Bệnh Buerger (viêm thuyên tắc mạch máu) là gì?

• Ở giai đoạn trung bình:

+ Bạn có thể ho và khạc đàm nhiều hơn.

+ Bạn thường bị hụt hơi khi làm nặng hoặc đi nhanh.

+ Bạn thấy khó khăn nếu làm việc nặng hay các việc lặt vặt.

+ Bạn phải mất vài tuần mới phục hồi sau một đợt cảm hay nhiễm trùng.

– Ở giai đoạn nặng:

+ Bạn có thể ho nhiều hơn nữa và khạc ra nhiều đàm.

+ Bạn khó thở cả ngày lẫn đêm.

+ Bạn phải mất vài tuần mới phục hồi sau một đợt cảm hay nhiễm trùng phổi.

+ Bạn không thể đi làm hay làm các việc lặt vặt trong nhà được nữa.

+ Bạn không thể đi băng ngang qua phòng hay lên cầu thang được nữa.

+ Bạn dễ bị mệt.

– Chẩn đoán bệnh

Bạn nên đến bác sĩ khi bạn có vấn đề về hô hấp hay bị ho đã hơn 1 tháng. Phần lớn bệnh nhân đợi cho đến khi bệnh hô hấp nặng mới tìm đến bác sĩ. Họ không chú ý đến triệu chứng ho hay vấn đề về hô hấp trong nhiều năm.

Khi bạn có vấn đề về hô hấp, tìm gặp bác sĩ về BPTNMT càng sớm càng tốt. Bác sĩ sẽ khám cho bạn, hỏi về tình trạng hô hấp và sức khỏe của bạn, nhà ở và nơi làm việc của bạn. BPTNMT được chẩn đoán xác định bằng một xét nghiệm hô hấp đơn giản gọi là hô hấp ký.

Xét nghiệm này dễ làm và không đau. Bạn chỉ cần thổi mạnh vào một ống do gắn liền với máy hô hấp kế. Bác sĩ sẽ nói cho bạn biết BPTNMT của bạn đã nặng tới đâu.

Điều trị BPTNMT như thế nào?

– Bác sĩ không thể chữa lành được BPTNMT vì các tổn thương thường không thể hồi phục được (đường dẫn khí đã bị hóa xơ, chít bẹp, vách phế nang đã bị tiêu hủy).

– Nhưng bác sĩ có thể làm giảm triệu chứng và làm chạm hóa trình gây tổn hại ở phối bệnh nhân.

– Nếu tuân theo hướng dẫn của bác sĩ, bạn sẽ bớt khó thở hơn, bạn sẽ ít ho hơn, bạn sẽ khỏe mạnh hơn và phấn khởi hơn.

Bạn và gia đình có thể làm gì với BPTNMT ?

Có 6 việc nên làm:

1. Ngưng hút thuốc.

2. Đến bác sĩ ít nhất một năm hai lần, dùng thuốc theo cách mà bác sĩ yêu cầu.

3. Đến bệnh viện hoặc bác sĩ ngay khi bạn thấy khó thở hơn.

4. Đến giữ không khí trong nha thật sạch.

5. Giữ cho cơ thể khỏe mạnh.

6. Ráng sống tích cực tôi đa. Làm cho cuộc sống càng dễ chịu càng tốt.

VIÊM THUYÊN TẮC MẠCH MÁU

Bệnh Buerger (viêm thuyên tắc mạch máu) là gì?

– Bệnh Buerger là bệnh lý thường gặp ở động mạch, tĩnh mạch tay hoặc chân. Bệnh Buerger có độc điểm là sự phối hợp của phản ứng viêm và cục máu đông trong lòng mạch máu khiến lưu lượng máu bị suy giảm dẫn đến tổn thương và huỷ hoại mỡ, sau cùng là nhiễm trùng và hoại tử. Bệnh Buerger thường khởi phát ở bàn tay và bàn chân sau đó lan rộng đến những vùng khác của chi.

Bệnh Buerger hiện ít gặp ở Mỹ, nhưng lại gặp thường hơn ở vùng Trung Đông và Viễn Đông. Bệnh xảy ra nhiều nhất ở nam từ 20 đến 40 tuổi, trong khi số lượng bệnh nhân nữ cũng đang ngày càng tăng.

Hầu như tất cả bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Buerger đều hút thuốc hoặc dùng các sản phẩm chứa nicotine, như kẹo sing-gum có nicotine.

Bỏ tất cả các loại thuốc lá là con đường duy nhất để chặn đứng bệnh Buerger, ở những người không bỏ được thuốc lá, cắt đoạn một phần hoặc toàn bộ chi có thể cần phải thực hiện ở giai đoạn sau cùng.

+ Triệu chửng ưà dấu hiệu:

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh Buerger bao gồm:

– Đau, yếu cẳng chân và bàn chân, hoặc cẳng tay và bàn tay.

– Sưng bàn tay, bàn chán.

– Đi khập khiễng gián cách (intermittent claudication).

– Ngón tay và ngón chân tím tái khi bị lạnh (Hiện tượng Raynaud).

– Các vết loét ở ngón tay và ngón chân.

 

 

Nguyên nhân rối loạn tiền đình.

+ Nguyên nhân:

Có rất nhiều nguyên nhân, một số chưa rõ, tuỳ theo triệu chứng. Một số nguyên nhân thường gặp như sau:

Viêm thần kinh sọ não số 8, nhánh tiền đình (vcstibular neuritis). Đây là một tình trạng lành tính, hay tái phát thường do virus, hay gặp ở người trẻ tuổi hoặc trung niên. Lúc đầu có thể bị nôn, ói, rung giật nhãn cầu (nystagmus) về phía bên tai bị. Sau đó là nôn ói. Chứng này sẽ tự khỏi nhưng hay tái phát.

Bệnh nhân không bị ù tai, mất thính giác (hearing loss).

Xét Nghiệm: Ngoài việc khám lâm sàng thần kinh kỹ lưỡng nên làm thêm: caloric teeting: nhỏ nước lạnh, ấm vào tai để kích thích phản ứng rung giật nhãn cầu (nystngmus), điện ký rung giật nhãn cầu (electronystagmography), chụp MRI tai và não để loại trừ các bệnh nặng như: u bướu, u thần kinh thính giác (acoustic ncturoma), nhồi máu thân não, tiểu não.

Điều trị:

Thường do virus nên không có điều trị đặc hiệu.

Thuốc trị chóng mặt:

• Antivert (meclizine) các thuốc antihistamine khác, Anticholinergic (soopolamine).

– Tanganil (acetylDL-leucine).
– Nootropyl (piractttiim),
– Sere (betahistine)…

Những thuốc nêu trên chỉ có tính cách tham khảo, cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

Chóng mặt tư thế lành tính (Benign Paroxysmal Posítional Vertigo).

Đây cũng là một tình trạng lành tính, bệnh nhân chóng mặt khi ở một tư thế nào đó, ví dụ nằm nghiêng một bên, ngẩng đầu nhìn một vật gì đó.

Nguyên nhân: Thoái hoá một trong các bộ phận của hệ tiền đình, viêm tai giữa, chấn thương mè lộ , tắcc nghẽn động mạch tiền đình.

Điều trị: Tránh những tư thế gây chóng mặt, thuốc chống nôn ói, chống một như trong phần 1.

Nếu không khỏi thực hiện phẫu thuật thần kinh số 8.

Bệnh Meniere (Meniere’s tlisease):

Triệu chứng: chóng mặt nhiều, nôn ói, ù tai, cảm giác tai bị đầy.

Nguyên nhân: Không rõ.

Điều trị: thuốc chống nôn ói, chóng mặt như trong phần 1.

+ Ai dễ bị chứng rối loạn tiền đình?

Rối loạn tiền đình dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, ngồi nhiều trong phòng máy lạnh và tiếp xúc thưừng xuyên với máy tính. Vì ngồi nhiều trong phòng máy lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh, lâu ngày gây co thắt động mạch cột sống, dẫn đến rối loạn tiền đình ngoại biên. Đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát nếu không được chú ý kỹ.

Người mắc chứng rối loạn tiền đình cần lưu ý:

Tập thể dục thường xuyên.

Ban đêm, để đèn ngủ sáng cho dễ quan sát sự vật chung quanh.

Không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi máy tính.

Hạn chế uống rượu, cà phê, thuốc lá.

Tránh tiếp xúc với các chất hoặc thực phẩm có mùi vị kích thích.

Tránh quay cổ hoặc đứng lên ngồi xuống quá nhanh.

Tránh lái xe hoặc điều khiển máy móc có động cơ mạnh nếu thường xuyên bị choáng váng.

Giảm căng thẳng, lo âu, hoảng hốt.

Tránh leo trèo cao.

Tránh đọc sách báo khi ngồi xe hơi.

Nên ngồi hoặc nằm ngay xuống khi cảm thấy chóng mặt.

Hợp tác với thầy thuốc để việc điều trị được tốt. Khi nào cần đi khám bệnh?

Mặc dù chóng mặt ít khi là triệu chứng của một bệnh lý trầm trọng, nhưng nếu thấy xuất hiện một trong các triệu chứng sau đây thì nên đi bác sĩ để được khám và xác định nguyên nhân ngay:

Cơn nhức đầu dột ngột;

Sốt từ 38 độ C trở lên;

Mờ mắt, không nhìn rõ sự vật, nhìn đôi, mất thị lực;

Giảm thính giác;

Mất định hướng không gian và thời gian;

Nói khó khăn;

Tay chán run rẩy, yếu;

Mất ý thức;

Cảm thấy lảo đảo, muốn té ngã;

Cảm giác tê các đầu ngón chân, ngón tay;

Đau tức ngực hoặc nhịp tim nhanh hay chậm bất thường.

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) là gì?

Bình thường, đường dẫn khí đem không khí đến cho phổi và đường dẫn khí ngày càng nhỏ dần như cành cây. Ở cuối mỗi cành nhỏ có nhiều túi khí, chứa đầy không khí, ở người bình thường, đường dẫn khí sạch và mở rộng. Do đó khí đi ra vào rất nhanh, rất dễ dàng.

Khi bị Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)

– Chronic Obstructive Pulmonary Disease) là khi:
– Đường dẫn khí hẹp lại do thành của đường dẫn khí dày lên và sưng phù.
– Đường dẫn khí bị các vòng cơ nhỏ bao quanh siết chặt lại gây tắc nghẽn.
– Đường dẫn khí tạo ra làm đờm người bệnh phải ho khạc ra.
– Các vách túi khí có thể bị tiêu hủy.

Bệnh phổi tắc nghẽn có nghĩa là đường dẫn khí của phổi bị tắc nghẽn một phần, mãn tính có nghĩa là không thể chữa dứt được.

Ai bị mắc BPTNMT?

– Hầu hết bệnh nhân mắc BPTNMT là do hút thuốc hoặc đà từng hút thuốc, hút thuốc loại nào cũng có thể gây ra BPTNMT được.

– Một số bệnh nhân BPTNMT do sống trong nhà đầy khói bếp.
– Một số bệnh nhân BPTNMT do làm nhiều năm trong những nơi rất bụi bặm hay rất nhiều khói.
– BPTNMT không lây, bạn không thể mắc BPTNMT từ người khác.
– Người lớn mới bị BPTNMT, trẻ em không bị bệnh này. Phần lớn bị BPTNMT ở độ tuổi lớn hơn 40.

Nhận biết BPTNMT ?

– Ở giai đoạn nhẹ:
– Bạn có thể ho nhiều. Đôi khi có khạc đờm, nhất là buổi sáng sớm.

+ Bạn cảm thấy hụt hơi khi làm nặng hoặc đi nhanh.

 

 

 

 

 

Rối loạn tiền đình và Điều trị túi phình động mạch não.

1. Điều trị túi phình động mạch não.

Điều trị dựa trên việc sửa chữa lại mạch máu bị tổn thương. Hai phương pháp thường dùng là kẹp (clipping) và đặt vòng (coiling).

Kẹp (clipping): Bác sĩ phẫu thuật thần kinh mổ sọ não hở, xác định vị trí mạch máu tổn thương và đặt một clip (kẹp mạch máu) ngang qua túi phình. Việc làm này sẽ ngăn máu không chảy vào túi phình nữa. Túi phình sẽ ngừng tăng trưởng và chấm dứt nguy cơ nứt vỏ gây xuất huyết .

Đặt giá đỡ hình vòng xoắn và bít túi phình (coiling): Bác sĩ X Quang can thiệp sau khi đã xác định vị trí của túi phình bằng chụp mạch máu cản quang sẽ luồn một giá đỡ dạng vòng xoắn và sợi bằng platin hoặc latex vào vị trí túi phình. Thủ thuật này sẽ ngăn chặn máu không tiếp tục chảy vào túi phình được nữa.

Cả 2 phương pháp trên đều có nguy cơ làm tổn thương mạch máu và gây xuất huyết nặng hơn, gây tổn thương các mô não kế cận, gây phản xạ co thắt mạch máu ở các động mạch chung quanh, gây thiếu máu não và gây tai biến mạch não. Do đó, trước, trong và sau phẫu thuật, phẫu thuật viên cần chú ý bảo vệ não và các mạch máu não không bị thêm những thương tổn khác.

Cần theo dõi đấu sinh tồn thường xuyên và đặt monitor theo đỏi hoạt động tim, phát hiện sớm các rối loạn nhịp. Có thể dùng thuốc để dự phòng co thắt mạch máu não, các cơn động kinh, trạng thái lo lắng bồn chồn và làm giảm đau.

2. RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH.

Tiền đình là vùng nằm ở phía sau ốc tai, là một hệ thống có vai trò quan trọng trong duy trì thăng bằng, phối hợp cử động mắt, đầu và thân mình.

Khả năng giữ thăng bằng cơ thể tùy thuộc vào các cảm giác đến từ ba vùng chính là mắt, tai trong và các thớ thịt, khớp xương. Bộ phận mê đạo và tiền đình ở tai trong có trách nhiệm cung cấp cho não bộ các cảm giác về tư thế, vị tri và sự xoay của cơ thể cũng như sự hiện diện các vật chung quanh. Các chuyển động như quay mình, nghiêng qua phải qua trái, tới phía trước phía sau, lên trên hay xuống dưới đều được các bộ phận này ghi nhận.

Não bộ tiếp nhận, phân tích, phôi hợp các tín hiệu này để giữ vững cơ thể. Khi não bộ không sử dụng được các tín hiệu này hoặc các tín hiệu không rõ rệt, trái ngược nhau thì ta sẽ bị mất thăng bằng. Say sóng khi đi tàu biển, chóng mặt khi ngồi xe là do cùng nguyên tắc. Ngồi trong máy bay gặp gió bão, máy bay chòng chành, ta không nhìn thấy thay đổi bên ngoài nhưng tai tiếp thu sự giao động, là thấy choáng váng, xay xẩm.

+ Biểu hiện của chứng rối loạn tiền đình.

Các triệu chứng mà bệnh nhân mô tả đều rất chung chung, mơ hồ về mức độ nặng nhẹ và thời gian mắc bệnh. Một số than phiến thường gặp là:

Cảm giác cơ thể mình hoặc sự vật chung quanh đang quay hoặc di dộng .

Mất thăng bằng, đi đứng không vững.

Phải vịn vào vật tựa nào đó mới đứng lên và bước tới được.

Đầu nhẹ lâng lâng.

Muốn xỉu, ngã. Yếu, mệt.

Kém tập trung.

Mắt mờ khi quay cổ, cử động đầu.

Buồn nôn, ói mửa.

Các triệu chứng xuất hiện bất thường trong một thời gian ngắn hoặc kéo dài lâu hơn.

Chú ý: Rối loạn tiền đình chỉ lã một trong những nguyên nhân của biểu hiện mất thăng bằng, xay xẩm, chóng mặt.

 

Phình động mạch não.

+ Nguyên nhân:

Não được nuôi bằng máu nhận từ các động mạch của lục giác Willis. Lục giác Willis nằm ở đáy não và có cấu trúc của một vòng tròn do các động mạch giao nhau tạo thành, từ đó phân thành nhiều nhánh đến khắp nơi trong não bộ.

Các động mạch này đem dưỡng chất đến cho tế bào não (glucose và oxygen). Các vị trí kết nối giữa các động mạch với nhau có thể trở thành điểm yếu.

Các điểm yếu này phình ra chứa đầy máu tạo thành các túi phình của mạch máu gọi là túi phình động mạch. Các túi phình này có thể bị nứt hoặc vỡ ra và gây chảy máu vào vừng mô chung quanh.

Trước kia các túi phình được cho là do bẩm sinh, hiện nay chúng được xem là hậu quả của các tổn thương vi mô trên thành các động mạch tạo bởi dòng chảy bất thường ở vị trí giao nhau của các động mạch.

Còn một số nguyên nhân hiếm gặp khác gây túi phình động mạch. Túi phình động mạch có thể do nấm ký sinh trên thành động mạch, u bướu và chấn thương cũng có thể gây nên túi phình động mạch.

Nghiện ma tuý, đặc biệt là cocaine, có thể gây viêm và làm suy yếu thành động mạch.

+ Triệu chứng bệnh:

Phình động mạch não là một bệnh lý thường gặp, 1% số trường hợp ngẫu nhiên phẫu tử thi cho thấy có phình động mạch nào. Đa số phình động mạch thường nhỏ, không gây biến chứng và không được phát hiện. Tuy nhiên một số khác có thể lớn dần, chèn ép nhu mô não và thần kinh chung quanh, gây các triệu chứng như:

– Nhức đầu: Nhức đầu dữ dội xảy ra khi nứt phình động mạch não. Máu kích thích nhu mô não và gây đau đớn nhiều. Bệnh nhân có thể mô tá rằng đây là một cơn đau đầu “tệ hại nhất xảy ra trong đời”. Khi đó bác sĩ cần phải nghĩ đến khả năng có phình động mạch não. Có thể kèm theo buồn nôn và nôn.

– Tê, hoặc yếu một bên mặt.

– Dãn đồng tử một bên.

– Thay đổi thị lực.

Điều đáng lo ngại nhất là khi nứt hoặc vỡ ra, các phình động mạch não có thể gây tai biến mạch não hoặc tử vong. Thường chảy máu vào màng nhện (một trong các màng bao não và ống tủy sống) và được gọi là xuất huyết dưới màng nhện. Xuất huyết dưới màng nhện có thể gây đau và cổ cứng.

+ Chẩn đoán phình động mạch não:

– Chẩn đoán phình động mạch não bắt đầu bằng ý thức cảnh giác cao độ của người thầy thuốc. Tiền sử có những cơn nhức đầu và sự xuất hiện cơn nhức đầu khủng khiếp nhất trong đời, kết hợp với dấu hiệu co cứng và tình trạng nặng của bệnh nhân khi thăm khám có thể giúp thầy thuốc cho chỉ định làm MSCT 64 lát cắt vùng đầu.

Kết quả sẽ cho thấy có xuất huyết dưới màng nhện ở 90% bệnh nhân vỡ phình động mạch não, ở một số ít trường hợp không phát hiện được bằng CT, bác sĩ sẽ tiến hành chọc dò tuỷ sống để xác định có mẫu chảy ỏ khoang dưới nhện và hoà vào dịch não tủy.

Nếu kết quả chụp MSCT hoặc chọc dò tuỷ sống phát hiện có xuất huyết, bệnh nhân sẽ được chụp động mạch não bằng SDA (chụp mạch máu xoá nền) để xác định vị trí túi phình và lên phương án điều trị. Các kỹ thuật mới kết hợp chụp mạch máu với CT hoặc MRI (cộng hưởng từ).

Dù các triệu chứng gợi ý nghĩ nhiều đến túi phình động mạch não, ta cũng nên lưu ý chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác có các triệu chứng và dấu hiệu thần kinh tương tự như nhức nửa đầu, viêm màng não, u não, tai biến mạch não (thuyên tắc, huyết tắc mạch não).

Dựa trên từng trường hợp, thầy thuốc sẽ quyết định việc chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng đế hỗ trợ chẩn đoán.

 

Viêm mào tinh hoàn.

Viêm mào tinh hoàn (MTH) là bệnh khá phổ biến ở nước ta và trên thế giới. Nếu điều trị không kịp thời, viêm MTH cấp tính sẽ biến thành viêm MTH mãn tính và có thể dẫn đến vô sinh ở nam giới.

Tuy nhiên, khi đã có bệnh, nam giới không nên tự ti và giấu bệnh. Ở Mỹ, hàng năm có tới 60.000 trường hợp mắc bệnh này, ở Pháp tỷ lệ này chiếm 20% tổng số người bệnh trong năm của khoa tiết niệu.

Tại Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ về các trường hợp mắc bệnh, chủ yếu vì lý do người bệnh ngại tới khám bộ phận này. Hơn nữa MTH thường bé, nằm sát tinh hoàn nên ít được quan tâm và thầy thuốc cũng thường ít chú ý nên dễ bỏ sót.

+ Nguyên nhân gây viêm MTH

Bệnh có thể xảy ra sau một chấn thương MTH hoặc do nước tiểu trào ngược dòng vào ống dẫn tinh. Phần lớn các trường hợp bị bệnh do nhiễm khuẩn qua các đường:

Nhiễm khuẩn qua đường tình dục.

– Lậu cầu trùng (gonocoque), đây là trường hợp hay gặp nhất.

– Chlamydia trachomatis: Từ cơ quan sinh dục nữ sang.

– Escherichia coli: Hay xảy ra ở nam giới có quan hệ đồng tính, chủ yếu do quan hệ tình dục qua đường hậu môn.

Nhiễm khuẩn từ đường tiết niệu – sinh dục lan tới.

Thường gặp ở nam giới trên 35 tuổi và trẻ trai trước tuổi dậy thì. Vi khuẩn gây bệnh thường là: vi khuẩn đường ruột E.coli, Pseudomonas, N.Meningitis, Coccidioide imitis…

Các chứng khác ít gặp hơn là trực khuẩn lao, ký sinh trùng giun chỉ, sán lá…

Vi khuẩn từ ống dẫn tinh bị viêm sau phẫu thuật lan tới MTH.

Cũng có khi do các dị tật bẩm sinh, tiết niệu sinh dục bị viêm nhiễm lan tới.

Bệnh khởi phát do viêm tế bào ống dẫn tinh lan tới MTH. Tới giai đoạn toàn phát MTH sưng tấy từ cực dưới lên cực trên. Nếu cắt ngang MTH sẽ thấy nhiều ổ áp-xe nhỏ dẫn tới viêm mủ toàn bộ MTH. Tinh hoàn lúc này cũng sưng to và sung huyết. Nếu điều trị kịp thời thì bệnh sẽ khỏi nhưng các tổ chức viêm xơ có thể làm bít tắc ống dẫn tinh gây nên bệnh vô sinh ở nam giới.

+ Phát hiện bệnh bằng cách nào?

Thường bệnh nhân đã có viêm niệu đạo hoặc tuyến tiền liệt cũ, nay xuất hiện cơn đau ở một bên bìu lan theo dọc thừng tinh lên vùng hạ vị. Bìu sưng to, lớp da bìu đỏ rực chỉ trong vòng 3-4 giờ, sờ vào thấy rất đau. Mào tinh hoàn to và rắn nhưng vẫn phân biệt được với tinh hoàn. Ranh giới sẽ mất đi và chỉ còn lại một khối phồng to nóng ran và đau. Nắn thừng tinh thấy sưng lên và có thể xuất hiện tràn dịch màng tinh hoàn, nếu thâm trực tràng thấy tuyến tiền liệt bị đau. Toàn thân có biểu hiện sốt cao lên tới 39-40 độ C hoặc hơn, có khi kèm theo rét run.

Trong chẩn đoán các bác sĩ cần phân biệt xoắn tinh hoàn (xoắn thừng tinh) với chấn thương tinh hoàn, viêm tinh hoàn do biến chứng quai bị. Bệnh nhân xoắn tinh hoàn thường la trẻ em, khi nâng bíu lén phía bụng thi đau tăng lên trong xoắn tinh hoàn còn nếu đau do viêm MTH thì thấy dịu đi.

Điều cần chú ý là nếu xoắn tinh hoàn thì phải mổ cấp cứu tháo xoắn, còn viêm MTH thì điều trị bảo tồn. Bệnh nhân chấn thương tinh hoàn thường có tiền sử chấn thương và tiểu tiện bình thường. Còn bệnh nhân viêm tinh hoàn do biến chứng quai bị thường có tiền sử viêm tuyến mang tai, người bệnh đi tiểu bình thường.

+ Điều trị viêm MTH cấp

Việc điều trị cho các bệnh nhân này phải khẩn trương kịp thời. Cần cho người bệnh nằm nghỉ ngơi, có gối kê dưới bìu cho êm, có băng treo cố định bìu để tránh di động mạnh. Bác sĩ cần cho xét nghiệm vi khuẩn và làm kháng sinh để dễ điều trị đúng hướng.

Các thuốc thường dùng điều trị bệnh này là Tetracyclin, eloxycyclin, probenecid, kalecin, uống kéo dài trong 3 tuần. Có thể dùng kết hợp với các loại steroid để ngừa chít hẹp ống dẫn tinh và có thể phóng bể novacain 1% vùng thừng tinh để giảm đau.

+ Viêm MTH chuyển sang mạn tinh khi nào?

Đó là hậu quả biến chứng của viêm MTH cấp. Các tổ chức của MTH bị xơ hóa làm chít hẹp từng đoạn hoặc toàn bộ ống dẫn tinh và MTH. Không sót và không đau nên người bệnh có thể tự sờ nắn thấy MTH xơ cứng, rắn hơn binh thường; thừng tinh cũng xơ cứng từng đoạn hoặc toàn bộ.

Viêm MTH mạn tinh dễ bị nhầm lẫn với một số bệnh như lao MTH và u MTH.

Để điều trị bệnh hiệu quả, bệnh nhân nên đến khoa tiết niệu của bệnh viện để được chẩn đoán bệnh chính xác, làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết thì mới mang lại kết quả như ý.

 

 

 

Điều trị vô sinh nam giới, bệnh phì đại tuyến tiền liệt.

+ Điều trị

– Nguyên tác:

Điều trị vô sinh nam giới cần dựa vào nguyên nhân.

– Điều trị nội khoa:

Điều trị kháng sinh đặc hiệu cho các trường hợp viêm nhiễm đường tiết niệu – sinh dục.

Dùng corticoiđ trong vô sinh có kháng thể kháng tinh trùng.

Điều chỉnh nội tiết tố trong các trường hợp có rối loạn nội tiết tố: Nhóm LH, nhóm FSH, nhóm androgen,
Điều trị rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh…

Dùng thuốc y học cổ truyền (một số bài thuốc bổ trợ).

– Điều trị ngoại khoa:

Phẫu thuật một sô bệnh gây ảnh hưởng đến đời sống tinh trùng:

Thắt tĩnh mạch tinh, hạ tinh hoàn, nước màng tinh hoàn.

Phẫu thuật tạo hình phục hồi đường dẫn tinh và dương vật:

Nối ống dẫn tinh – ống dẫn tinh, nối ông dẫn tinh – mào tinh hoàn.

Mổ dị tật lỗ đái, xơ cứng vật hang dương vật.

Cắt nội soi mở rộng ụ núi hoặc mở rộng cổ túi tinh trong những trường hợp bị chít hẹp không phóng xuất được tinh dịch.

Các phương pháp hỗ trự sinh sản: Thụ tinh nhân tạo (bơm tinh trùng vào buồng tử cung người vợ, thụ tinh trong ống nghiệm).

PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT

Phì đại tuyến tiền liệt là hiện tượng sinh lý bình thường của người cao tuổi nhưng khi đã có những triệu chứng bất thường thi cần phải nghĩ ngay đến một tình trạng bệnh lý… Và đây là căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi (50 – 60 tuổi trở lên).

+Chức năng của tuyến tiền liệt

Tuyến tiền liệt (TTL) là một bộ phận rất nhỏ và chỉ có ở năm giới, nawfm ngay dưới bàng quang
và trước trực tràng. Khi mới sinh thì TTL nặng khoảng vài gram nhưng đến tuổi trưởng thành do tác động của nội tiết tố nên có trọng lượng khoảng 20gam….

Chức năng của TTL phần lớn là sản xuất ra tinh dịch để vận chuyển tinh trùng. Thông thường tuổi càng cao thì TTL càng to ra nên gọi là phì đại TTL (u sơ TTL, bướu lành TTL). Đây là hiện tượng sinh lý thường của sự lão hóa cơ thể.

+ Ảnh hưởng của phì đại tuyến tiền liệt

Sự phì đại TTL chèn ép niệu đạo (ống tiểu) và gây nên những rối loạn về đi tiểu. Khi phát triển lớn, u sơ sẽ gây chèn ép làm bế tắc ống tiểu và đôi khi còn kèm đau khi tiểu tiện. Đây là lúc TTL có trạng thái bệnh nên mọi người cần phải chú ý.

+ Khi nào tuyến tiền liệt có vấn đề?

Thông thường những người cao tuổi bị phì đại TTL sinh lý do tuổi tác, nếu chỉ thấy những dấu hiệu nhẹ như hay tiểu tiện nhiều hơn so với thời trẻ thì chưa phải là bệnh nên không cần phải điều trị.

Tuy nhiên nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu như Tiểu gấp, đêm phải đi tiểu nhiều lần, phải rặn khởi động, tia nước tiểu yếu, tiểu xong có cảm giác là tiểu chưa hết, phải đi tiểu lại trong vòng chưa đầy 2 giờ, khó đi tiểu, tiểu đau buốt… thì đó là dấu hiệu bệnh lý nên cần phải đi khám ở bác sĩ chuyên khoa tiết niệu ngay. Khi khám thì bác sĩ có thể khám bằng cách thăm dò trực tiếp trực tràng, siêu âm, chụp hình hệ niệu có cản quang, làm các xét nghiệm tổng quát đế đánh giá tình trạng chung của người bệnh.

Các biến chứng có thê gặp của bướu lành tính TTL Sỏi bàng quang, nhiễm trùng niệu tái đi tái lại, bí tiểu mãn tính, suy giảm chức năng thận… và có thể suy thận.

+ Về điều trị

Sau khi bệnh nhân được khám, làm xét nghiệm và chẩn đoán thì bác sĩ sẽ cho biết là nên điều trị nội khoa hay phải phẫu thuật (dùng thuốc hay mổ). Ngày nay có nhiều loại thuốc giúp cải thiện đáng kể tình trạng rối loạn bí tiểu của người bệnh, cũng như (có nhiều phương pháp can thiệp ngoại khoa, Nói chung là tùy theo thể trạng người bệnh, kích thước bướu và bướu có gây biến chứng gì lên đường tiết niệu hay chưa… mà bác sĩ sẽ có hướng điều trị thích hợp.

Một điều cần lưu ý đối với người cao tuổi (từ 45 tuổi trở lên) ràng, bướu lành TTL là căn bệnh không thực sự nguy hiểm nhưng muốn điều trị hiệu quả, tránh biến chứng thì người bệnh cần phải đi khám bác sĩ thật sớm khi thấy có những triệu chứng như kể trên.

Tuyệt đối không nên tự mua thuốc và tự điều trị ở nhà thì bệnh càng nặng hơn, thậm chí còn nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng. Vì thực tế hiện nay, ngay cả khi đã mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời theo chỉ dẫn của thầy thuốc thì người bệnh vẫn có thể kéo dài tuổi thọ.

 

 

 

Vô sinh ở nam giới.

Một cặp vợ chồng mới cưới, có sức khỏe bình thường, sau 12 tháng chung sống, trong sinh hoạt tình dục không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào mà chưa có con được xếp vào nhóm vô sinh.

Vô sinh nam giới là vô sinh do nguyên nhân của người nam (có hay không kết hợp với nguyên nhân từ phía nữ giới).

Vô sinh 1: Người vợ chưa có thai lần nào.

Vô sinh 2: Người vợ đã có con hoặc đã xảy thai, đến nay không thể có con được. Về mặt tiên lượng, vô sinh II dễ điều trị hơn vô sinh 1. Nguyên nhân Có rất nhiều nguyên nhân gây vô sinh nam giới. Có thể chia thành các nhóm:

Yếu tố tình dục (rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh).

Nhiễm trùng hộ tiết niệu sinh dục: viêm tinh hoàn-mào tinh hoàn, viêm niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt…

+ Những bất thường bẩm sinh:

Các bất thường về nhiễm sắc thể giới tính (hội chứng Klinefelter và các biến thể của hội chứng này: 47XXY, 48XXXY).

Các khuyết tật về gen: hội chứng Kallinann, hội chứng Prader-Willi,…

+ Các yếu tố mắc phải:

-Nghiện rượu, hút thuốc lá, sau hoá trị liệu, nhiễm độc tia xạ,…

Giãn tĩnh mạch tinh.

Các rối loạn về nội tiết có Suy sinh dục (tại tinh hoàn và ngoài tinh hoàn), thiếu FSH đơn thuần, bài tiết nội tiết quá mức (sản xuất quá nhiều andropen, bài tiết estrogen quá mức)…

Các yếu tố miễn dịch: Kháng thể kháng tinh trùng gây hiện tượng ngưng kết và bất động tinh trùng.

– Các bất thường khác:

Tật không tinh hoàn, tinh hoàn không xuống bầu, tắc ống dẫn tinh, không ống dẫn tinh, hội chứng chỉ có tế bào Sertoli, cấu trúc bất thường của tinh trùng.

Tinh dịch bất thường tự phát (hội chứng OAT) hoặc không tìm thấy nguyên nhân.

+ Chẩn đoán, Lâm sàng:

– Tiền sử thói quen hút thuốc, uống rượu. nhiễm độc, tiếp xúc hoá chất,…

– Tiền sử hôn nhân và thai sản: Lấy vợ mấy năm, thời gian từ khi muốn có con đến nay….

– Tiền sử bệnh tật: Quai bị, bệnh mãn tính, bệnh viêm nhiễm- lây truyền qua đường tình dục,…

Đặc điểm nhu cầu sinh lý, sinh hoạt tình dục xem có rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh,…

Tiến sử gia đình về sinh sản: Trong gia đình có ai chậm con không?

Phía vợ: ĐÃ khám cho vợ chưa? Các bất thường liên quan đến sức khỏe sinh sản của người vợ. Nhu cầu đòi hỏi về sinh lý, tình hình kinh nguyệt (chu kỳ kinh, màu sắc kinh nguyệt, đaukhi có kinh), đau khi giao hợp,…

+ Khám bệnh

• Toàn thân: Trạng thái tinh thần kinh, hình dáng bên ngoài….

– Thực thể: Bệnh nội tiết, tim mạch, hệ tiết niệu.

– Tại chỗ: Bộ phận sinh dục ngoài: Dị tật (không có tinh hoàn trong bìu, lỗ đái thấp, cong vẹo dương vật, ), viêm nhiễm, chảy mủ hoặc dịch bất thường. Sờ thấy búi giãn tĩnh mạch tinh. Có sờ thấy ống dẫn tinh không?…

+ Cặn lâm sàng:

Xét nghiệm tinh dịch đồ: Đánh giá số lượng, tính chất vật lý của tinh dịch; số lượng và chất lượng tinh trùng.

Xét nghiệm sinh hoá tinh dịch: Túi tinh chứa nhiều fructose, tuyến tiền liệt chứa phosphatase acid và kẽm, mào tinh hoàn chứa carnitin. Dựa vào các đặc điểm này có thể chẩn đoán tắc đoạn nào của đường xuất tinh.

Xét nghiệm kháng thể kháng tinh trùng: Chú ý loại kháng thể và hiệu giá kháng thể.

Xét nghiệm đầy đủ 5 yếu tố nội tiết tố trong máu: LH, FSH, prolactin, estradiol, testoateron.

Xét nghiệm về di truyền học (về nhiễm sắc thể, về gen).

+ Xét nghiệm về mô học:

– Chọc hút dịch mào tinh hoàn tìm tinh trùng.

– Sinh thiết tinh hoàn (dùng kim sinh thiết hoặc mổ sinh thiết).

+ Chẩn đoán hình ảnh:

– Siêu âm hộ tiết niệu – sinh dục (lưu ý: Tuyến tiền liệt., túi tinh, tinh hoàn, mào tinh hoàn, tĩnh mạch tinh) xem có bất thường không? Có giãn tĩnh mạch tinh không? Đo kích thước tinh hoàn…

– Chụp ống dẫn tinh: Mục đích tìm chỗ tắc trên đường dẫn tinh.

 

Bệnh rận lông mu.

* Nguy cơ của tinh hoàn không xuống bìu:

+ Vô sinh: Những tinh hoàn không xuống bìu đcu có sự khiếm huyết cả số lượng và chất lượng tinh trùng. Số lượng tế bào mầm và ống sinh tinh giảm rỏ rệt so với tinh hoàn bình thường.

+ Ung thư tinh hoàn: Nguy cơ ung thư hóa tinh hòan oặp trong tinh hoàn không xuống bìu có tỷ lệ cao gấp 35-48 lần so với tinh hoàn binh thường.

– Nguy cơ ung thư tinh hoàn từng lên ở những trường hợp tinh hoàn ở vị trí cao trong ổ bụng do nhiệt độ ổ bụng cao hơn bìu.

* Cách điều trị;

– Đây là dị tật có thể sửa chữa bằng tiêm thuốc hormon hoặc phẫu thuật. Do vậy chỉ định điều trị nội hoặc ngoại khoa phụ thuộc vào mức độ và tuổi chẩn đoán sớm hay muộn.

– Điều trị ngoại khoa có nhiều ưu điểm đưa ngay tinh hoàn xuống bìu nhưng có thể làm thương tổn ống dẫn tinh, mạch máu nuôi tinh hoàn trong quá trình phẫu thuật.

– Các tai biến này sẽ làm cho tinh hoàn bị teo hoặc tắc ông dẫn tinh sau mổ. Những trường hợp tinh hoàn nằm cao trong ổ bụng rất khó hạ ngay xuống thì phải mổ.

– Điều trị nội khoa bằng hormon HCG có thể làm cho một số tinh hoàn di chuyển xuống bìu hoàn toàn, số còn lại nếu chỉ di chuyển một phần cũng làm cho phẫu thuật được dễ dàng hơn.

4. RẬN LÔNG MU

* Nguyên nhân:

– Rận lông mu là một loại ký sinh trùng rất nhỏ, màu vàng hung, bám sát vào chân lông mu, gây ngứa nhiều ở vùng xương mu và bộ phận sinh dục, thường lây nhiễm qua quan hệ tình dục với người có rận.

– Đàn ông dễ bị nhiễm rận mu hơn, có thể do lông trên cơ thể thô cứng hơn.

* Triệu chứng:

– Rận và trứng của chúng dính vào lông mu hoặc lông ở các vùng khác của cơ thể. Có thể thấy sưng hạch lymphô ở vùng bẹn, có thể thấy các vết xanh ánh bạc ở vị trí bị rận cắn.

Nhiễm rận thường gây ngứa, nhưng có khi lại không kèm triệu chứng nào cả.

* Nguyên nhân gây bệnh:

– Bệnh lây truyền qua tiếp xúc qua đường tình dục, hoặc qua áo quần, giường chiếu mùng mền, khăn lông nhiễm mầm bệnh.

* Phòng ngừa:

– Luôn tuân thủ các biện pháp an toàn tình dục, bao gồm cả việc tránh tiếp xúc thân mật với các bạn tình nhiễm rận mu.

* Chữa trị:

+ Bác sĩ có thể chỉ định cho uống thuốc hoặc bôi dung dịch. Đồng thời với việc điều trị cho bệnh nhân, còn điều trị tất cả các bạn tình của người bệnh.

+ Bác sĩ cần biết chắc chắn rằng tất cả những vùng có lông trên cơ thể đều đã được tiệt trừ rận
để ngăn ngừa tái phát.

+ Tránh quan hệ tình dục cho đến khi cả bệnh nhân lẫn bạn tình của mình đã được điều trị sạch
rận mu.

– Khi bị rận lông mu, cẩn thận trọng bởi rận có thể là dấu hiệu của một bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác, nhất là bệnh lậu. Hãy đến bệnh viện để khám và điều trị, không cần phải cạo lông, vì nếu cạo, lông vẫn mọc trở lại.

Triệu chứng bệnh liệt chân tay và bệnh lạc tinh hoàn.

+Triệu chứng:

– Một khi não đã bị tổn thương thì hiện tượng liệt tay, chân là việc ắt phải xảy ra. Bệnh nhân không cử động được một bên tay, chân khác bên với bán cầu não bị tổn thương) và thường kèm theo cá hiện tượng liệt mặt.

– Trường hợp nhẹ, bệnh nhân còn hơi cử động được chân, tay bên bị liệt nhưng sức lực ở bên này kém hẳn so với bên kia. Cũng có trường hợp nhẹ hơn, bệnh nhân chỉ bị liệt một tay hoặc một chân thôi. Bị chấn thương nặng ở cột sống có thể làm cho cả 2 chân bị liệt.

– Ở đàn ông, dương vật có thể vẫn còn khả năng cương cứng nhưng thường bị rối loạn về tiểu tiện và ddại tiện, không tự chủ được nữa. Hiện tượng chỉ có một chi bị liệt có thể do có một dây thần kinh hoặc gốc một dây thần kinh bị tổn thương ở đoạn vừa ra khỏi tủy sống. Sự rối loạn về việc nói và nuốt thường do những khuyết tật bẩm sinh.

+ Cấn phải làm gi?

– Hiện tượng bị liệt đột ngột, dù nhẹ, cũng cần phải tới bác sĩ để khám bệnh ngay. Đôi khi, sự rối loạn nhẹ này lại là biểu hiện của hiện tượng tắc nghẽn mạch máu não, bởi vậy phải tới bác sĩ ngay. Nếu bệnh nhân bị sặc khi uống nước, cần ngưng không cho uống tiếp để bác sĩ xác định xem có bị chứng nuốt sai đường không.

+ Chẩn đoán và điều trị:

– Dù bị liệt nhẹ hay nặng, bác sĩ cũng sẽ đo huyết áp và X-quang não để xem xét toàn bộ não.

– Bác sĩ có thể yêu cầu làm thêm một số xét nghiệm sau. Chụp X-quang sọ não và cột sống, chụp scanner 3 chiều sọ, não; thử máu, siêu âm các mạch cổ. Đôi khi phải chọc cột sống để lấy dịch tủy, dùng dòng điện thử phản ửng dây thần kinh, cơ bắp.

– Việc phục hồi chức năng của não có được hoàn toàn hay không phụ thuộc vào vị trí ở não và diện tích não bị tổn thương. Hiện tượng bị liệt có thể do một số nguyên nhân sau:

+ Bị chấn thương ở sọ não gây xuất huyết, tụ máu ở não, hoặc ở cột sống làm giập, gãy hoặc tụ
máu ở cột sống.

+ Hiện tượng bị liệt ở người trên 50 tuổi thường do tai biến mạch máu não, tắc mạch, xuất huyết, tụ máu ở não.

+ Ở người trẻ, thường do tắc mạch não. Vật cản có thể đến não từ tim, từ một mạch máu, từ một điểm tụ máu.

+ Hiện tượng liệt các dây thần kinh ngoại biên có thể do virus, do bị ngộ độc rượu hoặc chất kích thích khác, do bị căng thẳng thần kinh, do vẩy trong máu. Ở lớp người trẻ, hiện tượng này thường làm cho phần vỏ các dây thần kinh bị suy thoái dẫn tới sự tê liệt trong thời gian ngắn hoặc các giác quan bị rối loạn, kém nhạy cảm.

3. LẠC TINH HOÀN

– Lạc tinh hoàn còn gọi là hiện tượng tinh hoàn không xuống bìu hay tinh hoàn ẩn, là thuật ngữ đước dùng để chỉ các trường hợp tinh hoàn không nằm ở bìu do bị đứng lại bất thường trên đường di chuyển bình thường từ ở bụng xuống bìu, bị lạc chỗ hoặc tinh hoàn dao động. Tinh hoàn ẩn có thể một bên hoặc hai bên.

+ Nguyên nhân gây ra hiện tượng tinh hoàn không Xuống bìu:

– Sự trở ngại của dây chằng và ống bẹn đều có thể làm hạn chế sự di chuyển của tinh hoàn hoặc
dẫn đến tinh hoàn lạc chỗ ở vị trí bất thường.

– Nguyên nhân do chính bản thân tinh hoàn, thường gặp trong những bất thường nhiễm sắc thể 46, XXY, hoặc có thể phối hợp với nhiều hội chứng dị dạng khác.

– Do tổn thương trục dưới đổi – yên – sinh dục ở bệnh nhân. Khi bệnh nhân mắc các hội chứng: Kallmann, Prader-wilii Labhart, quái thai không não, suy tuyến yên do trục dưới đồi – yên – sinh dục bị tổn thương hoặc không bình thường về cấu trúc đều là những nguyên nhân khiến tinh hoàn không xuống bìu.

 

 

Bệnh viêm não cấp và liệt chân tay.

1. VIÊM NÃO CẤP

+ Nguyên nhân:

– Đây là trường hợp não, thường là màng não, bị viêm nhiễm và sưng lên do virus. Virus có thể làm não sưng phù lên và gây ra sự hủy hoại các tế bào não.

– Có nhiều loại virus có thể gây ra bệnh phù não cấp, có loại thường xuất hiện ở mùa hè (togavirus) , có loại về mùa đông (như paramyxovirus). Ngoài ra còn phải kể cả các virus của một số bệnh như bệnh ban đỏ, bệnh thủy đậu, bệnh mụn rộp Herpès.

– Có nhiều trường hợp bệnh nặng, nhẹ khác nhau. Có trường hợp, chỉ 1 – 2 tuần là bệnh nhân đã khỏi hẳn mà không có hậu quả gì. Lại có trường hợp căn bệnh kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, để lại cho bệnh nhân những hậu quả trầm trọng về thần kinh. Một số bệnh nhân bị phù não không tránh được tử vong.

– Không có cách chữa trị nào thật hiệu quả để chống lại các virus gây bệnh phù não, trừ trường hợp bệnh do virus Herpès gây ra. Bởi vậy, cần phải phát hiện virus thật nhanh và điều trị bệnh ngay mới hy vọng qua khỏi.

– Bệnh phù não dễ bị nhầm với một số bệnh về não khác kể cà bệnh sốt rét. Những bệnh này đều có thể chữa trị khỏi.

+ Triệu chứng:

– Bệnh thường phát sinh đột ngột làm người bệnh đau đầu, viêm xoang – họng, sốt mê man, tinh thần không minh mẫn, người co giật và có hiện tượng gáy bị cứng.

– Có một số trường hợp, bệnh phù não gây ra hiện tượng tê liệt, mất khả năng nói, viết, không phối hợp được chân, tay khi cử động, các giác quan và trí nhớ bị suy giảm.

+ Cần phải làm gì?

– Khi thấy người bệnh có những triệu chứng về não như: Đau đầu, sợ ánh sáng, nôn ói, cứng cáy, cần phải cấp tốc đưa tới bác sĩ ngay vì có thể là bị đau màng não hoặc phù não. Việc khám bệnh và xác định được bệnh để điều trị càng sớm càng có nhiều hy vọng khỏi bệnh.

+ Chẩn đoán và điều trị:

– Nhận thấy những triệu chứng đặc biệt của bệnh về não, bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân phải nhập viện.
Sau đó, để xác định bệnh, bác sĩ có thể sẽ thực hiện những xét nghiệm sau đây: chụp X-quang sọ, chụp scanner não, thử máu và nếu thấy cần có thể phải chọc hút lấy nước não tủy để tìm virus. Trường hợp biết chắc chắn bệnh do virus Herpès gây ra, bác sĩ sẽ tiến hành điểu trị cấp tốc bằng các thuốc phù hợp để diệt virus.

– Bệnh viêm não không do virus gây ra thì có thể trị khỏi. Nếu bệnh do virus gây ra nhưng không phát triển thành nặng thì người bệnh cũng có cơ may qua khỏi.

2. LIỆT CHÂN TAY

+ Nguyên nhân:

– Đây là hiện tượng các cơ bắp ở tay, ở chân hoặc ở cả tay – chân không còn duy trì được chức năng của mình nữa. Nếu chỉ ở một bên thường được dân gian gọi là: bốn thân bất toại. Nếu ở bên phải thường có kèm theo rối loạn về nói – hiểu.

– Sức lực của cơ bắp và sự hoạt động của chân tay phụ thuộc vào một chuỗi các tế bào thần kinh xuất phát từ não để đi tới các cơ bắp. Các hiệu lệnh được phát ra từ vỏ não ở vùng trán. Các tế bào thần kinh điều khiển các hoạt động của đầu và 2 tay là loại tế bào rất phát triển. Suốt dọc cột sống có nhiều trạm để các tế bào chuyển tiếp các tín hiệu cho nhau, cho tới khi đến các cơ bắp.

– Nếu não bị tổn thương (do khôi u, tai biến mạch máu,) thì một bên cơ thể sẽ bị liệt. Bị tổn thương bên trái não thì bị liệt cơ thể bên phải và ngược lại, tổn thương bên phải thì liệt bên trái. Não bị tổn thương càng nặng thì tình trạng liệt càng trầm trọng. Bị uổn thương ở phần trên cột sống,ưở cổ sẽ dẫn tới hiện tượng liệt cả tứ chi. Bị tổn thương cột sống ở lưng sẽ gây ra liệt 2 chân và thường làm rối loạn việc tiểu tiện và đại tiện. Sự tổn thương ở hệ thần kinh ngoại biên có thể chỉ gây ra hiện tượng liệt ở một chi. Các cơ bắp bị tổn thương cũng có thể dẫn tới sự tê liệt.