Tăng trưởng kinh tế “nguyên nhân và thành công” – Phần 2

Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng từ 19,4 tỷ USD năm 1992 lên tới 80,8 tỷ USD vào năm 1995 và hiện nay (9.1998) lên tới 140,6 tỷ USD so với 139,9 tỷ USD năm 1997, chỉ xếp sau Nhật Bản.
Trong 10 năm tới, kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, toàn diện, với tốc độ tăng GDP bình quân từ 5 đến 7%. Đến năm 1997, Trung Quốc có sức mạnh kinh tế gấp 4 lần Trung Quốc năm 1980.
4 nhân tố chủ yếu tạo nên sự tăng trưởng kinh tế cao của Trung Quốc.
Hệ thống kinh tế được cải cách và tự do hóa. Trước năm 1978, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chỉ chiếm chưa đầy 15% tổng sản lượng công nghiệp. Đến nay, khu vực này (kể cả các chủ đầu tư nước ngoài và các hợp doanh) đã chiếm trên 50% tổng sản lượng công nghiệp. Các hộ gia đình tư nhân hiện sản xuất trên 80% sản lượng nông nghiệp.
Sau Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc, việc xây dựng các công ty quốc doanh hiện đại và chuyển đổi hình thức sở hữu hàng loạt doanh nghiệp Nhà nước khác có những bước tiến mạnh mẽ. Một trong những nội dung đáng quan tâm trong kế hoạch 5 năm lần thứ 9 (1996 – 2000) là Nhà nước nắm giữ và hiện đại hóa 1.000 doanh nghiệp chủ công của Nhà nước do Trung ương lựa chọn. Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân được xác định không tùy thuộc vào số lượng thậm chí cũng không quyết định bởi tỷ trọng giá trị sản xuất trong GDP (tổng sản phẩm quốc dân), mà tùy thuộc vào khả năng kiểm soát và tác động tới toàn bộ nền kinh tế. Đây là một sáng tạo mới về lý luận kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, tạo tiền đề cho tiến trình cải cách và cơ cấu lại một cách mạnh mẽ khu vực kinh tế Nhà nước.
Các lực lượng thị trường đã quyết định hầu hết việc sản xuất và các luồng đầu tư. Hệ thống kinh tế đã được phi tập trung hóa. Việc tự do giá cả đã cơ bản hoàn thành với hơn 90% giá cả được tự do hóa. Thị trường lao động mới được xây dựng. Hơn 20% nhân viên Nhà nước làm việc theo hợp đồng ngắn hạn. Sự di đọng việc làm khá cao kể cả các vùng nông nghiệp lẫn đô thị.
Tỷ lệ tiết kiệm cao, trung bình 19 năm qua là trên dưới 33%, trong đó năm 1993 – 1994 đạt trên 35%,
Sự ổn định về chính trị và tiền tệ đã thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài và kỹ năng quản lý đã tăng lên nhanh chóng. Trên 250 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã được thực hiện, cùng với kỹ thuật hiện đại, các phương tiện quản lý và các quan hệ thị trường và giữ vai trò lớn hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế.
Xuất khẩu tăng bình quân hàng năm hơn 18%. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân: Hệ thống kinh tế của Trung Quốc đã được tự do hóa nhanh chóng và chất lượng sản phẩm đã được cải thiện, chi phí sản xuất thấp xa so với chi phí của tất cả các quốc gia thuộc OECD và hầu hết các nước đang phát triển ở châu Á.
Chỉ trong vòng hai thập kỷ, Trung Quốc đã được những thành tựu to lớn, sẽ bước đi vững chắc vào thế kỷ 21. Vào khoảng giữa thế kỷ 21, Trungn Quốc có thể trở thành cường quốc kinh tế với tổng GDP đứng đầu thế giới.
Nguyễn Xuyến –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Tăng trưởng kinh tế “nguyên nhân và thành công” – Phần 1

Hai mươi năm qua, kể từ khi cải cách, Trung Quốc (TQ) đã thành công về tăng trưởng kinh tế.
Công cuộc cải cách và mở cửa của kinh tế Trung Quốc được Đại hội XI Đảng Cộng sản Trung Quốc khởi xướng (tháng 12 – 1978) và được Đại hội XII sau đó cụ thể hóa với mục tiêu tăng 4 lần tổng giá trị sản lượng công, nông nghiệp, từ 710 tỷ nhân dân tệ (85,23 tỷ USD) năm 1980 lên 2.800 tỷ nhân dân tệ (336,13 tỷ USD) vào năm 2000.
Trong 18 năm phát triển kinh tế (1980 – 1997), với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 9% năm, tức tăng gấp đôi trong vòng 10 năm (1980 – 1990). (Nước Anh phải mất 58 năm (1780 – 1838), Mỹ 47 năm (1839 – 1886) và Nhật Bản 34 năm (1885 – 1919). Thu nhập bình quân đầu người tăng 6,7% lần. Trước năm 1978, sản lượng nông nghiệp chiếm hơn 30% tổng sản phẩm nội địa, nay chỉ còn chưa đầy 25%, hơn 70% lực lượng lao động cả nước làm việc trong khu vực nông nghiệp thì nay chỉ còn dưới 50%.
Năm 1998, mặc dù bị lũ lụt nặng và trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực, Trung Quốc vẫn có thể đạt mức tăng trưởng GDP 8%.
Sự phát triển mạnh mẽ công nghiệp, nông nghiệp, ngoại thương và thu hút vốn đầu tư nước ngoài… là những thành tựu kinh tế nổi bật nhất của Trung Quốc. Các sản phẩm nông nghiệp tăng với tốc độ cao, đặc biệt là sản lượng sợi hóa học và ti vi từ vị trí thứ 7 và thứ 8 trên thế giới vào năm 1978 đã vọt lên chiếm vị trí thứ 2 và thứ nhất tương ứng với năm 1995. Hiện nay, nhiều mặt hàng như lương thực, bông, thịt lợn, thịt bò, thịt dê… chiếm vị trí hàng đầu thế giới về sản lượng.
Nền kinh tế Trung Quốc đã hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Năm 1977, tổng kim ngạch ngoại thương chỉ chiếm 6% tổng sản phẩm quốc dân, nay đã lên tới trên 40%. Ngoại thương tăng trung bình 18% năm, tạo ra hàng triệu việc làm và mang lại những khoản thu ngoại lệ khổng lồ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ 20,64 tỷ USD năm 1978 đã tăng lên gần 300 tỷ USD năm 1996.
Thắng lợi quan trọng nhất của Trung Quốc trong hai thập kỷ qua, theo cách đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) là các nhà lãnh đạo đất nước 1,2 tỷ dân này đã kết hợp được những nỗ lực chính trị, nâng cao uy tín trên trường quốc tế với tài năng quản lý vĩ mô, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài để phát triển các tỉnh ven biển. Chỉ tính từ năm 1979 đến tháng 11 – 1997, Trung Quốc đã phê duyệt hơn 302.400 dự án có vốn đầu tư nước ngoài tới 513,42 tỷ USD, trong đó vốn đã thực hiện là 216,6 tỷ USD. 20 năm qua, đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan chiếm 65,89% tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc. Đầu tư từ Mỹ, Nhật Bản, các nước châu u, Hàn Quốc và Singapore đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế song phương với Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đã có 339 thành phố và vùng kinh tế mở cửa với tổng diện tích trên 500.000 km vuông.
Sự phát triển rất năng động của miền duyên hải cùng với việc phát triển giao thông vận tải, thông tin liên lạc đã tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển thị trường và buôn bán nội địa, kể cả thị trường lao động và thị trường tài chính.
Nguyễn Xuyến –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Tôi tự hào về sân khấu cải lương

… Cánh màn nhung đêm đêm vẫn mở trong ánh sáng lung linh và huyền ảo làm rạng rỡ những gương mặt nghệ sĩ và vai diễn. Vẫn biết sóng gió của đời thường, guồng quay của kinh tế thị trường đang rập rình từng ngày từng giờ nơi thánh đường nhưng chỉ là ước lệ thôi – khi ta coi cánh màn nhung đó như là một cánh buồm lớn sẽ còn căng gió mãi mãi với những tay chèo đang hết lòng hết sức vì sự tồn tại và phát triển trong tương lai cải lương Việt Nam.
Thưa ông, hiện nay sân khấu cải lương đang bị khủng hoảng. Vậy nguyên nhân nào khiến cải lương mất nhiều khán giả?
Giám đốc Lê Chức: Đúng vậy, hiện nay cái khó khăn của sự vắng người xem là nỗi khổ không phải của riêng ai, không phải của riêng một ngành sân khấu nào – và cải lương cũng không thoát khỏi cái “hạn” đó – trước một giai đoạn đầy biến động trong bước sơ khởi của nền kinh tế thị trường. Đặc biệt hiện nay khán giả phần lớn là thanh niên, họ luôn luôn có xu hướng hâm mộ nghệ thuật ngoại lai mà quên lãng nghệ thuật truyền thống.
Được biết nhân kỷ niệm 300 năm xây dựng và phát triển Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh “liên hoan sân khấu chuyên nghiệp” do Sở Văn hóa – Thể thao thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào 3/10/1998, Nhà hát cải lương Trung ương đã nhận lời mời vào biểu diễn chào mừng đêm khai mạc và gặp gỡ giao lưu nghệ thuật Cải lương với khán giả phía Nam?
Giám đốc Lê Chức: Vâng, đúng vậy! Chờ đến giờ phút này tôi đã có thể khẳng định như vậy. Hai vở diễn chính là “Cây đàn huyền thoại” và “Tình sử lô Đà Giang” đã được duyệt rất kỹ càng và chúng tôi hoàn toàn có thể yên tâm về chất lượng nghệ thuật. Vở “Cây đàn huyền thoại” đã gặt hái được thành công về nghệ thuật cả ở phương diện sân khấu lẫn băng hình. Còn vở “Tình sử lộ Đà Giang” như chị đã được xem hôm tổng duyệt được hội đồng và khán giả hoan nghênh nhiệt liệt.
Ông có suy nghĩ gì khi đưa nhà hát về “cái noi của Cải lương?
Giám đốc Lê Chức: Với riêng cá nhân tôi, tôi cho rằng đây thực sự sẽ là một cuộc gặp gỡ và giao lưu nghệ thuật, đáp ứng mong mỏi của nhiều nghệ sĩ được tiếp xúc với những nghệ sĩ lớn, những bậc thầy là thần tượng của Cải lương Việt Nam – Hơn nữa từ lâu chúng tôi đã không còn phân biệt “Cải lương Bắc” và “Cải lương Nam” nữa. Vì thế gọi chuyến đi này là cuộc hành hương nghệ thuật cũng được.
Đoàn sẽ có bao nhiêu thành viên? Kinh phí cho đợt lưu diễn này?
Giám đốc Lê Chức: Đoàn có 41 người vào công diễn. Tất cả đều là Nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ xuất sắc, các nhạc công giỏi của nhà hát. Chúng tôi vào lần này theo lời mời của Sở Văn hóa – Thể thao thành phố Hồ Chí Minh. Còn các cuộc lưu diễn khác chúng tôi được Bộ văn hóa cấp kinh phí.
Ông có thể cho biết chúng tôi biết ngoài thành phố Hồ Chí Minh đoàn có ý định biểu diễn ở nơi nào khác?
Giám đốc Lê Chức: Ngoài 2 đêm diễn khai mạc chào mừng “liên hoan sân khấu chuyên nghiệp”, 3 đêm diễn theo sự điều hành của Ban tổ chức, chúng tôi sẽ diễn ở một số địa điểm khác trong thành phố. Ngoài ra sẽ lưu diễn ở các tỉnh Đà Lạt, Tây Ninh…
Có nhiều ý kiến cho rằng: “Sân khấu cải lương muốn tồn tại cần phải tiếp thị”. Vậy ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
Giám đốc Lê Chức: Cải lương là một sản phẩm văn hóa nên không thể mua bán như hàng hóa thị trường đơn thuần. Hiện nay vấn đề tiếp thị sân khấu đang được đề cập. Có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí còn trái ngược nhau về vấn đề này. Nhưng theo tôi “tiếp thị sân khấu” là làm thế nào cho khán giả hiểu rõ cải lương là sản phẩm văn hóa, là một loại hình sân khấu truyền thống để họ đến với sân khấu cải lương.
Xin phép hỏi ông câu hỏi cuối cùng: Niềm vui và nỗi buồn của ông trong hoàn cảnh sân khấu cải lương hiện nay?
Giám đốc Lê Chức: Có thể nói, nhớ lại những thập kỷ hoàng kim của cải lương Việt Nam và thực tế hôm nay – mới thấy nuối tiếc làm sao. Buồn vì hiện nay phần lớn khán giả không ý thức được cải lương là một loại hình sân khấu dân tộc. Vui vì những người nghệ sĩ vẫn ý thức được rằng. Phải giữ lấy uy tín – chất lượng nghệ thuật sân khấu, tìm thấy giá trị văn hóa của dân tộc. Và thật hạnh phúc hơn khi thực hiện các đêm diễn duyệt với các nhà báo. Phóng viên trước những người thâm và những người yêu mến sân khấu.
Rất cả ơn ông về buổi trò chuyện và xin chúc nhà hát giành được nhiều thành công trong đợt lưu diễn tới. Chúc sân khấu nói chung và sân khấu cải lương nói riêng phát triển trong một tương lai không xa.
Nguyễn Thanh Loan – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –1998

Lợi mình, hại người

Quét rác nhà mình sang cửa nhà khác, dắt nhỏ nhà mình nuôi sang cửa nhà khác phóng uế, không muốn những người hàng rong, buôn thúng, bán bưng họp chợ xanh, chợ cóc trước cửa nhà mình, nhưng lại muốn áp đặt những nhà khác phải để cho người ta họp chợ và mua bán tại đó… là chuyện thường ngày của một số người “ích kỷ” chỉ biết lợi mình để hại cho người hiện đại.
Nhà nước ta rất quan tâm đến đời sống và sức khỏe của nhân dân, phát động nhiều phong trào; vệ sinh phòng dịch chăm sóc sức khỏe ban đầu, giữ gìn vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm, xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hóa, mẫu mực, xây dựng nếp sống người công dân gương mẫu. Các phong trào xanh, sạch, đẹp và vệ sinh môi trường đã và đang được nhiều người hưởng ứng. Vậy mà trong số đông đảo nhân dân vẫn còn rơi rớt những con người chỉ biết lợi cho mình và để hại cho người như ngày ngày dắt chó nhà mình sang cửa nhà khác phóng uế, ở tầng trệt đun bếp than, nhóm lò bằng cao su, khói bốc lên nghi ngút làm cho các nhà ở tầng 2, 3, 4, 5 ngạt thở. Vợ chồng, con cái chửi bới nhau làm nhức tai hàng xóm. Hàng ngày quét rác nhà mình sang cửa nhà bên cạnh, hắt rác sang nhà hàng xóm mà không cảm nhận thấy đó là chuyện khó coi. Thậm chí hienej nay có những cái “chợ cóc” họp nơi này đuổi đi nơi khác, nhưng người đuổi chỉ muốn người ta không họp chợ ở nhà mình mà lại ủng hộ người họ chợ ngồi họp ở ngay nhà bên cạnh. Ở Vân Hồ 3 Hà Nội ở cái chợ cóc ban đầu họp ở tổ 60, nhưng tổ này đuổi chạy ra tổ 61, tổ 61 đuổi thì các gia đình ở tổ 60 ra đấu tranh cho người ta họp!!! Đúng là những cử chỉ, hành động và việc làm “thiếu ý thức” của những người thiếu văn hóa nên mới có những chuyện “Lợi mình, hại người” như thế xảy ra, thiết nghĩ những người như thế cần sớm thức tỉnh để xây dựng một nếp sống chung.
Qua phòng cấp cứu
Cẩn thận… muỗi
Thời gian gần đây nhiều nơi bị dịch sốt xuất huyết. Tại phường Khương Trung (Thanh Xuân, Hà Nội) đã có tới 14 hộ có người lâm bệnh. Ở Trại giống Thường Tín (Hà Tây) có tới hơn 100 người bị sốt xuất huyết. Sẽ còn nơi nào nữa nếu nằm ngủ không mắc màn? Tất nhiên, ngủ đêm trong màn chưa đủ bởi muỗi còn nhè vào lúc ngủ trưa, trong toa lét, lúc nhặt rau… Tốt hơn cả là phun thuốc trừ muỗi cũng như giữ gìn vệ sinh chung?
Thuốc diệt chuột nhập lậu
Hiện nay, trên địa bàn Hải Phòng tràn lan loại thuốc diệt chuột nhập lậu từ Trung Quốc. Loại thuốc này bốc hơi làm chuột chạy qua cách 1 mét ngửi phải là chết. Nhưng chuột không chỉ ở trong nhà, để ở ruộng, trâu bò ngửi phải… cũng lăn quay. Trâu bò khỏe thế, còn người thì sao? Nạn chuột hoành hành phá hoại nên bà con ta hết sức phòng các loại thuốc nhập lậu, thiếu kiểm định.
Hú vía vì… con chuột chết
Chị Trần Lan Anh ở Kim Động, Hưng Yên cho biết, đầu tháng 9 vừa qua, cả nhà chị suýt chết vì tiếc con vịt chết, và đã làm thịt. Chị cho biết: Khi làm đồng về mệt, nhà lại hết thức ăn, thấy con vịt chết ở bờ ao, chị đã làm thịt mong được bữa ăn “cải thiện”. Không ngờ con vịt đó chết vì ăn phải con chuột chết mà hàng xóm đã đánh bả bằng thuốc diệt chuột Trung Quốc. Thấy con chó ăn bộ lòng vịt rồi lăn ra chết, (cả chó mẹ và 7 chó con), cả nhà sợ xanh mặt, đổ cả nồi thịt vịt đi. May mà chị đã phát hiện ra sớm. Thật là hú vía!
Điên giật
Cháu Trần Tiến Thành 12 tuổi ở số nhà 37 tổ 4 làng Thành Công, bị điện giật chết khi trên tay vẫn cầm bóng đèn điện. Nguyên nhân mẹ của cháu Thành thắp điện trên bàn thờ rồi đi sang nhà hàng xóm chơi, Thành ở nhà nghịch bóng đèn điện, điện hở cháu không kịp kêu cứu. Tuổi nhỏ thật hiếu động, cái gì cũng thích tò mò xem, nhưng rồi không ý thức được hậu quả sẽ ra sao?
Đăng Khánh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội –1998

Đậu đen

Đậu đen có nơi gọi là hắc đâu. Loại đậu này được nhân dân ta trồng nhiều để lấy hạt nấu chè, nấu cháo, đồ xôi v.v… Trong hạt đậu có nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là protit 24,4%, có hàm lượng axit amin cần thiết rất cao. Trong 100 gam đậu đen có 0,97 lysin, 0,3 methionin, 0,3 gam tryptophan, 1,16 gam phenyalamin, 1,09 gam alanin, 0,979 gam valin, 1,26 gam lexin, 1,1 gam izoleuxin, 1,7 gam acginin và 0,75 gam histidin. Gluxit 53,3%, lipit 1,7%, canxi 56mg%, phốt pho 354mg% ngoài ra còn có caroten, vitamin B1, B2, PP, C, v.v…
Theo y học cổ truyền đậu đen có tính bình, không độc vào kinh thận. Công dụng trừ phong thấp, giải độc, có tác dụng bồi bổ sức khỏe và bổ thận. Ngoài công dụng là thực phẩm, đậu đen còn được dùng làm thuốc. Trong trường hợp trúng phong, cấm khẩu, đau đầu, đau lưng dùng: đậu đen 2kg, ngâm với 0,5 lít rượu 40 độ trong 6 giờ; độc hoạt 20 gam; sắc uống ngày một thang. Chữa trường hợp cứng cổ, đau vai gáy, khó ngoanh đi ngoanh lại dùng 2kg đậu đen, sao nóng già, bọc vải và gối đầu, khi nguội là thay.
Theo kinh nghiệm dân gian, dùng 500 gam đậu đen, 2 đôi chân gà (để cả móng và màng ngoài) cho vào nồi ninh nhừ, ăn có tác dụng mạnh gân cốt dùng trong các trường hợp bại liệt, các trường hợp chấn thương có ảnh hưởng tới gân. Trong y học cổ truyền, người ta còn dùng đậu đen để nấu với hà thủ ô và một số vị thuốc khác là do vị thuốc đó có tác dụng bổ thận thủy.
Chú ý: những người hư hàn nên hạn chế sử dụng.
Món cháo nhuận phổi
Nhà thơ Lục Du có câu thơ: “Thế thượng cá cá học thường niên. Bất ngộ trường niên tại mục tiền, Ngã đắc Uyển Khâu bình dị pháp. Chỉ tương thực chúc chí thần tiên” (đại ý là người đời thường đi tìm học cách sống lâu mà không biết nó ở ngay trước mắt, ta học được một cách giản dị: ngày ngày ăn cháo đạt tới sự sống lâu như thần tiên).
Cháo có thể hòa vị bổ tỳ, nhuận dưỡng cho phôi khỏi khô háo. Khi nấu cháo ta cho thêm lê, củ cải, vừng và một số vị thuốc vào sẽ làm cho hát có tác dụng bô phổi, khiến phổi khỏi khô háo.
Dưới đây xin giới thiệu một số loại cháo thuốc đơn giản:
Cháo lê: Lê hai quả, rửa sạch, thái nhỏ cả vỏ lẫn hạt, cho vào nồi với 100 gam gạo, nấu thành cháo lê.
Mùa thu khí hậu hanh khô, ta thường hay bị hiện tượng mồm khô, mũi khô, ho khan không có đờm và các chứng bệnh khác do nhiệt háo gây ra. Lê là loại quả có tác dụng nhuận háo, nấu cháo lê ăn thường xuyên vào mùa thu là món ăn tăng cường sức khỏe.
Cháo hoa cúc: Hoa cúc 50 gam, gạo 100 gam, đun lấy nước hoa cúc trước, rồi chắt lấy nước trong nấu với gạo thành cháo.
Cuối hè, đầu thu, khí hậu vẫn còn nóng nực, nấu cháo hoa cúc, có thể thanh thử nhiệt, tán phong nhiệt, thanh can hỏa, làm sáng mắt, có tác dụng chữa trị các chứng như cam mạo do phong nhiệt, họng khô, mặt sưng đỏ v.v… Hoa cúc nở vào mùa thu có tác dụng phòng ngừa các chứng bệnh tim mạch, đặc biệt thích hợp với việc đề phòng các bệnh cao huyết áp, động mạch vành tim của người cao tuổi.
Cháo vừng: vừng 50 gam, gạo 100 gam. Trước hết rang vừng cho chín vàng, giã nát. Sau khi nấu cháo chín, cho vừng vào trộn đều lên ăn.
Vùng có tác dụng nhuận phổi, đường gan, tăng cường tinh khí, thúc đẩy cho tóc mọc, lại có tác dụng nhuận tràng, chữa táo bón. Cháo vừng, hương vị thơm ngon, thích hợp với những người gan thận suy yếu, hay chóng mặt hoa mắt, tóc bạc sớm, tóc rụng nhiều, trẻ con tóc thưa, vàng, và những người bị ho do phổi bị khô, hoặc bị táo bón kinh niên. Cháo vừng còn có tác dụng kéo dài tuổi thọ, là một món ăn tăng cường sức khỏe đối với người già.
Thu Anh –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Tiếng thương yêu

Xa mấy ngày sao mà nhớ thế
Biển mùa này mờ mịt mưa giông
Chuông điện chợt reo lòng vui lạ
“Mình và các con có khỏe không”
Tiếng thương yêu đầu kia dây nói
Cách sóng bay vời vợi không gian
Vợi khuây bao ngày anh quạnh vắng
Vợi những ưu tư, những nỗi niềm!
“Nhớ mặc ấm mùa này lạnh đấy”
Một tiếng xa về giữa biển đêm
Vượt qua mọi tầng không hỗn tạp
Tín hiệu nào anh nhận nơi em…
Đọc nhanh các báo
Người lao động 7/9/1998. Trong bài “Đông y dược Chợ Lớn đang lao đao” nói về hiện trạng thuốc Chợ Lớn bán chạy hơn thuốc Trung Quốc. Hồng Kông “nhập lậu, nhưng nhiều lương y muốn bỏ nghề. Nguyên nhân “y dược cổ truyền bị thả nổi. Thuốc giả, thuốc nhái nhãn hiệu, thuốc lậu lẫn lộn với thuốc chính hiệu” và “một số quy định, tiêu chuẩn của ngành y tế ban hành không phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh đông nam dược ở Chợ Lớn.
Thanh niên 13/9/1998: Nêu vụ việc cháu Lê Ngọc Vinh học sinh lớp 1 Trường tiểu học Phước Hải 1 đóng bảo hiểm ngày 3/10/1997, bị chết đuối ngày 5/10/1997, gần 1 năm qua, mặc dù đã đủ thủ tục pháp lý nhưng vẫn bị Báo Minh Ninh Thuận (BMNT) từ chối bồi thường. Nguyên nhân là Báo Minh Ninh Thuận dựa vào cớ “Có ý kiến cho rằng cháu Vinh chết trước ngày 5/10/1997” vì vậy Báo Minh Ninh Thuận lại chỉ đề nghị “hỗ trợ nhân đạo” số tiền 2.5 triệu đồng (gần 50% số tiền bồi thường). Nhân sự việc tác giả phê bình ban lãnh đạo Trường Phước Hải 1: “Hiệu trưởng nhà trường không biết học sinh của mình chết… còn đau tình thương và trách nhiệm”. Bảo hiểm thân thể học sinh là loại hình kinh doanh nhân đạo nhưng Báo Minh Ninh Thuận và lãnh đạo trường tiểu học Phước Hải 1 có những hành động không hề nhân đạo.
Tin tức buổi chiều 10/9/1998. Dẫn nguồn AP cho hay trong khi đến bệnh viện để sinh đứa con thứ 4, đôi vợ chồng ở Naple (Italia) đã chen lên xe và người vợ đánh rơi đứa con từ trong bụng ra vỉa hè lúc nào không biết. Chỉ khi bác sĩ đưa người phụ nữ này vào phòng mổ với tử cung trống rỗng, họ mới nhận ra.
Lao động 9/9/1998. Nhờ những tín hiệu được phát ra bởi thiết bị mới EKG, số trẻ sơ sinh bị hội chứng tử vong đột ngột có thể được xác minh ngay một cách chắc chắn. Đặc biệt với trẻ có dị tật về tim, gọi là “nhịp đập QT kéo dài” (Mức độ nguy hiểm gấp 41 lần so với trẻ bình thường) nếu được phát hiện ngay, tỉ lệ cứu sống từ 80 – 90%.
Lao động xã hội 10/9/1998 đề cập những khó khăn của hoạt động Bảo hiểm xã hội Vĩnh Phúc: “quy mô công nghiệp nhỏ bé, nhiều xí nghiệp sản xuất kinh doanh không hiệu quả… Do vậy khả năng thu Bảo hiểm xã hội và việc mở rộng đối tượng thu rất khó” Mặt khác hầu hết doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn trong tỉnh không đăng ký Bảo hiểm xã hội… Chủ sử dụng lao động chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm tham gia Bảo hiểm xã hội theo luật định… Bản thân người lao động cũng chưa biết tới điều lệ Bảo hiểm xã hội, hay có biết nhưng không dám đòi hỏi, đấu tranh và còn do Bảo hiểm xã hội Vĩnh Phúc chưa tập trung chỉ đạo tuyên truyền cũng như chưa dựa được vào luật pháp để yêu cầu các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Tin trong nước TTXVN 7/9/1998 nêu hiện trạng các liên doanh sản xuất dược phẩm Việt Nam thua lỗ: “Liên doanh Woo Pyung Mekophar từ khi thành lập đến nay lỗ 1 triệu USD, Công ty Sanofi Pharma Việt Nam lỗ hàng chục tỉ đồng do chi phí bộ máy điều hành và tiếp thị quá cao”. Do vậy thuốc và nguyên liệu do các liên doanh sản xuất không tiêu thụ được do giá thành cao trong khi đa số người dân Việt Nam muốn dùng thuốc giá rẻ. Tác giả cũng khẳng định: “Mặc dù Tổng công ty Việt Nam, Bộ y tế đã đưa ra nhiều biện pháp khắc phục và chấm dứt tình trạng này nhưng tình hình vẫn chưa sáng sủa hơn”.
PV –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Tin thêm về tử vong trong số người dùng Viagra

Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) cho biết hiện nay có tổng cộng 77 trường hợp tử vong ở người dùng Viagra. Từ cuối tháng 3 – 1998 đến tháng 6 – 1998 đã có hơn 2,7 triệu đơn kê dùng thuốc này: Hãng Pfizer tung một lực lượng từ 700 – 1000 người trong tổng số 3844 trình dược viên của họ ở Mỹ để đi giới thiệu về thuốc này.
Có 6 trường hợp tử vong xảy ra ở ngoài nước Mỹ. 24 trường hợp khác, thông tin không kiểm tra được (tin đồn, hoặc báo cáo không xác minh). Tám trường hợp khác không rõ có dùng viagra hay không. Còn lại 39 trường hợp ở Mỹ chết sau khi dùng viagra. Nguyên nhân chết không rõ hoặc không được nên ở 13 trường hợp. Hai bệnh nhân bị đột quỵ, 24 bị cơn tim (10 nhồi máu cơ tim, 9 ngừng tim, 3 có triệu chứng tim và 2 có bệnh mạch vành).
39 bệnh nhân ở Mỹ có tuổi trung bình là 66. Trong số 18 người có báo cáo về liều, 17 người dùng liều 50 mg; sáu người có dùng nitroglycerin hoặc một thuốc nitrat khác là những loại chống chỉ định dùng kèm với viagra. Có 14 người chết trong khi hoặc trong vòng 2 giờ sau khi hoạt động tình dục. 33 (chiếm 85%) trong số 39 bệnh nhân có 1 hoặc hơn một yếu tố nguy cơ bệnh tim.
Thuốc cấm lưu hành
Vừa qua, Cục quản lý dược Việt Nam ra thông báo số 2503, 2504, 2585/QLD về việc đình chỉ lưu hành, thu hồi trên toàn quốc các loại thuốc sau không đạt tiêu chuẩn chất lượng:
Thuốc vitamin B1 + B6 + B12 (250mg + 250mg + 1000mg), Lot: 26 Exp: OCT.2000 của Công ty AJC Pharma, Distribue par Medipharm – France, Công ty dược Thành phố Hồ Chí Minh nhập khẩu. Thuốc không đạt tiêu chuẩn về hàm lượng vitamin B12 và độ tan rã.
Thuốc vitamin B1 + B6 + B12 (250mg + 250mg + 1mg). Lot: F327A – 03.2000 của Công ty Roche, Công ty dược Đà Nẵng nhập khẩu. Thuốc không đạt tiêu chuẩn về hàm lượng B12.
Thuốc Tia tuyết lộ 8ml của tổ hợp Thần Châu và thuốc Châu thần bát bửu đơn của nhà thuốc Nam Huê. Thuốc đông dược có chứa tân dược.
Cục quản lý dược yêu cầu các công ty nhập khẩu các loại thuốc trên và văn phòng đại diện của hãng sản xuất phải khẩn trương thu hồi lô thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng, gửi báo cáo kết quả thu hồi về cục trước ngày 20/9/1998.
Đề nghị Sở y tế tỉnh Bến Tre kiểm tra, thanh tra nguồn gốc xuất xứ hóa đơn chứng từ của những cơ sở kinh doanh các thuốc đông dược có chứa tân dược, xử lý nghiêm khắc các đơn vị vi phạm theo quy định hiện hành.
Kỷ niệm 8 năm thành lập viên và 59 năm thành lập ngành răng hàm mặt Việt Nam
Sáng 15 – 9 – 1998 tại Hà Nội, Viện răng hàm mặt (RHM) Hà Nội tổ chức kỷ niệm 8 năm ngày thành lập Viện (15/9/1990 – 15/9/1998) và 59 năm thành lập ngành răng hàm mặt Việt Nam.
Ngày 1/10/1939 khoa nha Bệnh viện Phủ Doãn đặt tại nhà chữ L (Viện răng hàm mặt ngày nay), đây là tổ chức nha khoa đầu tiên của Việt Nam. 59 năm qua, ngành nha khoa Việt Nam phát triển không ngừng; đến nay cả nước có trên 3000 bác sĩ răng hàm mặt làm việc tại các cơ sở y tế từ trung ương đến các tỉnh, huyện, xã và trường học.
Là tuyến cao nhất, Viện răng hàm mặt với 14 khoa phòng: khoa phẫu thuật hàm mặt, khoa gây mê hồi sức và phòng mổ, phẫu thuật trong miệng, nha chu, điều trị, phục hình, răng trẻ em, nắn hàm, laboo răng giả, các khoa cận lâm sàng v.v… Với đội ngũ giáo sư, bác sĩ, kỹ thuật viên có kiến thức và tay nghề vững vàng, trang thiết bị tương đối hiện đại, có thể thực hiện được các kỹ thuật cao tiên tiến, có uy tín trong nước và quốc tế.
TH –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Đấu pháp “quá chiêu”

Chưa bao giờ cả nước lại buồn như đêm thứ bảy 5/9 vừa rồi. Chỉ trong hơn 10 ngày thôi Tiger Cup Việt Nam’98 đã hâm nóng tinh thần bóng đá, gợi lên trong mỗi người dân Việt Nam một tình yêu đất nước tha thiết, một niềm tin chiến thắng của đội nhà. Đội tuyển đã thắng tất cả các trận, chỉ trừ trận cuối quan trọng nhất. Các chú sư tử Singapore ngáng đường chúng ta và giành quyền bước lên đài cao nhất của giải, để lại sự tiếc nuối khôn cùng trong trái tim hàng triệu triệu người dân nước Việt. Cho dù thua trong thế thắng, cho dù đã hạ gục đương kim vô địch Thái Lan 3 bàn không gỡ, cho dù AFC, AFF và bạn bè thế giới khâm phục về thành quả đạt được trong việc tổ chức một giải bóng đá quốc tế thì chỉ một sơ sẩy ở phút thứ 73, khi hậu vệ 1 mét 93 Sasi Kumar (13) Singapore đẩy nhẹ bóng bằng vai trái vào lưới của thủ môn Trần Tiến Anh đã làm cho cả nước buồn đến nao lòng. Chính Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải khi lên trao cúp cho đội vô địch cũng có nét mặt buồn như bao người dân dù ông vẫn nở một nụ cười ngoại giao. Biết rằng trong bóng đá sẽ phải có thắng thua nhưng tiếc nuối vẫn cứ là tiếc nuối. Chúng ta đã bàn bạc, mổ xẻ quá nhiều về nguyên nhân thất bại của đội tuyển mà không thấy rằng Singapore thắng cũng xứng đáng thôi vì họ có ông Huấn luyện viên “cáo già” người Anh Whitbread. Chính ông đã từng làm việc và dạy một lớp Huấn luyện viên cho Việt Nam với tư cách một chuyên viên kỹ thuật của FIFA vào tháng 5 vừa rồi tại Hà Nội. Vì thế ông đã quá hiểu bóng đá Việt Nam. Họ thắng vì họ có các cầu thủ mà Huấn luyện viên Afred Riedl của ta phải mơ ước và thốt lên tuyệt vọng rằng “Chúng ta không có những cầu thủ như thế (cầu thủ Rafi Ali (3) Singapore). “Họ thắng vì họ chơi với một tâm lý thoải mái (không bị sức ép phải thắng), vì họ có một nền thể lực và hình thể hơn hẳn ta dù họ đã phải di chuyển khắp chiều dài đất nước trước những trận quan trọng (bán kết, chung kết). Và cuối cùng là họ đã có một đấu pháp “quái chiêu” được áp dụng khá thành công trước những đối thủ mạnh như Indonesia, Việt Nam – phòng ngự chặt, lợi dụng những giây sơ hở làm một “nhát” rồi lại thu toàn bộ về phòng ngự. Chính vì thế chúng ta đã phải thua Singapore ở trận bán kết cũng trong thế áp đảo. Đành rằng việc thắng thua trong bóng đá là chuyện thường tình nhưng lần này quả là đáng tiếc. Bởi biết đến bao giờ chúng ta mới có cơ hội ngàn vàng như thế, hội đủ cả thiên thời – địa lợi nhân hòa. Thủ tướng Chính phủ trong lễ trao tặng bằng khen cho đội tuyển đã đặt mục tiêu đến Sea games 2003 tại Hà Nội chúng ta sẽ giành ngôi vô địch nhưng liệu 5 năm nữa chúng ta có kịp có được một giàn cầu thủ như: Huỳnh Đức, Hồng Sơn, Công Minh… bởi đến khi đó lần lượt họ sẽ rời sân cỏ. Công Minh đã chính thức từ giã đội tuyển. Liệu khi ấy bóng đá Thái Lan, Indonesia vốn mạnh nhất khu vực có lại gặp những vấn đề khó khăn, khủng hoảng như lần này không. Và biết bao cái liệu nữa mà chúng ta không thể tin nổi.
Lần này chúng ta không chỉ mất ngôi vô địch bởi nếu đoạt cúp, cả nước sẽ chia sẻ niềm vui với đội tuyển, cùng với đó là sự hỗ trợ, giúp đỡ vật chất cho nền bóng đá nước nhà từ khắp các tỉnh, thành. Rồi kiều bào nước ngoài nức lòng về chiến thắng cũng sẽ gửi về quê hương những tình cảm và trợ giúp quý giá cho việc phát triển nền bóng đá Việt Nam. Và còn rất nhiều những đơn vị, cá nhân khác sẽ gửi đến Liên đoàn bóng đá Việt Nam sự hỗ trợ tốt đẹp nhất. Nhưng thôi điều mà chúng ta khao khát không thành cũng đã qua. Hãy nhìn vào tương lai vì dù sao một lần nữa chúng ta đã khẳng định vị thế hàng đầu trong làng bóng đá khu vực và tạo được uy tín để tổ chức những giải quốc tế tầm cỡ khác qua Tiger Cup Việt Nam’98. Chắc chắn qua lần để vuột mất cúp vàng này, Liên đoàn bóng đá Việt Nam, ông Alfred Riedl sẽ nhìn ra rất nhiều điều quý giá để tiếp tục đưa bóng đá Việt Nam đi lên.
Tố Như – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Khi có một cơ chế mở

“Chúng tôi cần một cơ chế” Đó là ý kiến không ít người khi bàn đến xã hội hóa y tế. Hải Phòng mấy năm gần đây đã có nhiều nỗ lực và một trong những điểm đáng chú ý là Bệnh viện Việt Tiệp.
Trước năm 1997, bệnh viện đứng trước muôn vàn khó khăn: nguồn ngân sách thấp, hạ tầng cơ sở cũ kỹ trang thiết bị kém, không có một máy siêu âm mới nhiều tiêu cực phía cán bộ công nhân viên (CBCNV). Khi Ban giám đốc mới lên thay, vấn đề đầu tiên là tìm ra một cơ chế thích hợp với hoàn cảnh cụ thể đã làm, bộ mặt bệnh viện thay đổi, tự lột xác và có những chuyển biến tích cực.
Là bệnh viện đa khoa hàng đầu cấp thành phố, có 3000 lượt người ra vào mỗi ngày, bệnh viện đón trên 700 bệnh nhân với 790 giường bệnh không tránh khỏi những khó khăn. Nhưng 470 Cán bộ công nhân viên như một khối bám sát mục tiêu phục vụ con người đã dần dần tháo gỡ những vướng mắc.
Với ngân sách bệnh viện: 500 triệu đồng/ tháng, Ban giám đốc đã quản lý tốt nguồn thu viện phí và mạnh dạn đổi mới như mở rộng khu vực phòng khám, giải quyết nguyện vọng chữa bệnh theo yêu cầu của dân… đã nâng nguồn thu lên 3 lần: 1,5 tỷ đồng/ tháng. Tất nhiên giá dịch vụ vẫn như trong bệnh viện và thấp hơn so với các phòng khám ngoài. Phải chăng đây là sự kết hợp giữa kinh tế thị trường và y tế Xã hội chủ nghĩa để sử dụng khả năng đóng góp của người giàu bổ sung cho người nghèo. Đó là một thành công rất đáng khích lệ.
Chúng tôi đi thăm một số khoa, phòng và thực sự ngỡ ngàng trước sự đổi thay so với ngày nào, hệ thống máy móc hiện đại nhập ngoại hoàn toàn có mặt ở khắp nơi. Khoa hồi sức cấp cứu có hệ thống oxy khí nén, máy sốc nén, máy ăn tự động và giường nằm toàn bộ của Pháp. Khoa gây mê hồi tỉnh có 7 bàn mổ do Pháp tài trợ đón từ 20 – 25 ca mỗi ngày. Thăm phòng xét nghiệm máu, khi được hỏi làm thế nào bệnh viện xin được nguồn tài trợ của Pháp nhiều như vậy, chị Thanh Phương – Giám đốc bệnh viện cho biết: họ chỉ tăng 1 đến 2 máy. Số còn lại bệnh viện đặt mua, tạo nên hiệu quả kinh tế và công việc. Tiền đâu trong hoàn cảnh khó khăn? Lại phải tìm hình thức mua máy gần như một dạng vay trả góp. Nhìn tổng thể hiện bệnh viện chỉ thiếu máy City Scanner nhưng đã được đặt mua ở nước ngoài.
Máy móc trang thiết bị là quan trọng song điều quan trọng hơn là chất lượng phục vụ. Như đã nói trên, con người là mục tiêu hàng đầu nên Bệnh viện bằng mọi cách đưa chất lượng, thái độ phục vụ như một phương thức chữa bệnh qua các hình thức phiếu thăm dò ý kiến bệnh nhân khi ra viện. Hội đồng chuyên môn họp hàng tuần để tổng thể, kiểm điểm, chấn chỉnh thái độ phục vụ của cán bộ. Nhưng hình thức trên đi đôi với công thi đua thưởng phạt nghiêm minh. Đời sống cán bộ từ đó được nâng cao chính đáng và một tâm lý thoải mái trong Cán bộ công nhân viên, càng đẩy chất lượng phục vụ người bệnh lên cao hơn.
Mối quan hệ trong Bệnh viện là quan hệ thầy thuốc – bệnh nhân và chuyện vệ sinh ăn nghỉ của bệnh nhân có đầy đủ ga giường, quạt máy, trang bị cá nhân, hệ thống nhà giặt cũng được Ban giám đốc hết sức quan tâm. Hàng tháng bệnh viện chi trên 40 triệu đồng tiền miễn phí cho người nghèo. Kinh phí do bệnh viện cấp, giao cho các chủ nhiệm khoa có quyền trực tiếp miễn giảm viện phí.
Tìm kết quả ở đâu nếu chỉ đổ tại cơ chế mà thiếu vai trò lãnh đạo của ban giám đốc, thống nhất với công đoàn tạo nên đoàn kết trong nội bộ, bài trừ tham nhũng?
Chúng ta luôn cần một cơ chế mở mà sự “mở” đầu tiên là trái tim người thầy thuốc dành cho người bệnh với tất cả sự cảm thông trước những đau đớn và khó khăn của đồng loại. Khi thầy thuốc và bệnh nhân cùng mở lòng với nhau…
Mai Linh – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Tưởng nhớ cố Bộ trưởng Đặng Hồi Xuân

Anh ra đi mới đó mà đã được 10 năm. Chúng tôi, những người đã từng cộng tác trực tiếp với anh xin thắp lên nén hương tưởng nhớ đến anh, một vị Bộ trưởng giản dị đã nhiều năm lăn lộn với ngành trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, đã đem hết tâm trí của mình đóng góp cho việc xây dựng, phát triển ngành, phục vụ sức khỏe nhân dân.
Như thường lệ, sáng 9/9/1998 tôi đã có mặt ở phòng khách nhà anh Xuân để nghe anh dặn dò công việc trong thời gian anh đi dự hội nghị Tổ chức y tế thế giới khu vực Tây Thía Bình Dương ở Manila (Philippines) và thăm một số nước ở châu Á. Xong công việc, tôi định tiễn anh ra sân bay Nội Bài nhưng anh chỉ yêu cầu cử cho một đồng chí lễ tân cùng ra sân bay với anh. Đến hai giờ chiều, tôi nhận được nguồn tin của một đại sứ quán Bắc u ở Hà Nội cho biết là chuyến bay 10 giờ sáng của hãng Hàng không Việt Nam từ Hà Nội đến Bangkok đã bị “sự cố”. Tôi báo cáo ngay với đồng chí Thứ trưởng thường trực và sau đó liên hệ với Bộ ngoại giao Hàng không Việt Nam để thẩm định nguồn tin này. Tất cả các cơ quan đều trả lời là đã nhận được thông tin tương tự nhưng chưa thật cụ thể phải chờ tin chính thức của Đại sứ quán ta ở Bangkok. Đến khoảng 18 giờ tối, chúng tôi nhận được tin chính thức. Ba mươi phút sau tôi được cử sang gia đình anh để báo tin này. Tôi chưa nói hết lời thì chị Tuyết (vợ anh) và các con cháu đều òa lên khóc, hình như gia đình có linh cảm điều gì đó chẳng lành đã xảy ra.
Và sáng ngày hôm sau, báo chí đã đưa tin về tai nạn đau lòng này. Thế là anh Đặng Hồi Xuân đã ra đi vĩnh viễn vào ngày 9/9/1998 cùng với 6 cán bộ y tế trên chuyến bay.
Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên khi ngành y tế có hai Bộ trưởng đã ra đi vĩnh viễn ở tuổi 59, đang có nhiều đóng góp cho ngành. (Phạm Ngọc Thạch 1908 – 1968; Đặng Hồi Xuân (1929 – 1988).
Anh Đặng Hồi Xuân được Quốc hội và Chính phủ cử làm Bộ trưởng y tế giữa năm 1982. Anh còn là đại biểu Quốc hội hai khóa 7 và 8, Phó chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Ấn Độ. Anh trưởng thành từ cán bộ cơ sở và đã kinh qua nhiều cương vị lãnh đạo như: Chủ nhiệm khoa, Giám đốc bệnh viện, Trưởng ty y tế, Phó ban bảo vệ sức khỏe, Thứ trưởng… Anh còn tham gia giảng dạy ở Trường đại học y Hải Phòng, có nhiều công trình nghiên cứu tổng kết các bệnh tiêu hóa. Anh có nhiều kinh nghiệm thực tế về chuyên môn cũng như quản lý.
Kế tục sự nghiệp của các đồng chí Bộ trưởng tiền nhiệm, anh luôn luôn quan tâm đến việc củng cố nâng cao hiệu quả của y tế cơ sở. Ngoài việc thúc đẩy phong trào “5 dứt điểm”, anh tập trung mọi nỗ lực vào công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, cụ thể hóa các nội dung của Hội nghị Alma – Ata (1997) thành 10 biện pháp, sao cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.
Anh luôn luôn nhắc cán bộ của Bộ là có dịch bệnh xảy ra ở địa phương mà có người chết thì cán bộ lãnh đạo y tế huyện phải có mặt ở hiện trường để nắm tình hình giải quyết các việc có liên quan nhằm ngăn chặn không cho dịch phát sinh và phát triển. Khi có hai người chết thì cán bộ lãnh đạo y tế tỉnh phải có mặt và khi có từ ba người chết trở lên thì lãnh đạo Bộ phải có mặt. Một lần dịch hạch xảy ra ở Hải Phòng, anh đã về tận nơi làm việc suốt ngày đêm với các cấp, các ngành có liên quan để nhanh chóng dập ắt dịch vì nếu dịch lan rộng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xuất nhập khẩu hàng hóa.
Anh rất say sưa trong nhiệm vụ kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Điều anh đặc biệt quan tâm là làm thế nào để có thể thừa được những kinh nghiệm của các lương y giỏi mà tuổi đã cao. Anh giao nhiệm vụ cho công tác này nhưng tôi biết anh chưa thật bằng lòng với những kết quả đã đạt được.
Mỗi tuần, anh dành một ngày để đi cơ sở, kiểm tra công việc, lắng nghe ý kiến, trao đổi bàn bạc với cán bộ cơ sở để tìm biện pháp giải quyết. Mỗi khi anh đi công tác cơ sở, chị Tuyết (vợ anh) không quên để vào cặp anh một lọ lạc rang. Ngồi trên xe anh chia phần cho chúng tôi vừa ăn lạc vừa trao đổi công việc.
Anh làm Bộ trưởng trong thời kỳ đất nước ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế, ngành y tế gặp nhiều khó khăn nhất là các cơ sở khám, chữa bệnh, cơ sở hạ tầng của ngành xuống cấp nghiêm trọng, các cơ sở y dược của Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu về khám chữa bệnh, về cung cấp thuốc men cho nhân dân. Vấn đề có cho phép hành nghề y dược tư nhân hay không từng là nỗi trăn trở của anh. Rất tiếc là anh đã ra đi, không thấy được lời giải của bài toán hóc búa này khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khi các hoạt động của ngành đã được xã hội hóa, đa dạng và đa phương hóa.
BS. Nguyễn Cao Thâm –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998