫn khí đã bị hóa xơ, chít bẹp, vách phế nang đã bị tiêu hủy).

– Nhưng bác sĩ có thể làm giảm triệu chứng và làm chạm hóa trình gây tổn hại ở phối bệnh nhân.

– Nếu tuân theo hướng dẫn của bác sĩ, bạn sẽ bớt khó thở hơn, bạn sẽ ít ho hơn, bạn sẽ khỏe mạnh hơn và phấn khởi hơn.

Bạn và gia đình có thể làm gì với BPTNMT ?

Có 6 việc nên làm:

1. Ngưng hút thuốc.

2. Đến bác sĩ ít nhất một năm hai lần, dùng thuốc theo cách mà bác sĩ yêu cầu.

3. Đến bệnh viện hoặc bác sĩ ngay khi bạn thấy khó thở hơn.

4. Đến giữ không khí trong nha thật sạch.

5. Giữ cho cơ thể khỏe mạnh.

6. Ráng sống tích cực tôi đa. Làm cho cuộc sống càng dễ chịu càng tốt.

VIÊM THUYÊN TẮC MẠCH MÁU

Bệnh Buerger (viêm thuyên tắc mạch máu) là gì?

– Bệnh Buerger là bệnh lý thường gặp ở động mạch, tĩnh mạch tay hoặc chân. Bệnh Buerger có độc điểm là sự phối hợp của phản ứng viêm và cục máu đông trong lòng mạch máu khiến lưu lượng máu bị suy giảm dẫn đến tổn thương và huỷ hoại mỡ, sau cùng là nhiễm trùng và hoại tử. Bệnh Buerger thường khởi phát ở bàn tay và bàn chân sau đó lan rộng đến những vùng khác của chi.

Bệnh Buerger hiện ít gặp ở Mỹ, nhưng lại gặp thường hơn ở vùng Trung Đông và Viễn Đông. Bệnh xảy ra nhiều nhất ở nam từ 20 đến 40 tuổi, trong khi số lượng bệnh nhân nữ cũng đang ngày càng tăng.

Hầu như tất cả bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Buerger đều hút thuốc hoặc dùng các sản phẩm chứa nicotine, như kẹo sing-gum có nicotine.

Bỏ tất cả các loại thuốc lá là con đường duy nhất để chặn đứng bệnh Buerger, ở những người không bỏ được thuốc lá, cắt đoạn một phần hoặc toàn bộ chi có thể cần phải thực hiện ở giai đoạn sau cùng.

+ Triệu chửng ưà dấu hiệu:

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh Buerger bao gồm:

– Đau, yếu cẳng chân và bàn chân, hoặc cẳng tay và bàn tay.

– Sưng bàn tay, bàn chán.

– Đi khập khiễng gián cách (intermittent claudication).

– Ngón tay và ngón chân tím tái khi bị lạnh (Hiện tượng Raynaud).

– Các vết loét ở ngón tay và ngón chân.

 

 

Nguyên nhân rối loạn tiền đình.

+ Nguyên nhân:

Có rất nhiều nguyên nhân, một số chưa rõ, tuỳ theo triệu chứng. Một số nguyên nhân thường gặp như sau:

Viêm thần kinh sọ não số 8, nhánh tiền đình (vcstibular neuritis). Đây là một tình trạng lành tính, hay tái phát thường do virus, hay gặp ở người trẻ tuổi hoặc trung niên. Lúc đầu có thể bị nôn, ói, rung giật nhãn cầu (nystagmus) về phía bên tai bị. Sau đó là nôn ói. Chứng này sẽ tự khỏi nhưng hay tái phát.

Bệnh nhân không bị ù tai, mất thính giác (hearing loss).

Xét Nghiệm: Ngoài việc khám lâm sàng thần kinh kỹ lưỡng nên làm thêm: caloric teeting: nhỏ nước lạnh, ấm vào tai để kích thích phản ứng rung giật nhãn cầu (nystngmus), điện ký rung giật nhãn cầu (electronystagmography), chụp MRI tai và não để loại trừ các bệnh nặng như: u bướu, u thần kinh thính giác (acoustic ncturoma), nhồi máu thân não, tiểu não.

Điều trị:

Thường do virus nên không có điều trị đặc hiệu.

Thuốc trị chóng mặt:

• Antivert (meclizine) các thuốc antihistamine khác, Anticholinergic (soopolamine).

– Tanganil (acetylDL-leucine).
– Nootropyl (piractttiim),
– Sere (betahistine)…

Những thuốc nêu trên chỉ có tính cách tham khảo, cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

Chóng mặt tư thế lành tính (Benign Paroxysmal Posítional Vertigo).

Đây cũng là một tình trạng lành tính, bệnh nhân chóng mặt khi ở một tư thế nào đó, ví dụ nằm nghiêng một bên, ngẩng đầu nhìn một vật gì đó.

Nguyên nhân: Thoái hoá một trong các bộ phận của hệ tiền đình, viêm tai giữa, chấn thương mè lộ , tắcc nghẽn động mạch tiền đình.

Điều trị: Tránh những tư thế gây chóng mặt, thuốc chống nôn ói, chống một như trong phần 1.

Nếu không khỏi thực hiện phẫu thuật thần kinh số 8.

Bệnh Meniere (Meniere’s tlisease):

Triệu chứng: chóng mặt nhiều, nôn ói, ù tai, cảm giác tai bị đầy.

Nguyên nhân: Không rõ.

Điều trị: thuốc chống nôn ói, chóng mặt như trong phần 1.

+ Ai dễ bị chứng rối loạn tiền đình?

Rối loạn tiền đình dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, ngồi nhiều trong phòng máy lạnh và tiếp xúc thưừng xuyên với máy tính. Vì ngồi nhiều trong phòng máy lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh, lâu ngày gây co thắt động mạch cột sống, dẫn đến rối loạn tiền đình ngoại biên. Đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát nếu không được chú ý kỹ.

Người mắc chứng rối loạn tiền đình cần lưu ý:

Tập thể dục thường xuyên.

Ban đêm, để đèn ngủ sáng cho dễ quan sát sự vật chung quanh.

Không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi máy tính.

Hạn chế uống rượu, cà phê, thuốc lá.

Tránh tiếp xúc với các chất hoặc thực phẩm có mùi vị kích thích.

Tránh quay cổ hoặc đứng lên ngồi xuống quá nhanh.

Tránh lái xe hoặc điều khiển máy móc có động cơ mạnh nếu thường xuyên bị choáng váng.

Giảm căng thẳng, lo âu, hoảng hốt.

Tránh leo trèo cao.

Tránh đọc sách báo khi ngồi xe hơi.

Nên ngồi hoặc nằm ngay xuống khi cảm thấy chóng mặt.

Hợp tác với thầy thuốc để việc điều trị được tốt. Khi nào cần đi khám bệnh?

Mặc dù chóng mặt ít khi là triệu chứng của một bệnh lý trầm trọng, nhưng nếu thấy xuất hiện một trong các triệu chứng sau đây thì nên đi bác sĩ để được khám và xác định nguyên nhân ngay:

Cơn nhức đầu dột ngột;

Sốt từ 38 độ C trở lên;

Mờ mắt, không nhìn rõ sự vật, nhìn đôi, mất thị lực;

Giảm thính giác;

Mất định hướng không gian và thời gian;

Nói khó khăn;

Tay chán run rẩy, yếu;

Mất ý thức;

Cảm thấy lảo đảo, muốn té ngã;

Cảm giác tê các đầu ngón chân, ngón tay;

Đau tức ngực hoặc nhịp tim nhanh hay chậm bất thường.

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) là gì?

Bình thường, đường dẫn khí đem không khí đến cho phổi và đường dẫn khí ngày càng nhỏ dần như cành cây. Ở cuối mỗi cành nhỏ có nhiều túi khí, chứa đầy không khí, ở người bình thường, đường dẫn khí sạch và mở rộng. Do đó khí đi ra vào rất nhanh, rất dễ dàng.

Khi bị Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)

– Chronic Obstructive Pulmonary Disease) là khi:
– Đường dẫn khí hẹp lại do thành của đường dẫn khí dày lên và sưng phù.
– Đường dẫn khí bị các vòng cơ nhỏ bao quanh siết chặt lại gây tắc nghẽn.
– Đường dẫn khí tạo ra làm đờm người bệnh phải ho khạc ra.
– Các vách túi khí có thể bị tiêu hủy.

Bệnh phổi tắc nghẽn có nghĩa là đường dẫn khí của phổi bị tắc nghẽn một phần, mãn tính có nghĩa là không thể chữa dứt được.

Ai bị mắc BPTNMT?

– Hầu hết bệnh nhân mắc BPTNMT là do hút thuốc hoặc đà từng hút thuốc, hút thuốc loại nào cũng có thể gây ra BPTNMT được.

– Một số bệnh nhân BPTNMT do sống trong nhà đầy khói bếp.
– Một số bệnh nhân BPTNMT do làm nhiều năm trong những nơi rất bụi bặm hay rất nhiều khói.
– BPTNMT không lây, bạn không thể mắc BPTNMT từ người khác.
– Người lớn mới bị BPTNMT, trẻ em không bị bệnh này. Phần lớn bị BPTNMT ở độ tuổi lớn hơn 40.

Nhận biết BPTNMT ?

– Ở giai đoạn nhẹ:
– Bạn có thể ho nhiều. Đôi khi có khạc đờm, nhất là buổi sáng sớm.

+ Bạn cảm thấy hụt hơi khi làm nặng hoặc đi nhanh.

 

 

 

 

 

Rối loạn tiền đình và Điều trị túi phình động mạch não.

1. Điều trị túi phình động mạch não.

Điều trị dựa trên việc sửa chữa lại mạch máu bị tổn thương. Hai phương pháp thường dùng là kẹp (clipping) và đặt vòng (coiling).

Kẹp (clipping): Bác sĩ phẫu thuật thần kinh mổ sọ não hở, xác định vị trí mạch máu tổn thương và đặt một clip (kẹp mạch máu) ngang qua túi phình. Việc làm này sẽ ngăn máu không chảy vào túi phình nữa. Túi phình sẽ ngừng tăng trưởng và chấm dứt nguy cơ nứt vỏ gây xuất huyết .

Đặt giá đỡ hình vòng xoắn và bít túi phình (coiling): Bác sĩ X Quang can thiệp sau khi đã xác định vị trí của túi phình bằng chụp mạch máu cản quang sẽ luồn một giá đỡ dạng vòng xoắn và sợi bằng platin hoặc latex vào vị trí túi phình. Thủ thuật này sẽ ngăn chặn máu không tiếp tục chảy vào túi phình được nữa.

Cả 2 phương pháp trên đều có nguy cơ làm tổn thương mạch máu và gây xuất huyết nặng hơn, gây tổn thương các mô não kế cận, gây phản xạ co thắt mạch máu ở các động mạch chung quanh, gây thiếu máu não và gây tai biến mạch não. Do đó, trước, trong và sau phẫu thuật, phẫu thuật viên cần chú ý bảo vệ não và các mạch máu não không bị thêm những thương tổn khác.

Cần theo dõi đấu sinh tồn thường xuyên và đặt monitor theo đỏi hoạt động tim, phát hiện sớm các rối loạn nhịp. Có thể dùng thuốc để dự phòng co thắt mạch máu não, các cơn động kinh, trạng thái lo lắng bồn chồn và làm giảm đau.

2. RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH.

Tiền đình là vùng nằm ở phía sau ốc tai, là một hệ thống có vai trò quan trọng trong duy trì thăng bằng, phối hợp cử động mắt, đầu và thân mình.

Khả năng giữ thăng bằng cơ thể tùy thuộc vào các cảm giác đến từ ba vùng chính là mắt, tai trong và các thớ thịt, khớp xương. Bộ phận mê đạo và tiền đình ở tai trong có trách nhiệm cung cấp cho não bộ các cảm giác về tư thế, vị tri và sự xoay của cơ thể cũng như sự hiện diện các vật chung quanh. Các chuyển động như quay mình, nghiêng qua phải qua trái, tới phía trước phía sau, lên trên hay xuống dưới đều được các bộ phận này ghi nhận.

Não bộ tiếp nhận, phân tích, phôi hợp các tín hiệu này để giữ vững cơ thể. Khi não bộ không sử dụng được các tín hiệu này hoặc các tín hiệu không rõ rệt, trái ngược nhau thì ta sẽ bị mất thăng bằng. Say sóng khi đi tàu biển, chóng mặt khi ngồi xe là do cùng nguyên tắc. Ngồi trong máy bay gặp gió bão, máy bay chòng chành, ta không nhìn thấy thay đổi bên ngoài nhưng tai tiếp thu sự giao động, là thấy choáng váng, xay xẩm.

+ Biểu hiện của chứng rối loạn tiền đình.

Các triệu chứng mà bệnh nhân mô tả đều rất chung chung, mơ hồ về mức độ nặng nhẹ và thời gian mắc bệnh. Một số than phiến thường gặp là:

Cảm giác cơ thể mình hoặc sự vật chung quanh đang quay hoặc di dộng .

Mất thăng bằng, đi đứng không vững.

Phải vịn vào vật tựa nào đó mới đứng lên và bước tới được.

Đầu nhẹ lâng lâng.

Muốn xỉu, ngã. Yếu, mệt.

Kém tập trung.

Mắt mờ khi quay cổ, cử động đầu.

Buồn nôn, ói mửa.

Các triệu chứng xuất hiện bất thường trong một thời gian ngắn hoặc kéo dài lâu hơn.

Chú ý: Rối loạn tiền đình chỉ lã một trong những nguyên nhân của biểu hiện mất thăng bằng, xay xẩm, chóng mặt.

 

Phình động mạch não.

+ Nguyên nhân:

Não được nuôi bằng máu nhận từ các động mạch của lục giác Willis. Lục giác Willis nằm ở đáy não và có cấu trúc của một vòng tròn do các động mạch giao nhau tạo thành, từ đó phân thành nhiều nhánh đến khắp nơi trong não bộ.

Các động mạch này đem dưỡng chất đến cho tế bào não (glucose và oxygen). Các vị trí kết nối giữa các động mạch với nhau có thể trở thành điểm yếu.

Các điểm yếu này phình ra chứa đầy máu tạo thành các túi phình của mạch máu gọi là túi phình động mạch. Các túi phình này có thể bị nứt hoặc vỡ ra và gây chảy máu vào vừng mô chung quanh.

Trước kia các túi phình được cho là do bẩm sinh, hiện nay chúng được xem là hậu quả của các tổn thương vi mô trên thành các động mạch tạo bởi dòng chảy bất thường ở vị trí giao nhau của các động mạch.

Còn một số nguyên nhân hiếm gặp khác gây túi phình động mạch. Túi phình động mạch có thể do nấm ký sinh trên thành động mạch, u bướu và chấn thương cũng có thể gây nên túi phình động mạch.

Nghiện ma tuý, đặc biệt là cocaine, có thể gây viêm và làm suy yếu thành động mạch.

+ Triệu chứng bệnh:

Phình động mạch não là một bệnh lý thường gặp, 1% số trường hợp ngẫu nhiên phẫu tử thi cho thấy có phình động mạch nào. Đa số phình động mạch thường nhỏ, không gây biến chứng và không được phát hiện. Tuy nhiên một số khác có thể lớn dần, chèn ép nhu mô não và thần kinh chung quanh, gây các triệu chứng như:

– Nhức đầu: Nhức đầu dữ dội xảy ra khi nứt phình động mạch não. Máu kích thích nhu mô não và gây đau đớn nhiều. Bệnh nhân có thể mô tá rằng đây là một cơn đau đầu “tệ hại nhất xảy ra trong đời”. Khi đó bác sĩ cần phải nghĩ đến khả năng có phình động mạch não. Có thể kèm theo buồn nôn và nôn.

– Tê, hoặc yếu một bên mặt.

– Dãn đồng tử một bên.

– Thay đổi thị lực.

Điều đáng lo ngại nhất là khi nứt hoặc vỡ ra, các phình động mạch não có thể gây tai biến mạch não hoặc tử vong. Thường chảy máu vào màng nhện (một trong các màng bao não và ống tủy sống) và được gọi là xuất huyết dưới màng nhện. Xuất huyết dưới màng nhện có thể gây đau và cổ cứng.

+ Chẩn đoán phình động mạch não:

– Chẩn đoán phình động mạch não bắt đầu bằng ý thức cảnh giác cao độ của người thầy thuốc. Tiền sử có những cơn nhức đầu và sự xuất hiện cơn nhức đầu khủng khiếp nhất trong đời, kết hợp với dấu hiệu co cứng và tình trạng nặng của bệnh nhân khi thăm khám có thể giúp thầy thuốc cho chỉ định làm MSCT 64 lát cắt vùng đầu.

Kết quả sẽ cho thấy có xuất huyết dưới màng nhện ở 90% bệnh nhân vỡ phình động mạch não, ở một số ít trường hợp không phát hiện được bằng CT, bác sĩ sẽ tiến hành chọc dò tuỷ sống để xác định có mẫu chảy ỏ khoang dưới nhện và hoà vào dịch não tủy.

Nếu kết quả chụp MSCT hoặc chọc dò tuỷ sống phát hiện có xuất huyết, bệnh nhân sẽ được chụp động mạch não bằng SDA (chụp mạch máu xoá nền) để xác định vị trí túi phình và lên phương án điều trị. Các kỹ thuật mới kết hợp chụp mạch máu với CT hoặc MRI (cộng hưởng từ).

Dù các triệu chứng gợi ý nghĩ nhiều đến túi phình động mạch não, ta cũng nên lưu ý chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác có các triệu chứng và dấu hiệu thần kinh tương tự như nhức nửa đầu, viêm màng não, u não, tai biến mạch não (thuyên tắc, huyết tắc mạch não).

Dựa trên từng trường hợp, thầy thuốc sẽ quyết định việc chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng đế hỗ trợ chẩn đoán.

 

Viêm mào tinh hoàn.

Viêm mào tinh hoàn (MTH) là bệnh khá phổ biến ở nước ta và trên thế giới. Nếu điều trị không kịp thời, viêm MTH cấp tính sẽ biến thành viêm MTH mãn tính và có thể dẫn đến vô sinh ở nam giới.

Tuy nhiên, khi đã có bệnh, nam giới không nên tự ti và giấu bệnh. Ở Mỹ, hàng năm có tới 60.000 trường hợp mắc bệnh này, ở Pháp tỷ lệ này chiếm 20% tổng số người bệnh trong năm của khoa tiết niệu.

Tại Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ về các trường hợp mắc bệnh, chủ yếu vì lý do người bệnh ngại tới khám bộ phận này. Hơn nữa MTH thường bé, nằm sát tinh hoàn nên ít được quan tâm và thầy thuốc cũng thường ít chú ý nên dễ bỏ sót.

+ Nguyên nhân gây viêm MTH

Bệnh có thể xảy ra sau một chấn thương MTH hoặc do nước tiểu trào ngược dòng vào ống dẫn tinh. Phần lớn các trường hợp bị bệnh do nhiễm khuẩn qua các đường:

Nhiễm khuẩn qua đường tình dục.

– Lậu cầu trùng (gonocoque), đây là trường hợp hay gặp nhất.

– Chlamydia trachomatis: Từ cơ quan sinh dục nữ sang.

– Escherichia coli: Hay xảy ra ở nam giới có quan hệ đồng tính, chủ yếu do quan hệ tình dục qua đường hậu môn.

Nhiễm khuẩn từ đường tiết niệu – sinh dục lan tới.

Thường gặp ở nam giới trên 35 tuổi và trẻ trai trước tuổi dậy thì. Vi khuẩn gây bệnh thường là: vi khuẩn đường ruột E.coli, Pseudomonas, N.Meningitis, Coccidioide imitis…

Các chứng khác ít gặp hơn là trực khuẩn lao, ký sinh trùng giun chỉ, sán lá…

Vi khuẩn từ ống dẫn tinh bị viêm sau phẫu thuật lan tới MTH.

Cũng có khi do các dị tật bẩm sinh, tiết niệu sinh dục bị viêm nhiễm lan tới.

Bệnh khởi phát do viêm tế bào ống dẫn tinh lan tới MTH. Tới giai đoạn toàn phát MTH sưng tấy từ cực dưới lên cực trên. Nếu cắt ngang MTH sẽ thấy nhiều ổ áp-xe nhỏ dẫn tới viêm mủ toàn bộ MTH. Tinh hoàn lúc này cũng sưng to và sung huyết. Nếu điều trị kịp thời thì bệnh sẽ khỏi nhưng các tổ chức viêm xơ có thể làm bít tắc ống dẫn tinh gây nên bệnh vô sinh ở nam giới.

+ Phát hiện bệnh bằng cách nào?

Thường bệnh nhân đã có viêm niệu đạo hoặc tuyến tiền liệt cũ, nay xuất hiện cơn đau ở một bên bìu lan theo dọc thừng tinh lên vùng hạ vị. Bìu sưng to, lớp da bìu đỏ rực chỉ trong vòng 3-4 giờ, sờ vào thấy rất đau. Mào tinh hoàn to và rắn nhưng vẫn phân biệt được với tinh hoàn. Ranh giới sẽ mất đi và chỉ còn lại một khối phồng to nóng ran và đau. Nắn thừng tinh thấy sưng lên và có thể xuất hiện tràn dịch màng tinh hoàn, nếu thâm trực tràng thấy tuyến tiền liệt bị đau. Toàn thân có biểu hiện sốt cao lên tới 39-40 độ C hoặc hơn, có khi kèm theo rét run.

Trong chẩn đoán các bác sĩ cần phân biệt xoắn tinh hoàn (xoắn thừng tinh) với chấn thương tinh hoàn, viêm tinh hoàn do biến chứng quai bị. Bệnh nhân xoắn tinh hoàn thường la trẻ em, khi nâng bíu lén phía bụng thi đau tăng lên trong xoắn tinh hoàn còn nếu đau do viêm MTH thì thấy dịu đi.

Điều cần chú ý là nếu xoắn tinh hoàn thì phải mổ cấp cứu tháo xoắn, còn viêm MTH thì điều trị bảo tồn. Bệnh nhân chấn thương tinh hoàn thường có tiền sử chấn thương và tiểu tiện bình thường. Còn bệnh nhân viêm tinh hoàn do biến chứng quai bị thường có tiền sử viêm tuyến mang tai, người bệnh đi tiểu bình thường.

+ Điều trị viêm MTH cấp

Việc điều trị cho các bệnh nhân này phải khẩn trương kịp thời. Cần cho người bệnh nằm nghỉ ngơi, có gối kê dưới bìu cho êm, có băng treo cố định bìu để tránh di động mạnh. Bác sĩ cần cho xét nghiệm vi khuẩn và làm kháng sinh để dễ điều trị đúng hướng.

Các thuốc thường dùng điều trị bệnh này là Tetracyclin, eloxycyclin, probenecid, kalecin, uống kéo dài trong 3 tuần. Có thể dùng kết hợp với các loại steroid để ngừa chít hẹp ống dẫn tinh và có thể phóng bể novacain 1% vùng thừng tinh để giảm đau.

+ Viêm MTH chuyển sang mạn tinh khi nào?

Đó là hậu quả biến chứng của viêm MTH cấp. Các tổ chức của MTH bị xơ hóa làm chít hẹp từng đoạn hoặc toàn bộ ống dẫn tinh và MTH. Không sót và không đau nên người bệnh có thể tự sờ nắn thấy MTH xơ cứng, rắn hơn binh thường; thừng tinh cũng xơ cứng từng đoạn hoặc toàn bộ.

Viêm MTH mạn tinh dễ bị nhầm lẫn với một số bệnh như lao MTH và u MTH.

Để điều trị bệnh hiệu quả, bệnh nhân nên đến khoa tiết niệu của bệnh viện để được chẩn đoán bệnh chính xác, làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết thì mới mang lại kết quả như ý.

 

 

 

Điều trị vô sinh nam giới, bệnh phì đại tuyến tiền liệt.

+ Điều trị

– Nguyên tác:

Điều trị vô sinh nam giới cần dựa vào nguyên nhân.

– Điều trị nội khoa:

Điều trị kháng sinh đặc hiệu cho các trường hợp viêm nhiễm đường tiết niệu – sinh dục.

Dùng corticoiđ trong vô sinh có kháng thể kháng tinh trùng.

Điều chỉnh nội tiết tố trong các trường hợp có rối loạn nội tiết tố: Nhóm LH, nhóm FSH, nhóm androgen,
Điều trị rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh…

Dùng thuốc y học cổ truyền (một số bài thuốc bổ trợ).

– Điều trị ngoại khoa:

Phẫu thuật một sô bệnh gây ảnh hưởng đến đời sống tinh trùng:

Thắt tĩnh mạch tinh, hạ tinh hoàn, nước màng tinh hoàn.

Phẫu thuật tạo hình phục hồi đường dẫn tinh và dương vật:

Nối ống dẫn tinh – ống dẫn tinh, nối ông dẫn tinh – mào tinh hoàn.

Mổ dị tật lỗ đái, xơ cứng vật hang dương vật.

Cắt nội soi mở rộng ụ núi hoặc mở rộng cổ túi tinh trong những trường hợp bị chít hẹp không phóng xuất được tinh dịch.

Các phương pháp hỗ trự sinh sản: Thụ tinh nhân tạo (bơm tinh trùng vào buồng tử cung người vợ, thụ tinh trong ống nghiệm).

PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT

Phì đại tuyến tiền liệt là hiện tượng sinh lý bình thường của người cao tuổi nhưng khi đã có những triệu chứng bất thường thi cần phải nghĩ ngay đến một tình trạng bệnh lý… Và đây là căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi (50 – 60 tuổi trở lên).

+Chức năng của tuyến tiền liệt

Tuyến tiền liệt (TTL) là một bộ phận rất nhỏ và chỉ có ở năm giới, nawfm ngay dưới bàng quang
và trước trực tràng. Khi mới sinh thì TTL nặng khoảng vài gram nhưng đến tuổi trưởng thành do tác động của nội tiết tố nên có trọng lượng khoảng 20gam….

Chức năng của TTL phần lớn là sản xuất ra tinh dịch để vận chuyển tinh trùng. Thông thường tuổi càng cao thì TTL càng to ra nên gọi là phì đại TTL (u sơ TTL, bướu lành TTL). Đây là hiện tượng sinh lý thường của sự lão hóa cơ thể.

+ Ảnh hưởng của phì đại tuyến tiền liệt

Sự phì đại TTL chèn ép niệu đạo (ống tiểu) và gây nên những rối loạn về đi tiểu. Khi phát triển lớn, u sơ sẽ gây chèn ép làm bế tắc ống tiểu và đôi khi còn kèm đau khi tiểu tiện. Đây là lúc TTL có trạng thái bệnh nên mọi người cần phải chú ý.

+ Khi nào tuyến tiền liệt có vấn đề?

Thông thường những người cao tuổi bị phì đại TTL sinh lý do tuổi tác, nếu chỉ thấy những dấu hiệu nhẹ như hay tiểu tiện nhiều hơn so với thời trẻ thì chưa phải là bệnh nên không cần phải điều trị.

Tuy nhiên nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu như Tiểu gấp, đêm phải đi tiểu nhiều lần, phải rặn khởi động, tia nước tiểu yếu, tiểu xong có cảm giác là tiểu chưa hết, phải đi tiểu lại trong vòng chưa đầy 2 giờ, khó đi tiểu, tiểu đau buốt… thì đó là dấu hiệu bệnh lý nên cần phải đi khám ở bác sĩ chuyên khoa tiết niệu ngay. Khi khám thì bác sĩ có thể khám bằng cách thăm dò trực tiếp trực tràng, siêu âm, chụp hình hệ niệu có cản quang, làm các xét nghiệm tổng quát đế đánh giá tình trạng chung của người bệnh.

Các biến chứng có thê gặp của bướu lành tính TTL Sỏi bàng quang, nhiễm trùng niệu tái đi tái lại, bí tiểu mãn tính, suy giảm chức năng thận… và có thể suy thận.

+ Về điều trị

Sau khi bệnh nhân được khám, làm xét nghiệm và chẩn đoán thì bác sĩ sẽ cho biết là nên điều trị nội khoa hay phải phẫu thuật (dùng thuốc hay mổ). Ngày nay có nhiều loại thuốc giúp cải thiện đáng kể tình trạng rối loạn bí tiểu của người bệnh, cũng như (có nhiều phương pháp can thiệp ngoại khoa, Nói chung là tùy theo thể trạng người bệnh, kích thước bướu và bướu có gây biến chứng gì lên đường tiết niệu hay chưa… mà bác sĩ sẽ có hướng điều trị thích hợp.

Một điều cần lưu ý đối với người cao tuổi (từ 45 tuổi trở lên) ràng, bướu lành TTL là căn bệnh không thực sự nguy hiểm nhưng muốn điều trị hiệu quả, tránh biến chứng thì người bệnh cần phải đi khám bác sĩ thật sớm khi thấy có những triệu chứng như kể trên.

Tuyệt đối không nên tự mua thuốc và tự điều trị ở nhà thì bệnh càng nặng hơn, thậm chí còn nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng. Vì thực tế hiện nay, ngay cả khi đã mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời theo chỉ dẫn của thầy thuốc thì người bệnh vẫn có thể kéo dài tuổi thọ.

 

 

 

Vô sinh ở nam giới.

Một cặp vợ chồng mới cưới, có sức khỏe bình thường, sau 12 tháng chung sống, trong sinh hoạt tình dục không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào mà chưa có con được xếp vào nhóm vô sinh.

Vô sinh nam giới là vô sinh do nguyên nhân của người nam (có hay không kết hợp với nguyên nhân từ phía nữ giới).

Vô sinh 1: Người vợ chưa có thai lần nào.

Vô sinh 2: Người vợ đã có con hoặc đã xảy thai, đến nay không thể có con được. Về mặt tiên lượng, vô sinh II dễ điều trị hơn vô sinh 1. Nguyên nhân Có rất nhiều nguyên nhân gây vô sinh nam giới. Có thể chia thành các nhóm:

Yếu tố tình dục (rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh).

Nhiễm trùng hộ tiết niệu sinh dục: viêm tinh hoàn-mào tinh hoàn, viêm niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt…

+ Những bất thường bẩm sinh:

Các bất thường về nhiễm sắc thể giới tính (hội chứng Klinefelter và các biến thể của hội chứng này: 47XXY, 48XXXY).

Các khuyết tật về gen: hội chứng Kallinann, hội chứng Prader-Willi,…

+ Các yếu tố mắc phải:

-Nghiện rượu, hút thuốc lá, sau hoá trị liệu, nhiễm độc tia xạ,…

Giãn tĩnh mạch tinh.

Các rối loạn về nội tiết có Suy sinh dục (tại tinh hoàn và ngoài tinh hoàn), thiếu FSH đơn thuần, bài tiết nội tiết quá mức (sản xuất quá nhiều andropen, bài tiết estrogen quá mức)…

Các yếu tố miễn dịch: Kháng thể kháng tinh trùng gây hiện tượng ngưng kết và bất động tinh trùng.

– Các bất thường khác:

Tật không tinh hoàn, tinh hoàn không xuống bầu, tắc ống dẫn tinh, không ống dẫn tinh, hội chứng chỉ có tế bào Sertoli, cấu trúc bất thường của tinh trùng.

Tinh dịch bất thường tự phát (hội chứng OAT) hoặc không tìm thấy nguyên nhân.

+ Chẩn đoán, Lâm sàng:

– Tiền sử thói quen hút thuốc, uống rượu. nhiễm độc, tiếp xúc hoá chất,…

– Tiền sử hôn nhân và thai sản: Lấy vợ mấy năm, thời gian từ khi muốn có con đến nay….

– Tiền sử bệnh tật: Quai bị, bệnh mãn tính, bệnh viêm nhiễm- lây truyền qua đường tình dục,…

Đặc điểm nhu cầu sinh lý, sinh hoạt tình dục xem có rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh,…

Tiến sử gia đình về sinh sản: Trong gia đình có ai chậm con không?

Phía vợ: ĐÃ khám cho vợ chưa? Các bất thường liên quan đến sức khỏe sinh sản của người vợ. Nhu cầu đòi hỏi về sinh lý, tình hình kinh nguyệt (chu kỳ kinh, màu sắc kinh nguyệt, đaukhi có kinh), đau khi giao hợp,…

+ Khám bệnh

• Toàn thân: Trạng thái tinh thần kinh, hình dáng bên ngoài….

– Thực thể: Bệnh nội tiết, tim mạch, hệ tiết niệu.

– Tại chỗ: Bộ phận sinh dục ngoài: Dị tật (không có tinh hoàn trong bìu, lỗ đái thấp, cong vẹo dương vật, ), viêm nhiễm, chảy mủ hoặc dịch bất thường. Sờ thấy búi giãn tĩnh mạch tinh. Có sờ thấy ống dẫn tinh không?…

+ Cặn lâm sàng:

Xét nghiệm tinh dịch đồ: Đánh giá số lượng, tính chất vật lý của tinh dịch; số lượng và chất lượng tinh trùng.

Xét nghiệm sinh hoá tinh dịch: Túi tinh chứa nhiều fructose, tuyến tiền liệt chứa phosphatase acid và kẽm, mào tinh hoàn chứa carnitin. Dựa vào các đặc điểm này có thể chẩn đoán tắc đoạn nào của đường xuất tinh.

Xét nghiệm kháng thể kháng tinh trùng: Chú ý loại kháng thể và hiệu giá kháng thể.

Xét nghiệm đầy đủ 5 yếu tố nội tiết tố trong máu: LH, FSH, prolactin, estradiol, testoateron.

Xét nghiệm về di truyền học (về nhiễm sắc thể, về gen).

+ Xét nghiệm về mô học:

– Chọc hút dịch mào tinh hoàn tìm tinh trùng.

– Sinh thiết tinh hoàn (dùng kim sinh thiết hoặc mổ sinh thiết).

+ Chẩn đoán hình ảnh:

– Siêu âm hộ tiết niệu – sinh dục (lưu ý: Tuyến tiền liệt., túi tinh, tinh hoàn, mào tinh hoàn, tĩnh mạch tinh) xem có bất thường không? Có giãn tĩnh mạch tinh không? Đo kích thước tinh hoàn…

– Chụp ống dẫn tinh: Mục đích tìm chỗ tắc trên đường dẫn tinh.

 

Bệnh rận lông mu.

* Nguy cơ của tinh hoàn không xuống bìu:

+ Vô sinh: Những tinh hoàn không xuống bìu đcu có sự khiếm huyết cả số lượng và chất lượng tinh trùng. Số lượng tế bào mầm và ống sinh tinh giảm rỏ rệt so với tinh hoàn bình thường.

+ Ung thư tinh hoàn: Nguy cơ ung thư hóa tinh hòan oặp trong tinh hoàn không xuống bìu có tỷ lệ cao gấp 35-48 lần so với tinh hoàn binh thường.

– Nguy cơ ung thư tinh hoàn từng lên ở những trường hợp tinh hoàn ở vị trí cao trong ổ bụng do nhiệt độ ổ bụng cao hơn bìu.

* Cách điều trị;

– Đây là dị tật có thể sửa chữa bằng tiêm thuốc hormon hoặc phẫu thuật. Do vậy chỉ định điều trị nội hoặc ngoại khoa phụ thuộc vào mức độ và tuổi chẩn đoán sớm hay muộn.

– Điều trị ngoại khoa có nhiều ưu điểm đưa ngay tinh hoàn xuống bìu nhưng có thể làm thương tổn ống dẫn tinh, mạch máu nuôi tinh hoàn trong quá trình phẫu thuật.

– Các tai biến này sẽ làm cho tinh hoàn bị teo hoặc tắc ông dẫn tinh sau mổ. Những trường hợp tinh hoàn nằm cao trong ổ bụng rất khó hạ ngay xuống thì phải mổ.

– Điều trị nội khoa bằng hormon HCG có thể làm cho một số tinh hoàn di chuyển xuống bìu hoàn toàn, số còn lại nếu chỉ di chuyển một phần cũng làm cho phẫu thuật được dễ dàng hơn.

4. RẬN LÔNG MU

* Nguyên nhân:

– Rận lông mu là một loại ký sinh trùng rất nhỏ, màu vàng hung, bám sát vào chân lông mu, gây ngứa nhiều ở vùng xương mu và bộ phận sinh dục, thường lây nhiễm qua quan hệ tình dục với người có rận.

– Đàn ông dễ bị nhiễm rận mu hơn, có thể do lông trên cơ thể thô cứng hơn.

* Triệu chứng:

– Rận và trứng của chúng dính vào lông mu hoặc lông ở các vùng khác của cơ thể. Có thể thấy sưng hạch lymphô ở vùng bẹn, có thể thấy các vết xanh ánh bạc ở vị trí bị rận cắn.

Nhiễm rận thường gây ngứa, nhưng có khi lại không kèm triệu chứng nào cả.

* Nguyên nhân gây bệnh:

– Bệnh lây truyền qua tiếp xúc qua đường tình dục, hoặc qua áo quần, giường chiếu mùng mền, khăn lông nhiễm mầm bệnh.

* Phòng ngừa:

– Luôn tuân thủ các biện pháp an toàn tình dục, bao gồm cả việc tránh tiếp xúc thân mật với các bạn tình nhiễm rận mu.

* Chữa trị:

+ Bác sĩ có thể chỉ định cho uống thuốc hoặc bôi dung dịch. Đồng thời với việc điều trị cho bệnh nhân, còn điều trị tất cả các bạn tình của người bệnh.

+ Bác sĩ cần biết chắc chắn rằng tất cả những vùng có lông trên cơ thể đều đã được tiệt trừ rận
để ngăn ngừa tái phát.

+ Tránh quan hệ tình dục cho đến khi cả bệnh nhân lẫn bạn tình của mình đã được điều trị sạch
rận mu.

– Khi bị rận lông mu, cẩn thận trọng bởi rận có thể là dấu hiệu của một bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác, nhất là bệnh lậu. Hãy đến bệnh viện để khám và điều trị, không cần phải cạo lông, vì nếu cạo, lông vẫn mọc trở lại.