Bệnh viêm gan và gan nhiễm mỡ.

1. BỆNH VIÊM GAN

+ Khái niệm?

– Là hiện tượng viêm nhiễm do virus gây bệnh ở gan. Bệnh thường nhẹ ở trẻ con và nặng hơn ở người có tuổi.

– Các loại viêm gan chính thường gặp: Viêm gan A do virus viêm gan A (HAV) gây ra; viêm gan B do virus viêm gan B (HBV); viêm gan không A, không B (ký hiệu NANBV).

+Triệu chứng lâm sàng.

– Có thể chia làm 3 thời kỷ: tiền hoàng đản, hoàng đản và thời kỳ lại sức (đối với HBV và HAV).

+ Các triệu chứng chung:
– Hội chứng giả cúm: Sốt nhẹ, đau cơ, đau khớp.
– Hội chứng tiêu hoá: Chán ăn, buồn nôn, táo bón hoặc ỉa chảy.
– Hội chứng vàng da: Nước tiểu vàng, phân hơi bạc màu.
– Gan to, ấn tức.

Xét nghiệm:
– Transaminaza tăng.
– SGPT và SGPT tăng cao.
– Bilirubin tăng.
– HbSAg, HBeAg, HbSAb dương tính.

+Điều trị.

Đối với viêm gan cấp thể thông thường cần:

– Nghỉ ngơi.
– Chế độ ăn: ít mỡ, nhiều đường, tăng protid. Nếu người bệnh chán ăn thì chủ yếu là cho đường, uống nước hoa quả. Kiêng mỡ và thức ăn có chứa chất béo.
– Có thể dùng vitamin C, thuốc nhuận mật (Sorbitol), cao actiso, nhân trần…

+ Phòng bệnh.

+ Phòng viêm gan B: Chống lây lan qua đường tình dục và qua tiêm truyền, ngày nay người ta đang nghiên cứu về tác dụng của gama globulin thông thường (ISG), gama globulin đặc hiệu với viêm gan B (HBICi), vacxin phòng viêm gan B.

– Phòng viêm gan A: Đường lây chủ yếu là qua phân, miệng. Vì vậy, giữ tốt nguồn nước, nguồn thực phẩm không để bị ô nhiễm phân có HAV kết hợp với việc ăn chín, uống sôi là nguyên tắc cơ bản nhất.

2. BỆNH GAN NHIỄM MỠ

+ Gan nhiễm mỡ (GNM) là gì?

– GNM còn gọi là thoái hóa mỡ gan. Đó là tình trạng lượng mỡ tích tụ trong gan > 5% trọng lượng gan. Triệu chứng thường thấy là chứng gan to kín đáo, gia tăng vừa phải các men chuyển hóa và phosphatase kiềm và hầu hết là không nguy hiểm.

+ Phân loại GNM:

– Qua kết quả sinh thiết gan (lấy một mẫu mô gan nhỏ đem phân tích cấu trúc dưới kính hiển vi), cho thấy có 3 loại GNM:

– Gan thoái hóa mõ đơn thuần: gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, không có kèm theo tình trạng viêm gan.

– Viêm gan thoái hóa mỡ do rượu: ngoài tình trạng gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, kèm theo tình trạng viêm gan, mô gan có thể bị sẹo hoặc bọ xơ và tiền sử uống rượu nhiều.

– Viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu: kết quả sinh thiết giống loại b, nhưng không có tiền sử uống rượu (hoặc uống rượu không đáng kể).

+ Nguyên nhân gân GNM

– Ai hay bị?
+ Nhiều năng lượng, béo phì.
+ Tiểu đường type 2.
+ Nghiện rượu.
+ Suy dinh dưỡng thiếu protein, giảm cân quá nhanh.

– Dùng thuốc độc cho gan.

– Ăn thế nào hay bị?

+ Nhiều năng lượng, nhiều béo.

– Quá ít đạm (nhịn đói, suy dinh dưỡng thiếu protein).

+ Biểu hiện của GNM:

– Những người bị GNM đa phần đều không có triệu chứng bởi vì tình trạng lắng đọng mỡ tại gan xảy ra từ từ nên các biểu hiện của nó cũng khó cảm thấy. Chỉ khi nào tốc độ lắng đọng mỡ trong gan xảy ra nhanh, lúc đó gan có thể lớn, bao gan càng ra và khi đó bệnh nhân có thể có cảm giác đau tức hoặc nặng vùng gan. Trong một số trường hợp, tuy nhiên rất hiếm, GNM cũng có thể gây tình trạng vàng da, buồn nôn và nôn.

+ Điều trị GNM.

– GNM hầu hết không phải là bệnh lý của gan mà chỉ là một triệu chứng do sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan mà thôi. Vì thế điều trị GNM chủ yếu là điều trị các nguyên nhân cơ bản gây bệnh, cụ thể:

– Nếu bị dư cân – béo phì: áp dụng chế độ awn hợp lý và chê độ tập luyện vận động để giảm cân.

– Đối với các bệnh lý gan có liên quan đến uống rượu: ngưng uống rượu.

– Ngưng ngay những thuốc có khả năng gây độc cho gan và thay thế bằng những thuốc an
toàn theo hướng dẫn của bác sĩ.

– Các bệnh rối loạn chuyển hóa (như tiểu đường): Khống chê lượng đường trong máu luôn ở mức độ bình thường.

– Viêm gan siêu vi: Kiểm soát tình trạng viêm và những diễn tiến bất lợi dẫn đến xơ gan.

– Chú ý rằng, ngoài việc áp dụng một chế độ thuốc men để nhằm đào thải bớt sự lắng đọng mỡ quá mức trong cơ thể cũng như để khống chế diễn tiến bất lợi của các bệnh lý cơ bản là nguyên nhân gây nhiễm mỡ gan, ở góc độ dinh dưỡng, có thể tự giảm thiểu tình trạng lắng đọng mỡ ở gan qua:

+ GNM phải ăn uống ra sao?

– Giảm cân nếu có thừa cân, béo phì (hạn chế năng lượng dư thừa).

– Giảm ăn thực phẩm giàu cholesterol như các loại đồ lòng, phủ tạng, da dộng vật, lòng đỏ trứng.

– Hạn chế chất béo: Ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá).

– Ăn chất đạm vừa phải đúng với khả năng của gan.

Một sô thứcăn được xem lã “thuốc” có tác dụng “giảm mỡ” tốt như: Dầu đậu nành, dậu hà lan, cà chua tươi chín, ớt vàng, rau ngót, rau cần tây, diếp cá, óori, bắp chuối (bông chuối); trái cây nên lưu ý chanh, cam, quýt, bưởi, táo chín trà xanh, hoa hòe….

– Tăng cường lượng rau, trái cây (mỗi ngày, mỗi người nên ăn tối thiểu 300g rau xanh, 200g quả chín tươi).

– Ngưng uổng rượu.

+ Vận động như thẻ nào?

– Cần tăng vận động, tập thể dục thường xuyên trên 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày trong tuần.

– Một số thực phẩm khuyên dùng cho người bị GNM
– Nhộng tằm:

Có tác dụng làm giảm cholesterol huyết thanh và cải thiện chức năng gan. Nhộng thường dùng dưới dạng các món ăn hoặc tán thành bột để uống.

– Nấm hương:

Chứa những chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu vì tế bào gan. Thường dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn.

Có khả năng giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hổi thành mạch, làm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan.
– Lá sen:

Giảm mỡ máu, giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen được dùng pha nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen.

– Bắp trái, rau cần:

Có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tế bào gan. Những thực phẩm này đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân GNM.

– Các loại rau trái tươi khác:

Cải xanh, cải cúc, rau muống có công dụng giải nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí dao, mướp, dưa gang, dưa chuột thanh nhiệt, lợi tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu đậu phộng, dầu mè, dầu đậu nành chứa nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; Các thức ăn chế biến từ đậu nành, đậu xanh, đậu đen….

– Thực phẩm cần kiêng:

Đồ ăn quá béo bổ như mỡ động vật, lòng đỏ trứng, não và gan gia súc, bơ. Các thứ quá cay và nóng như gừng, tòi, ớt, hạt tiêu, rượu, cà phê, trà đặc.

 

Một số vị trí thường xảy ra thoái hóa khớp.

+ Thoái hóa khớp thường xảy ra ở những vị trí sau:

– Ngón tay: Thường do di truyền. Tỷ lệ thoái hóa khớp ngón tay ở phụ nữ cao hơn đàn ông (đặc biệt là phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh). Các cục bướu nhỏ, cũng xuất hiện tại điểm cuối của các đốt ngón tay, khiến ngón tay bị to và biến dạng, thô thiển, đi kèm cơn đau.

– Cột sống thắt lưng: Hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, đôi khi ảnh hưởng đến thần kinh tọa, khiến người bệnh có cảm giác đau rất mạnh từ lưng xuống chân, như có luồng điện chạy từ trên xuống. Giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy. Cơn đau diễn ra tối đa 30 phút thì giảm. Sau một thời gian, hiện tượng đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng lên khi làm việc nhiều nặng và giảm dần lúc nghỉ ngơi.

– Cột sống cổ: Biểu hiện bằng cảm giác đau mỏi ở phía sau gáy, lan đến cánh tay ở bên có dây thần kinh bị ảnh hưởng.

– Gót chân: Bệnh nhân có cảm giác bị thốn ở gót chân vào buổi sáng, lúc bước chân xuống giường và đi vài bước đầu tiên. Sau khi đi được vài chục mét, cảm giác đau giảm nhiều, bệnh nhân đi đứng bình thường.

– Khớp gối: Người bệnh ngồi xổm và đửng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải níu vào một vật khác để đứng dậy; nặng hơn sẽ thấy tê chân, biến dạng nhẹ khớp gối.

– Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn ngay từ đầu vì khớp háng chịu sức nặng cơ thể nhiều nhất.
Nếu thấy đau nhức ở các khớp và khó di chuyển trong hai tuần, bạn nên đi khám bác sĩ để xác định loại thoái hóa khớp. Việc chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu đáng kể cơn đau và nguy cơ tàn phế.

+ Điều trị

– Hiện có hai phương pháp điều trị: Dùng thuốc và không dùng thuốc. Trong điều trị không dùng thuốc (thường được chỉ định cho trường hợp nhẹ), bác sĩ áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như chườm nóng, chiếu đèn hồng ngoại, dùng máy phát sóng ngắn hay siêu âm, xung điện giảm đau. Vận dụng liệu pháp cũng có hiệu quả trong giai đoạn cơn đau đã thuyên giảm. Lúc đau nhiều, bệnh nhân cần nghỉ ngơi, tránh cho khớp phải hoạt động.

– Nếu việc điều trị bằng phương pháp trên không còn hiệu quả tích cực, bác sĩ sẽ kê một số thuốc có tác dụng kháng viêm – giảm đau và thuốc giãn cơ. Nhờ sự tiến bộ của y học, những năm gần đây, nhiều thế hệ thuốc kháng viêm giảm đau mới đã ra đời, được gọi chung là nhóm ức chế OOX-2. Ngoài khả năng kháng viêm, giảm đau, nhóm dược liệu này còn giúp hạn chế 60-70% tác dụng phụ ảnh hưởng nghiêm trọng đến dạ dày (xuất huyết hoặc thủng).

3. BỆNH SỎI TIẾT NIỆU

– Sỏi tiết niệu là bệnh thường gặp và hay tái phát, do sự kết thạch của một số thành phần trong nước tiểu. Các khối sỏi có thể gây đau, tắc đường tiết niệu và nhiễm khuẩn, rất nguy hại cho sức khỏe người bệnh.

+ Nguyên nhân

– Bệnh gây ra do nhiều yếu tố: di truyền, các dị dạng bẩm sinh đường niệu, nhiễm khuẩn, chế độ ăn uống – sinh hoạt không hợp lý, người bệnh nằm lâu ít vận động… sỏi tiết niệu thường gặp trong độ tuổi lao dộng, ở nam nhiều hơn ở nữ.

+ Triệu chứng

– Cơn đau quặn thận: sỏi được hình thành một cách âm thầm và thường chỉ được phát hiện lần đầu bởi cơn đau quặn. Bệnh nhân lên cơn đau đột ngột, dữ dội ở vùng thắt lưng, lan xuống vùng hạ vị, đến vùng bẹn và cơ quan sinh dục. Cơn đau thường xuất hiện sau khi vận động mạnh (chạy nhảy, đi xe trên đường xấu…), khiến sỏi di chuyển tới chỗ chít hẹp, gây tắc đường niệu. Triệu chứng sẽ lui dần sau khi nghỉ ngơi và đi tiểu được.

– Đái buốt, nước tiểu có máu: Tùy theo mức độ tổn thương đường niệu, nước tiểu sẽ có màu từ hồng nhạt đến đỏ toàn bãi.

– Viêm đài bể thận do ứ nước tiểu: Bệnh nhân bị đái đục, đau vùng lưng – thắt lưng. Đại đa số trường hợp có sốt cao, rét run; nếu muộn có thể có phù, nôn mửa, ăn không ngon miệng… Vì khả năng hoạt động bù trừ của thận rất tốt, nên có trường hợp chỉ phát hiện ra bệnh sỏi khi có dấu hiệu của viêm đài bể thận
tiến triển.

– Sỏi tiết niệu gây tắc đường niệu nên có thể dẫn tới nhiều biến chứng: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết, choáng nhiễm khuẩn… Bệnh nhân có thể tử vong. Bệnh thường phát triển ở cả 2 bên và hay tái phát. Nếu không được điều trị kịp thời, chức năng thận sẽ bị suy giảm, gây tăng huyết áp.

+ Điều trị

– Cơn đau quặn đồng nghĩa với việc đường niệu bị tắc và căng giãn, tạo nên cơn co thắt để tống viên sỏi đi. Bệnh nhân cần cố gắng nghỉ ngơi ở tư thế dễ chịu nhất, giảm đau bằng cách day, bấm huyệt vùng lưng – thắt lưng và đi khám bác sĩ. Có thể dùng thuốc giảm đau theo hướng dẫn của thầy thuốc.

– Tùy nguyên nhân gây bệnh, có thể áp dụng các biện pháp điều trị khác nhau như: Dùng máy tán sỏi, máy nội soi, phẫu thuật tạo hình đường niệu…

+ Phòng bệnh

– Do bệnh rất hay tái phát nên việc phòng bệnh là rất cần thiết:

– Chủ động phòng tránh các yếu tố có nguy cơ gây nhiễm trùng đường niệu, uống đủ nước (nhất là vào mùa nóng, khi lao động nặng). Không nên nhịn lâu khi buồn đi tiểu. Nếu có dấu hiệu tiểu buốt, dắt thì nên dùng sớm các loại lợi tiểu sẵn có như râu ngô, mã đề…

– Khi phát hiện bệnh hoặc có nguy cơ mắc bệnh, nên uống nhiều nước để mỗi ngày bài tiết được hơn 1,5 lít nước tiểu.

– Thường xuyên khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ gây bệnh, chẩn đoán và điều trị kịp thời nếu đã bị sỏi, tránh các biến chứng.

 

Bệnh suy tuyến giáp trạng và bệnh thoái hóa khớp.

1. BỆNH SUY TUYẾN GIÁP TRẠNG

+ Nguyên nhân

– Đó là tình trạng thiếu hụt hoóc môn tuyến giáp, không đủ cung cấp cho các tế bào của cơ thể. Ở những người mắc bệnh này, tuyến giáp có thể phỉnh to (gây bướu cổ) hoặc không. Suy giáp làm tăng nguy cơ tai biến tim mạch, có thể gây hôn mê, ngừng thở…

+ Triệu chứng

– Suy giáp có nhiều loại:

1. Suy giáp tiên phát:

– Do căn nguyên miễn dịch (như viêm tuyến giáp Hashimoto).

– Sau phẫu thuật cắt tuyến giáp hoăc điều trị bằng iốt phóng xạ (kể cả phóng xạ vùng cổ).

– Do dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp điều trị bệnh basedovv, (neomercazol, thyrozol, novacarb, lithium…).

– Do thiếu hụt iốt nặng.

– Bẩm sinh hoặc mắc phải trong tử cung (suy giáp trẻ mới đẻ).

2. Suy giáp thứ phát: Do suy thùy trước tuyến yên (hiếm gặp).

3. Suy giáp do vùng dưới đồi: Rất hiếm gặp.

4. Suy giáp dưới lâm sàng: Không có biểu hiện. Thổ bệnh này khá phổ biến, chiếm 5-13% dân số.

– Ở thể nặng, suy giáp có thể gây hôn mê, nếu không điều trị đúng có thể dẫn đến tử vong. Tình trạng hôn mê diễn biến từ từ, không có dấu hiệu thần kinh khu trú. Một số trường hợp có cơn động kinh kèm theo các triệu chứng: Hạ thân nhiệt nặng (dưới 35 độ C), hạ đường huyết; giảm hô hấp (gáy tăng khí CO2 trong máu), đôi khi có cơn ngừng thở; giảm nhịp tim và huyết áp. Loại suy giáp dưới lâm sàng làm tăng nguy cơ mắc các bệnh xơ vữa mạch vành, nhồi máu cơ tim (do tăng cholestcrol máu).

+ Các triệu chứng điển hình của suy giáp:

– Mệt mỏi, giảm khả năng gắng sức, có khi tăng cân.

– Sợ lạnh, da khô và thô, da tái lạnh; tóc dễ rụng gãy, rụng lông mày, lông nách, lông mu thưa.

– Phù niêm mạc toàn thể, da mỡ (trông láng bóng), thâm nhiễm các cơ quan như mi mắt (nặng mí mắt), lưỡi (lưỡi to dày), thanh quản (nói khàn, khó thở), cơ (gây giả phì đại cơ).

– Dễ táo bón.

– Nhịp tim chậm, tim to, tràn dịch màng tim; nếu suy giáp nặng có thể suy tim (nhất là khi có thiếu máu đi kèm).

– Suy nghĩ và vận động chậm chạp, nói chậm, trí nhớ giảm.

+ Phương pháp điều trị

– Phương pháp điều trị suy giáp được bác sĩ chỉ dịnh tùy theo nguyên nhân gây bệnh. Nếu suy giáp tạm thời do dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp quá liều, chỉ cần giảm thuốc là đủ. Nếu suy giáp do thiếu hụt iốt, cần bổ sung chất này. Trong trường hợp bệnh xuất hiện do suy thùy trước tuyến yên, bác sĩ sẽ cho bổ sung các hoóc môn cần thiết. Với những bệnh nhân suy tuyến giáp vĩnh viễn, cần bổ sung hoóc món tuyến giáp suốt đời.

– Các bệnh nhân hôn mê do suy giáp cần được chăm sóc tại khoa điều trị tăng cường, đặt máy theo dõi các chức năng sống và làm một số xét nghiệm cẩn thiết. Về thuốc, cần dùng hoóc môn tuyến giáp liều cao và glucocorticoid.
2. BỆNH THOÁI HOÁ KHỚP

+ Nguyên nhân

– Nấu cơm, dọn nhà, đi chợ… những công việc nhỏ nhặt này cũng có thể là cực hình nếu bạn bị thoái hóa khớp. Bệnh thường tấn công người già và phụ nữ, gây nên các cơn đau dữ dội và có thể dẫn đến tàn phế.

– Thoái hóa khớp là tình trạng hư hỏng phần sụn đệm giữa hai đầu xương, kèm theo phản ứng viêm và giảm thiểu lượng dịch nhầy giúp bôi trơn ma sát ở điểm nối giữa hai đầu xương. Tình trạng này gây đau nhức và cứng khớp, hạn chế cử động khớp. Tuy không gây từ vong như cao huyết áp, tiểu đường nhưng bệnh ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt do triệu chứng đau, tê, hạn chế cử động…

– Thoái hóa khớp không phải là bệnh của riêng người lớn tuổi. Nó có thể phát triển từ những tháng đầu tiên của cuộc đời. Khoảng 30% người trên 35 tuổi, 60% người trên 65 và 85% người trên tuổi 80 có nguy cơ mắc bệnh. Khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ. Sau tuổi 45, tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới (gấp khoảng 1,5-2 lần). Thoái hóa khớp hay tấn công phụ nữ trẻ sau thời kỳ mang thai và sinh nở, gây các cơn đau đớn.

– Thoái hóa khớp ở người cao tuổi phần lớn không có nguyên nhân rõ rệt. Các yếu tố thúc đẩy quá trình thoái bao gồm tuổi tác, tình trạng béo phì, chấn thương nhẹ và mãn tính ở khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong quá trình lão hóa, chức năng chống đỡ của sụn bị suy giảm và dễ hư hỏng khi khớp cử động. Thêm vào đó, các chấn thương nhẹ nhưng kéo dài nhiều năm do khuân vác đồ nặng cũng làm tăng gánh nặng cho các khớp, khiến sự thoái hóa thêm trầm trọng. Ngoài ra, yếu tố di truyền và di chứng từ các bệnh lý khác cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

+ Triệu chứng

– Thoái hóa khớp thường tiến triển chậm. Vào giai đoạn khởi phát, người bệnh chỉ cảm thấy đau nhức sau một vài động tác nhỏ. Một số trường hợp còn không cảm thấy đau đớn ở giai đoạn này. Chỉ có khoảng 1/3 bệnh nhân có biểu hiện bệnh trên phim X-quang.

– Thông thường, bệnh nhân có các biểu hiện sau: đau âm ỉ ở phần tiếp nối giữa hai đầu xương và cứng khớp (xảy ra theo định kỳ như khi vừa ngủ dậy hoặc đứng lên), sưng tấy tại một hoặc nhiều khớp, có tiếng lạo xạo, lụp cụp khi co đuổi khớp gối, càng vận động càng đau nhiều. Nếu có cảm giác nóng, đỏ và sưng tại các khớp nghĩa là thoái hóa khớp đi kèm một căn bệnh khác.

 

Bệnh Crohn và bệnh nhược cơ.

1.BỆNH CROHN

+ Nguyên nhân:

– Do nhiễm khuẩn, dị ứng hoặc bệnh tự miễn dịch, một số người bị tổn thương 15-150cm hồi tràng (đoạn cuối ruột non), gây sốt, nôn, đi ngoài ra máu, đau bụng vùng hố chậu phải như bị viêm ruột thừa cấp và nhiều bệnh khác. Căn bệnh hiếm gặp này rất khó chẩn đoán, lại càng khó điều trị.

– Bệnh Crohn được các ông Crohn, Zinsburrg và Oppenhemer miêu tả lần đầu tiên năm 1932. Theo miêu tả, người hay mắc bệnh này thường ở độ tuổi 20-40, nam nhiều hơn nữ. Bệnh ít gặp ở dạ dày, thực quản, tá tràng và đại tràng.

+ Triệu chứng:

– Biểu hiện của bệnh Crohn gồm 2 thể: Cấp tính và mãn tính.

– Thể cấp tính: Bệnh có biểu hiện và diễn biến giống viêm ruột thừa cấp: Có sốt cao 39 – 40 độ C, đau bụng vùng hố chậu phải, đau sau khi ăn, đại tiện xong thì giảm đau. Bệnh nhân buồn nôn hoặc nôn, có khi đi ngoài lỏng, phân có máu. Bụng chướng, ấn đau, đôi khi sờ thấy một khối dài ở hố chậu phải. Xét nghiệm máu thấy bạch cầu tăng.

– Thể mãn tính: Bệnh tiến triển từ từ, kéo dài 2-4 năm, có khi hơn. Người bệnh thường đến khám với các triệu chứng như ở thể cấp tính, kèm theo thiếu máu và các biến chứng như thủng ruột, hẹp lòng ruột, rò từ hồi tràng vào đại tràng, bàng quang và các cơ quan lân cận khác. Chụp X-quang đại tràng thây rỗ hình ảnh quai ruột hồi tràng giãn hay hẹp, các tổn thương viêm, loét, hoặc các đường rò.

– Bệnh Crohn là bệnh khó chẩn đoán vì đoạn hồi tràng bị tổn thương nằm ở vùng hố chậu phải, triệu chứng gần giống với viêm ruột thừa cấp, lao manh tràng, lao ruột, u nang buồng trứng xoắn, viêm buồng trứng, vòi trứng, vỡ chửa ngoài dạ con… Người bệnh cần đến bệnh viện khám ngay để có hướng điều trị đúng đắn.

+ Điều trị:

– Điều trị nội khoa bảo tồn: Là phương pháp điểu trị chủ yếu. Bệnh nhân cần chú ý đảm bảo tốt 3 khâu: nghỉ ngơi, ăn uống và thuốc men. Nên nằm tại giường đến khi hết các triệu chứng, nên ăn các thức ăn nhiều năng lượng, nhiều đạm và sinh tố, nên uống các loại kháng sinh, sinh tố, corticoid, các thuốc giảm miễn dịch và thuốc điều trị trệu chứng (theo hướng dẫn của bác sĩ).

– Điều trị phẫu thuật: Chỉ định mổ tuyệt đốì cho các trường hợp bệnh Crohn gây thủng ruột, chảy máu không cầm được, các trường hợp biến chứng nhiễm khuẩn, trường hợp có lỗ rò giữa ruột với các cơ quan khác.

2. BỆNH NHUỢC CƠ

+ Nguyên nhân:

– Đây là một loại bệnh thần kinh cơ, liên quan nhiều tới cơ chế tự miễn. Biểu hiện điển hình là bệnh nhân thấy mỏi mệt cơ tăng dần theo thời gian sinh hoạt, lao động hằng ngày; trương lực một số cơ bị giảm.

+ Triệu chứng:

– Căn bệnh trên gồm 3 thể chính:

– Nhược cơ cấp: Là thể bệnh cấp cứu, thường gặp ở thai phụ có tiền sử chữa nhược cơ, hoặc người có u ác tính ở tuyến ức. Ở thể này, các cơn mỏi cơ (nhất là cơ hô hấp) xuất hiện gần như liền nhau, gây khó thở cấp, ăn nghẹn, uống sặc.

+ Nhược cơ thông thường: Thường gặp ở nữ, ở trẻ em quãng 10 tuổi và lứa tuổi 20-40. Biểu hiện ban đầu là chứng mỏi mệt cơ theo thời gian lao động và sinh hoạt hằng ngày. Người bệnh có thể chỉ bị sụp mi mắt (một hoặc hai bên) hay nhai khó, nuốt khó, mỏi một tay chân…

+ Bệnh nhược cơ tiến triển qua các giai đoạn sau:

– Giai đoạn 1: Chỉ một nhóm cơ bị xâm phạm, thường là các cơ vận động ở mắt.

– Giai đoạn 2A: Toàn bộ các cơ bị xâm phạm nhưng chưa có xâm phạm hô hấp hoặc hầu họng.

– Giai đoạn 2B: Toàn bộ các cơ bị xâm phạm kèm theo triệu chứng hầu họng.

– Giai đoạn 3: Toàn bộ các cơ bị xâm phạm kèm theo rốì loạn hầu họng và hô hấp.

– Có thể xác định bệnh nhược cơ bằng nghiệm pháp zo.y dương tính, (cho bệnh nhân tự nhắm mở mắt 15 lần rồi mở mắt nhìn; bệnh nhân nhược cơ sẽ không mở được, mi mắt sa xuống) hoặc prostigmin dương tính (tiêm 1 ống proetigmin, sau 15 phứt, người bệnh nhược cơ sẽ có thể mở to mắt trở lại và không mỏi mệt nữa).

+ Điều trị:

– Trong điều trị bệnh nhược cơ, các bác sĩ thường kết hợp các phương pháp nội khoa và ngoại khoa, tùy theo tình trạng nặng của người bệnh. Các hướng xử trí thường được áp dụng ở Việt Nam là:

– Dùng tia X chiếu trực tiếp vào tuyến hung.

– Phẫu thuật: áp dụng với các trường hợp xác định có tuyến hung hoặc trường hợp cấp cứu. Sau mổ, tất cả bệnh nhân đểu phải tiếp tục điều trị nội khoa.

 

Triệu chứng, biến chứng và cách điều trị bệnh cúm.

BỆNH CÚM

– Là bệnh viêm nhiễm cấp tính đường hô hấp, gây nên bởi virus cúm, bệnh có khả năng lây truyền nhanh, thường thành dịch.

+ Triệu chứng:

– Bệnh cúm có nhiều thể lâm sàng, nhưng thể thường gặp là; Sau thời gian nung bệnh ngắn (khoảng một ngày), bệnh khởi phát rất đột ngột: Sốt, rét run nhiều lần trong ngày, thân nhiệt tăng lên 39-400 ngay ngày đầu, kéo dài 3 – 5 ngày kèm theo là mệt mỏi, đau nhức toàn thân, đầu đau như búa bổ, đau các cơ xương khớp, chân tay rã rời, da khô nóng, mặt bừng bừng, mắt chói, chảy nước mắt, sổ mũi, ngạt mũi, đau rát họng, có khi ho tức ngực, khạc đờm hoặc chảy máu cam, miệng đắng, buồn nôn, táo bón. Sau đó nhiệt độ giảm dần, các triệu chứng mệt mỏi toàn thân giảm dần trong 5-7 ngày. Một số bệnh nhân cao tuổi hay bị mệt nhược kéo dài, sự bình phục sẽ tiến triển chậm hơn.

– Ngoài ra, còn nhiều thể bệnh mà không rõ triệu chứng hoặc thể nhẹ, giống cảm lạnh: Chỉ có hắt hơi, sổ mũi, ho, có thể gặp thể nặng, rất nặng do biến chứng hô hấp, tim mạch, thần kinh.

+ Biến chứng:

– Suy hô hấp là biến chứng chủ yếu và nặng nhất của bệnh cúm: Viêm phổi tiên phát và thứ phát trong đó viêm phổi tiên phát là nặng nhất: Nhiệt độ không giảm trong thời gian khoảng 3 đến 5 ngày mà tiếp diễn, kèm khó thở, thở gấp, tím tái, khạc đờm có khi lẫn máu, nhanh chóng dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn rồi tử vong nếu không điều trị kịp thời.

– Bệnh cúm còn đánh thức những bệnh tiềm tàng như viêm tai, viêm xoang, viêm nhiễm đường tiết niệu,..
Bệnh cúm nếu xảy ra ở phụ nữ mang thai hay gây biến chứng về phổi hoặc xảy thai. Nếu mắc trong 3 tháng đầu có thể gặp bệnh lý thai, nhất là về hệ thần kinh trung ương, nhưng không gây quái thai.

– Bệnh cúm ác tính hiếm gặp nhưng tử vong cao, khởi đầu như cúm thường, rồi xuất hiện hội chứng suy hô hấp do phù phổi cấp tính, gây tử vong do thiếu oxy máu không khắc phục được.

+ Điểu trị:

– Chủ yếu là điều trị triệu chứng đối với thể không biến chứng: Điều trị tại nhà, nghỉ ngơi, nằm giường, uống nhiều nước, dùng thức ăn lỏng ấm, bổ, đủ vitamin, giàu vitamin C.

– Thuốc: Hạ sốt, súc miệng bằng nước muối, nhỏ mũi. Không dùng kháng sinh để dự phòng biến chứng bội nhiễm.

+ Phòng lây nhiễm:
– Khi chớm bệnh cúm, cần kịp thời triển khai các biện pháp phòng bệnh ngăn chặn dịch lan truyền.

– Khi phát hiện bệnh nhân, nên cách li tại nhà, cách li phân tán không tập trung.

– Khi tiếp xúc với bệnh nhân thì người lành, nhân viên y tế mang khẩu trang dày 4 lớp gạc, tránh tiếp xúc với người bệnh ở khoảng cách gần (dưới 1m).

– Khi bệnh lan tràn thành dịch, cần tạm thời đóng cửa các trường học, không tố chức các buổi tập trung đông người.

– Dùng các biện pháp dự phòng đặc hiệu: Kháng virus, interferon, vacxin…

 

 

Tìm hiểu về viêm thận và niệu đạo cấp, bệnh liệt dương.

1. VIÊM THẬN VÀ NIỆU ĐẠO CẤP

+ Nguyên nhàn

– Đây là trường hợp các hốc bài tiết ở thận và đường ống dẫn nước tiểu từ thận tới bàng quang bị viêm và nhiễm trùng.

– Hệ thông niệu đạo ở thận gồm nhiều nhánh nhỏ cùng dẫn nước tiểu chảy vào một đường ống lớn. Cả hệ thống này còn được gọi là “cây niệu đạo”. Tất cả các nguyên nhân gây tắc nghẽn ở cây niệu đạo (do sỏi, sự dị dạng, hoặc bị chèn ép từ bên ngoài) làm cho nước tiểu bị ứ đọng ở thận không chảy được tới bàng quang, đều có thể gây ra hiện tượng viêm và nhiễm trùng.

– Sự nhiễm trùng thường lan từ niệu đạo tới bàng quang. Tại bàng quang, đa số mầm bệnh sẽ bị tiêu diệt.
Tuy vậy, trong trường hợp nước tiểu ứ đọng chứa quá nhỉều maàm bệnh, có mủ bị ứ đọng nhiều thì có thể tràn ngược từ niệu đạo về thận làm thận bị lây nhiễm. Sự lây nhiễm qua đường máu ít khi xảy ra, thường chỉ gặp ở những người có hộ miễn nhiễm bị suy yếu.

– Điều nguy hại nhất của bệnh là có khả năng làm cho thận bị tổn thương, mỗi ngày một nặng hơn.
Bệnh này dễ xảy ra với phụ nữ hơn nam giới vì niệu đạo của phụ nữ ngắn, dễ truyền bệnh sang bàng quang hơn. Việc mang thai là điều kiện tốt cho bệnh phát triển. Những mầm bệnh thường là các loại vi khuẩn như khuẩn coli. Ngoài ra, những độc tố cũng có khả năng gây sốc cho bệnh nhân và tạo sỏi ở đường tiểu tiện.

+ Triệu chứng
– Cơn bệnh có thể xuất hiện bất chợt cùng các hiện tượng như: sốt, run người, buồn nôn hoặc nôn ói, đi tiểu chảy, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội ở một bên thận, đi tiểu thấy nóng rát, đôi khi nước tiểu có cả máu.
Cần đưa bệnh nhân tới ngay bác sĩ, nhất là trong trường hợp bệnh nhân đã bị sỏi niệu đạo hoặc đây là lần tái phát.

+ Chẩn đoán và điều trị
– Bác sĩ thường yêu cầu bệnh nhân đi thử nước tiểu để biết thành phần và tìm vi khuẩn.

– Việc dùng thuốc kháng sinh để chữa trị phải tùy thuộc vào loại mầm bệnh đã gây bệnh. Đôi khi, phải tiến hành việc loại bỏ sỏi trong niệu đạo.

– Để tránh bị tái phát, việc điều trị phải căn cứ vào nguyên nhân gây đau như: đau vì sỏi, vì niệu đạo bị dị dạng hay bị viêm mãn tính, đau do viêm bàng quang, do viêm tuyến tiền liệt,…

2. BỆNH LIỆT DƯƠNG

+ Nguyên nhân

– Đây là hiện tượng dương vật không cương cứng được ở nam giới. Bộ máy điểu khiển sự cương cứng của dương vật rất phức tạp và tinh vi, phụ thuộc vào tác dụng kích thích của các hoóc-môn, của hệ thần kinh và cả của trạng thái tâm lý. Khi có đủ các yếu tố kích thích, máu sẽ dồn vào các phần xốp và các hốc của dương vật.

– Một số mạch máu co lại giữ cho dương vật được cương cứng trong suốt thời gian máu không thoát ra được.

– Cần phân biệt hiện tượng mềm tạm thời của dương vật với hiện tượng bất lực (còn gọi là liệt dương).

– Người bị liệt dương thì dương vật lúc nào cũng không cương cứng được.

+ Cần phải làm gì?

– Không nên vội lo ngại khi thấy “cái” của mình không cương cứng được. Rất có thể, đây chỉ là trạng thái tạm thời do mệt, do làm việc quá sức, bị stress, uống rượu, hút thuốc quá độ, lạm dụng các loại thuốc kích thích, thuốc ngủ hoặc thuốc an thần. Đôi khi lại chỉ là do có tâm lý lo sợ rằng “nó” sẽ không “lên” được hoặc do cố sức “trổ tài” với người tình. Cần phải biết nghỉ ngơi, dưỡng sức và sinh hoạt có điều độ.

– Nếu hiện tượng bất lực kéo dài, cần phải nói cho bác sĩ biết. Rất có thể, bác sĩ sẽ giới thiệu bệnh nhân của mình tới các bác sĩ chuyên khoa khác như bác sĩ khoa niệu, trước khi tới các bác sĩ chuyên về tâm lý hoặc về các vấn đề tình dục.

+ Chẩn đoán và điều trị.

– Bác sĩ sẽ hỏi bệnh nhân về nếp sinh hoạt hàng ngày. Nếu dương vật vẫn cương cứng trong đêm hoặc lúc sáng sớm thì hiện tượng máu dồn vào các hốc và các phần xốp của dương vật vẫn được duy trì bình thường. Bác sĩ sẽ khám sức khỏe tổng quát cho bệnh nhân, yêu cầu đi thử máu và nếu thấy cần thiết, sẽ yêu cầu siêu âm các mạch máu có liên quan tới sự cương cứng của dương vật.

– Nhiều khi hiện tượng liệt dương sẽ khỏi sau khi bệnh nhân chịu tuân theo chế độ ăn uống có điều độ, giảm uống rượu, hút thuốc, tránh lạm dụng các thuốc kích thích, thuốc ngủ, thuốc an thần, tránh làm việc quá sức.

– Để chữa trị, bác sĩ có thể cho bệnh nhân dùng thuốc chống huyết áp, thuốc giảm cholesterol.

– Trong trường hợp bệnh nhân bị viêm các động mạch liên quan tới dương vật, những điểm của động mạch bị co hẹp lại sẽ ảnh hưởng tới khả năng dẫn máu vào dương vật nên có thể phải mổ để mở rộng mạch, tuy rằng phương pháp này cũng không đảm bảo chắc chắn thành công. Hiếm khi bệnh này có nguyên nhân do thiếu hoóc-môn (như hoóc-môn testoterone, hoóc-môn của tuyến giáp, của tuyến thượng thận). Riêng bệnh tiểu đường có khả năng làm suy yếu khả năng cương cứng và sự phóng tinh của dương vật.

– Trạng thái tâm lý của người đàn ông có tầm quan trọng hàng đầu, trong tất cả các sự cố của “cái ấy”.

– Trong số các thuốc thường được các bác sĩ dùng để chữa trị bệnh này thì loại thuốc tiêm (chích) ngay vào dương vật để làm giãn nở mạch, tỏ ra rất có hiệu quả. Ngoài ra, còn một số thuốc uống đang được nghiên cứu và thử nghiệm.

 

Xác định và điều trị loét dạ dày – tá tràng.

+ Xác định bị bệnh loét DD – TT

1. Chẩn đoán xác định loét DD – TT: Trước đây khi bệnh nhân có cơn đau loét điển hình, bác sĩ có thể tiến hành điều trị với thuốc chống loét. Trường hợp các triệu chứng không điển hình, phải chụp X-quang hoặc nội soi để xác định bệnh loét và loại trừ các bệnh khác của dạ dày, nhất là ung thư dạ dày. Các triệu chứng giúp nghĩ đến ung thư dạ dày là (1) Sụt cân, chán ăn. (2) Đi cầu phân đen và có các triệu chứng của thiếu máu mạn như xanh xao, mệt mỏi. (3) Đau bụng âm ỉ vùng thượng vị. (4) Người lớn tuổi (> 50 tuổi). (5) Có người thân trong gia đình bị ung thư dạ dày.

2. Chẩn đóan nhiễm H. Pylori: hiện nay do cần xác định có nhiễm H. Pylori hay không để quyết định việc điều trị tiệt trừ nên cẩn làm xét nghiệm chẩn đoán nhiễm H. Pylori cho bệnh nhân. Có nhiều phương pháp chẩn đoán nhiễm H, Pylori như chẩn đoán qua nội soi và các xét nghiệm không phải làm nội soi như test huyết thanh học, test tở urease, kỹ thuật PCR….

+ Điều trị loét DD – TT

– Hiện nay việc điều trị loét DD – TT có thể phân ra hai nhóm chính: Nhóm bệnh loét DD – TT do nhiễm H. pylori và nhóm không do nhiễm H. Pylori. Nhóm sau thường do dùng các thuốc kháng viêm, thuốc trị đau nhức, do stress, do bệnh gan mãn tính.

1. Đốì với nhóm loét DD – TT do nhiễm H.Pylori, việc điều trị chủ yếu là dùng các phác đồ điều trị tiệt trừ H. Pylori. Các phác đồ 3 thuốc gồm một thuốc chống loét (Bismuth, ức chế thụ thể H2 của Histamine, ức chế bơm proton) kết hợp với hai kháng sinh (Tétracyđine, Clarythromycine, Amoxicilline, Imidazole). Các phác đồ 4 thuốc gồm 2 thuốc chống loét kết hợp với 2 kháng sinh thường dùng trong trường hợp thất bại với phác đồ 3 thuốc. Các phác đồ điều trị thường có các tác dụng phụ như chua miệng, đắng miệng, nhức đầu, buồn ói và ói. Người bệnh cần cố gắng chịu đựng để uống đủ liều điều trị vì nếu bỏ dở điều trị sè làm tăng nguy cơ kháng thuốc về sau.

2. Đối với nhóm loét DD – TT không do nhiễm H. Pylori; Việc điểu trị gồm (1) Ngưng các thuốc gây loét, (2) Điều trị với các thuốc chống loét. Trường hợp phải điều trị lâu dài các bệnh mãn tính với các thuốc có thể gây loét thì nên điều trị kết hợp với thuốc chống loét. Trường hợp bệnh nhân đã bị loét nếu cần phải điều trị với các thuốc có thể gây loét thì bắt buộc phải điều trị kèm với các thuốc chống loét.

-Các thuốc chống lóet DD – TT không do nhiễm H. Pylori gồm 3 nhóm: (1) Thuốc kháng axít, (2) Thuốc chống tiết axít và (3) Thuốc bảo vệ niêm mạc.

2.1. Thuốc kháng axít: là những thuốc có khả ưang trung hòa axít ửua địch dạ dày. ứac thuốc kháng axít chủ yếu là các muối aluminium hoặc magnesium (hydroxide, phosphatc) hiện nay được sử dụng trong điều trị triệu chứng của bệnh loét như đau bụng, đầy bụng, ợ hơi. Các thuốc thường chỉ có tác dụng khoảng 1 – 2 giờ nên phải dùng nhiều lần trong ngày. Các muối alumium thường gây táo bón; ngược lại, các muối magnesium thường gây tiêu chảy.

2.2. Các thuốc chống tiết axít: Gồm các thuốc ức chế thụ thể H2 và ức chế bơm proton làm giảm tiết axít của tế bào thành.

2.3. Các thuốc bảo vệ niêm mạc gồm: Bismuth dạng keo có tác dụng che phủ ổ loét để bảo vệ ổ loét chống lại axít và pcpsine của dịch vị.

– Sucralfate: Là một hỗn hợp sucrose sulfate và aluminium hydroxide, ở môi trường axít, hỗn hợp này tạo thành dạng gel che phủ ổ loét.

– Proetaglandine: ức chế tiết axít đồng thời có tác dụng bảo vệ niêm mạc DD – TT qua cơ chế kích thích tái tạo niêm mạc và tăng tiết nhày.

3. Điều trị hỗ trợ:

Bên cạnh việc điều trị tiệt trừ H. Pylori hoặc điều trị thuốc chống loét bệnh nhân cần kiêng cữ các thức ăn chua cay, nhiều mỡ béo và phải ngưng hút thuốc lá, ngưng uống bia, rượu. Tránh bớt các nguyên nhân gây căng thẳng thần kinh.

Viêm loét dạ dày – tá tràng.

BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY – TÁ TRÀNG

+ Bệnh loét dạ dày tá tràng:
Loét dạ dày – tá tràng (DD – TT) là mội bệnh đã được biết từ thời cổ đại. Bệnh xảy ra ở mọi quốc gia, mọi lửa tuổi. Tỉ lệ bệnh ở các nước là 1 – 3% dân số, và trong suốt một đời người khả năng mắc bệnh loét là 10%.

Việc điều trị bệnh loét DD – TT đã có những thay dổi lớn trong ba thập niên trở lại đây với việc phát triển các thuốc chống loét thế hệ mới từ thập niên 1970 và việc phát hiện và xác định vai trò gây bệnh loét của vi khuẩn Helicobacter Pylori từ thập niên 1080.

+ Nguyên nhân và các yếu tố gây bệnh
Quan niệm về sự sinh bệnh loét được hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 20. Đó là do bị mất quân bình giữa 2 lực đối kháng tác động lên niêm mạc DD – TT; Lực tấn công làm phá hủy niêm mạc DD – TT mà tiêu biểu là HCl và pepsin của dịch dạ dày; lực bảo vệ đảm bảo sự nguyên vẹn của thành DD – TT do hàng rào nhày và lớp tế bào niềm mọc DD – TT. Theo quan niệm này, bất cử một tác nhân nào làm gia tăng lực tấn công hoặc làm giảm lực bảo vệ đều có thể gây bệnh loét DD – TT.

Trong số các tác nhân gây bệnh, H. Pylori là nguyên nhân quan trọng nhất. Các thuốc AINS, Steroides có thể gây loét ở người phải điều trị dài ngày với các thuốc này. Các stress vể tâm lý thần kinh cũng có thể gây bệnh loét. Thuốc lá làm tăng nguy cơ bị loét, tăng tỉ lệ tái phát và biến chứng của bệnh loét. Rượu cũng tăng tỉ lệ tái phát loét.

+ Triệu chứng
Chỉ khoảng 50% bệnh nhân loét DD – TT là có triệu chứng điển hình, 40 – 45% có triệu chứng mơ hổ, không điển hình, những trường hợp này rất khó chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của DD – TT như viêm DD – TT, ung thư DD. Có 5 – 10% bệnh nhân loét hoàn toàn không có triệu chứng (loét câm), hay gặp ở người lớn tuổi.

1. Cơn đau loét: Là triệu chứng điển hình của bệnh loét DD – TT với các đặc điểm (1) Đau thượng vị (vùng trên rốn và dưới mỏm xương ức). (2) Đau có chu ký theo bữa ăn và theo mừa. (3) Đau xuất hiện hoặc tăng khi ăn các thức ăn chua, cay hay khi bị căng thẳng thần kinh và giảm khi uống các thuốc kháng axit hay thuốc băng niêm mạc dạ dày.
2. Các triệu chứng không điển hỉnh như đầy bụng, ợ hơi, ợ chua, chậm tiêu hóa rất khó phân biệt là do loét hay do một bệnh khác của dạ dày như viêm DD, ung thư DD, hay chứng loạn tiêu hóa không do loét. Trường hợp này phải chụp X- quang hoặc nội soi DD – TT mới chẩn đoán chắc chắn.

3. Các trường hợp loét câm thường chỉ được chẩn đoán khi xảy ra biến chứng.

4. Bệnh thường hay tái phát. Trước đây, sau khi được chữa lành, có 60 – 80% tái phát trong vòng 2 năm. Từ thập niên 80, khi xác định được vai trò gây bệnh của vi khuẩn H. Pylori, việc điều trị tiệt trừ H. Pylori đã làm giảm tỉ lệ tái phát còn khoảng 10%.

+ Các biến chứng của bệnh loét DD – TT
1. Xuất huyết tiêu hỏa (chảy máu đường tiêu hóa): Xuất huyết hay chảy máu thường rầm rộ với ói ra máu, có hoặc không có đi tiêu phân đen. Bệnh nhân cần được nhập viện ngay để điều trị cấp cứu.
2. Thủng DD – TT: Xuất hiện cơn đau bụng đột ngột, dữ dội vùng thượng vị như dao đâm, thường có nôn ói và bụng cứng như gỗ. Biến chứng này phải được mổ cấp cứu, nếu không bệnh nhân sẽ từ vong.

3. Hẹp môn vị: Lúc đầu ăn chậm tiêu, đầy bụng, nặng bụng, ợ nước chua nhất là về buổi chiều; tiếp theo bệnh nhân bị nôn ói sau ăn ngày càng nhiều hơn. Bệnh nhân thường gầy sút do bị nôn ói. Biến chứng này phải được điều trị bằng phẫu thuật.

4. Hóa ung thư: Ngày nay người ta thấy có chứng cứ nhiễm H. Pylori gây viêm loét dạ dày lâu dài có thể dẫn đến ung thư dạ dày.