Xuất tinh ra máu.

+ Dự phòng bệnh tái phát

– Giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý.

– Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực. Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng. Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe.

– Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy, người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc. Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thi cần đeo đai lưng.

– Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo.

2. XUẤT TINH RA MÁU

Xuất tinh ra máu (Hemospermia) là tình trạng có máu lẫn trong tinh dịch khi xuất tinh. Thông thường, xuất tinh ra máu là bệnh lành tính và tự khỏi nhưng rất hay tái phát.

+ Nguyên nhân

Viêm là một trong các nguyên nhân thường gặp nhất. Quá trình viêm gây kích thích niêm mạc dẫn đến hiện tượng sung huyết và phù nề của các ống, các tuyến của đường dẫn tinh, túi tinh, tuyến tiền liệt, ụ núi và niệu đạo. Từ đó gây xuất tinh ra máu.

Các nguyên nhân gây viêm là do nhiễm khuẩn, chấn thương và sỏi túi tinh hay canxi hóa tuyến tiền liệt. Nhiễm khuẩn thường gặp như: Enterohacteria (chủ yếu làEscherichia coli), chlamydia, gram dương, trực khuẩn lao và một số loại virút.

Cần lưu ý: Lao là nguyên nhân chủ yếu ở Việt Nam. Các chấn thương gây viêm hay gặp trong các trường hợp quan hệ tình dục quá nhiều hay kiêng quan hệ tình dục quá lâu.

+ Tắc túi tinh và các nang túi tinh

Các nguyên nhân này gây căng và dãn túi tinh lâu ngày làm đứt vỡ các mạch máu dưới niêm mạc.

+ Ung thư

Các loại ung thư thường gặp phải kể đến là ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường dẫn tinh, ung thư tinh hoàn, u lympho.

+ Các bệnh toàn thân

Các bệnh toàn thân thường gặp là rối loạn đông máu, hémophilie, xơ gan, tăng huyết áp.

+ Nhóm do các thủ thuật

Sinh thiết tuyến tiền liệt qua trực tràng, đặt dụng cụ niệu đạo, chạy tia xạ trong ung thư tuyến tiền liệt, sau thắt ống dẫn tinh, sau cắt tinh hoàn…

+ Dãn tĩnh mạch niệu đạo

Trường hợp này, tinh dịch thường không có lẫn máu mà chỉ đái máu một bãi sau khi cương dương vật.

+ Chẩn đoán

– Chẩn đoán xác định

Lâm sàng: Tinh dịch có màu đỏ hoặc màu nâu hoặc màu rỉ sắt

Xét nghiệm tinh dịch đồ: Có nhiều hồng cầu trong tinh dịch

– Chẩn đoán nguyên nhân

. Các xét nghiệm nước tiểu.

Phân tích nước tiểu, nuôi cấy vi khuẩn nước tiểu và làm kháng sinh đồ, tìm tế bào ác tính trong nước tiểu.

. Các xét nghiệm tinh dịch.

Làm tinh dịch đồ để tìm hổng cầu và bạch cầu, nuôi cấy vi khuẩn tinh dịch và làm kháng sinh đồ, tìm tế bào ác tính trong tinh dịch.

. Các xét nghiệm máu.

Công thức bạch cầu, tốc độ máu lắng, các xét nghiệm đánh giá chức năng đông máu, kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) đối với người trên 45 tuổi.

. Các xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân lao đường tiết niệu.

Ngoài các xét nghiệm; công thức bạch cầu, tốc độ máu lắng, để tìm nguyên nhân lao cần làm thêm các xét nghiệm sau: Mantoux, tìm kháng thể kháng lao, phản ửng PCR với trực khuẩn lao (bệnh phẩm là tinh dịch).

+ Siêu âm ổ bụng

Đánh giá tình trạng của gan, thận, bàng quang và tuyến tiền liệt …

+ Siêu âm qua trực tràng

Là một phương tiện chẩn đoán hữu hiệu để chẩn đoán các bệnh lý khu vực túi tinh và tiền liệt tuyến như: Can xi hoá tiền liệt tuyến, sỏi túi tinh, giãn túi tinh, nang túi tinh hoặc ống phóng tinh.

+ Soi niệu đạo và bàng quang

Soi bàng quang, niệu đạo có thể phát hiện ra các tổn thương ở niệu đạo, tuyến tiền liệt. Thông thương soi niệu đạo, bàng quang khi dương vật cương thì sẽ xác định được giãn mao mạch và tĩnh mạch của niệu đạo cũng như là của tuyến tiền liệt, các u máu niệu đạo một cách dễ dàng.

+ Chụp cộng hưởng từ vùng tiểu khung

Cộng hưởng từ là một phương tiện chẩn đoán hình ảnh có giá trị nhất trong thăm dò túi tinh và tuyến tiền liệt, được chỉ định trong các trường hợp có nghi ngờ bệnh lý trên siêu âm qua trực tràng.

Nguyên nhân và những triệu chứng khi đĩa đệm bị thoát vị?

THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

Nhiều bệnh nhân thường tìm đến với thấy thuốc vì triệu chứng đau lưng, đau lan xuống một hoặc hai chân, hoặc đau cột sống cổ lan xuống một hoặc hai tay, bệnh nhân đến bệnh viện khám vì cảm giác yếu cơ.

Khi được chẩn đoán bị thoát vị đĩa đệm có nghĩa là nhân của đĩa đệm (hay còn gọi là chất dịch) đã thoát ra ngoài và chèn ép trên rễ thần kinh hoặc trên tủy sống gây các triệu chứng trên.

Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh có thể bị tàn phế do liệt, teo cơ hoặc đại tiểu tiện không tự chủ, làm sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động.

+ Đĩa đệm là gì và điều gì xảy ra khi bị thoát vị đĩa đệm?

Đĩa đệm là một miếng lót làm giảm sốc nằm giữa hai thân đốt sống, đĩa đệm sẽ trở nên giòn dễ vỡ theo thời gian.

Ở những người trẻ thì đĩa đệm mềm dẻo hơn những người già, cũng giống như những cấu trúc khác trong cơ, chúng trở nên mất tính dẻo dai và bền chắc, theo thời gian chúng dễ bị tổn thương, thậm chí ở những người trẻ ở độ tuổi 30 cũng trường hợp bị hư hỏng đĩa đệm khoảng 30%.

Khi một đĩa đệm mất tính mềm deo, nó có thể bị rách ra và khi đó một chất dịch thoát ra ngoài, hiện tượng này gọi là thoát vị đĩa đệm, chất dịch này có thể đè lên rễ thần kinh hoặc tủy gây lên tình trạng đau tức khi khối thoát vị đó đủ lớn.

+ Nguyên nhân gì gây ra thoát vị đĩa đệm ?

Ngoài nguyên nhân do thoái hoá tự nhiên, do bị tai nạn té ngã thì người bệnh bị thoát vị đĩa đệm phần nhiều là do tư thế lao động, tư thế ngồi gây cong vẹo cột sống, thay đổi tư thế một cách đột ngột, mang vác nặng sai cách.

Thường gặp nhất là việc bê vác vật nặng (thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng, thoát vị đĩa đệm)

+ Những triệu chứng gì khi đĩa đệm bị thoát vị?

– Đau: Đau thường xuất hiện sớm nhất, đau bắt đầu sau sự té ngă, đau xuất phát từ cột sống, lan xuống hai tay hoặc hai chân tùy theo vị trí thoát vị ở lưng hay ở cổ.

Dấu hiệu kiến bò hay tê bì: Bệnh nhân có cảm giác kiến bò hay tê bì một số vùng da mà rễ thần kinh đó chi phối, dấu hiệu nay thường xảy ra trên vùng da có cảm giác đau.

Yếu cơ: Dây thần kinh chi phối vận động, bị chặn dẫn truyền những xung động thần kinh từ não bộ xuống do đó gây tình trạng yếu nhược cơ.

– Bí trung, đại tiện: Những triệu chứng này rất quan trọng bởi vì nó là dấu hiệu của hội chứng chùm đuôi ngựa, đây là tình trạng cần phải được điều trị cấp cứu, bệnh nhân nên đi khám ngay, nếu như có tình trạng bí trung đại tiện hoặc bệnh nhân có cảm giác tê bì quanh bộ phận sinh dục ngoài. Tất cả những triệu chứng trên là do kích thích của rễ thần kinh.

+ Làm thế nào để chẩn đoán thoát vị đĩa đệm?

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm không phải dễ dàng. Để xác định đĩa đệm bị tổn thương và thoát vị, bác sĩ phải thử cảm giác sức cơ, phản xạ, làm điện cơ và những xét nghiệm cần thiết, chụp MRI.

Qua đó bác sĩ sẽ có thể đánh giá được hình thái, tính chất tổn thương đĩa đệm, vị trí thoát vị vào ống sống hay vào lỗ liên hợp, cũng như mức độ hẹp ông sống do thoát vị đĩa đệm gây ra. Từ đó lập kế hoạch, quyết định các biện pháp điều trị hợp lý.

+ Các phương pháp điều trị hiện nay

MRI là xét nghiệm cận lâm sàng hết sức cần thiết để kết luận thoát vị đĩa đệm, tùy thuộc vào mức độ và những triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ quyết định điều trị nội khoa hay chỉ định phẫu thuật. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị như làm giảm áp lực nhân đĩa đệm thông qua:

– Cắt đốt sóng cao tần Radiofrequency. Nguyên lý của phương pháp là đưa sóng radio vào vùng đĩa đệm thoát vị thông qua một mũi kim qua da. Với nhiệt độ tỏa ra từ các bước sóng radio làm cho khối thoát vị bị thu nhỏ, trở về vị trí cũ làm giải phóng thần kinh bị chèn ép.

– Laser dùng hiệu ứng nhiệt của tia laser để hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng chèn ép thần kinh.

– Lấy nhân đệm bằng phương pháp mổ hở.

– Phương pháp mổ nội soi: Với trình độ khoa hoc kỹ thuật hiện nay, người ta đã sản xuất ra những trang thiết bị cực nhỏ để có thể đưa qua những lỗ phẫu thuật rất nhỏ để lấy khỏi thoát vị mà những mô mềm chung quanh ít tàn phá nhất, đó là chính là phương pháp phẫu thuật nội soi.

+ Biện pháp phòng tránh và luyện tập cho người bệnh bị thoát vị đĩa đệm.

– Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.

– Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hàng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm.

– Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom.

– Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất.

– Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.

 

Nguyên nhân tai biến mạch máu não?

Mới đây, còn phát hiện thấy viagra còn có thể làm tắc nghẽn dòng máu đến nuôi thần kinh thị giác, gây rối loạn thị giác ở nhiều mức độ khác nhau, đôi khi dẫn đến mù lòa đột ngột. Các biệt dược cùng nhóm như levitra, cialis cũng có tai biến tương tự.

Thuốc chữa ED không phải là thuốc làm tăng ham muốn tình dục. Không thể dùng chúng để tạo hứng thú trong sinh hoạt đôi lứa hay chơi bời.

Một vài sai sót trong dùng thuốc cần khắc phục ED do nhiều nguyên nhân, thuốc chữa ED có nhiều nhóm cơ chế khác nhau, ngay từng biệt dược cùng nhóm cũng có sự dị biệt. Chẩn đoán đúng nguyên nhân, chỉ định đúng thuốc mới có thể thành công.

Tai biến do thuốc gây ra gắn liền với các bệnh tật (có khi là những bệnh tật đưa đến rối loạn cương). Vì vậy việc dùng thuốc cần phải có sự khám xét chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa. Trong khi đó, một số người cứ tự ý mua thuốc dùng, sẽ khó đạt kết quả, có khi còn bị tai biến.

Thuốc chữa ED chỉ có kết quả nhất định. Không nên quá ký vọng vào thuốc. Nếu quá kỳ vọng sẽ dẫn đến lạm dụng hoặc gặp thất bại dễ sinh chán nản.

Thuốc chữa ED không phải là cách duy nhất. Có những liệu pháp khác đóng một vai trò quan trọng: tâm lý tình dục, bồi bổ sức khỏe chung, chữa một số bệnh có liên quan đến ED. Đôi khi cần chọn các liệu pháp này là chính hoặc phối hợp với liệu pháp dùng thuốc.

Thuốc chữa ED cần phải dùng theo đơn. Quy định này không hạn chế việc dùng thuốc mà làm cho người bệnh dùng đúng thuốc, có hiệu quả, tránh tai biến, cần tuân thủ quy định có lợi này.

* TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

Tai biến mạch máu não xảy ra khi mạch máu cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho phần mô não đó bị tắc nghẽn hay vỡ ra. Khi bệnh xảy ra bệnh nhân không cảm thấy đau đớn nhưng diễn biến đột ngột vì vậy bệnh nhân không gọi được người xung quanh giúp đỡ. Biểu hiện của đột quỵ là lú lẫn, hôn mê.

Ngoài ra có thể có nhức đầu, nôn ói hoặc co giật xảy ra trên người đang làm việc: bình thường.

+ Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng một trong những nguyên nhân hay gặp nhất là một động mạch máu bị tác bởi những cục máu đông được gọi là huyết khối hoặc các động mạch bị xơ vữa do trong mạch máu bị ứ đọng mỡ và dày lên dần dần làm hẹp lòng mạch, cản trở dòng chảy, đến một lúc nào đó tạo thành cục máu đông.

Nếu là cục máu đông này bị kẹt lại trong não thì gọi thuyên tắc não. Cơn đột quỵ cũng có thể xảy ra khi một động mạch trong não bị vỡ ra được gọi là xuất huyết não (thường gặp ở bệnh nhân có xơ vữa mạch và tăng huyết áp).

Tai biến thường để lại di chứng nặng nề nếu không được phát hiện và điều trị đúng.

Phải làm gì khi gặp người bị đột qụy ?

– Đỡ người bệnh để không bị té ngã gây chấn thương. Để người bệnh nằm xuống chỗ thoáng, nghiêng, qua một bên đầu hơi nâng nhẹ, nếu nôn ói, móc hết đờm nhớt cho bệnh nhân dễ thở. Nếu người bệnh lơ mơ: Kiểm tra mạch, nhịp thở, đặt bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng về bên không liệt, đầu nâng nhẹ.

Nếu bệnh nhân hôn mê: Cũng xử trí như trên, kiểm tra nếu không thấy mạch đập hoặc ngừng thở, tiến hành hô hấp mồm – mồm và ép tim ngoài lồng ngực theo tỷ lệ 1: 5.

Không tự ý cho uống thuốc hoặc nhỏ thuốc hạ huyết áp hay bất kỳ loại thuốc nào khác.

– Không cạo gió.

– Gọi xe đưa ngay người bệnh đến bệnh viện gần nhất.

– Không để nằm chờ xem có khỏe lại không vì não người rất quan trọng và rất nhạy cảm. Do đó phải đưa người bệnh vào bệnh viện càng nhanh càng tốt để có thể cứu sống kịp thời các phần não chưa chết nhưng đang bị thiếu máu nuôi não hoặc đang bị chén ép.

Phòng bệnh bằng cách nào?

Tai biến mạch máu não là một biến chứng nặng, cho dù điều trị tích cực cũng dễ để lại di chứng nặng nề. Vì vậy phải điều trị các nguyên nhân gây tai biến như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tránh căng thẳng thần kinh, không uống rượu bia, không hút thuốc lá: cần khám tại cơ sở y tế nếu thấy có triệu chứng đau đầu, chóng mặt, khó ở, mệt không có nguyên nhân để được phát hiện và điều trị kịp thời.

Điều cần nói là người đã bị tai biến mạch máu não sẽ có nhiều nguy cơ tái phát. Do đó phải chú ý điều trị tích cực đề phòng ngừa tái phát.

Cụ thể phải làm việc nhẹ nhàng vừa sức, không ăn nhiều mỡ béo, chất ngọt, đường, không ăn quá mặn, ăn nhiều rau củ quả. Điều trị tăng huyết áp đái tháo đường, bệnh tim mạch… Phải tăng cường tập vận động tại nhà hoặc tập vật lý trị liệu. Uống thuốc theo đơn và tái khám đúng hẹn.

 

Nguyên nhân rối loạn cương dương?

+ Biến chứng

– Cảm lạnh có thể dẫn đến nhiễm trùng cơ hội như viêm phế quản cấp, viêm phổi cấp, viêm xoang, viêm tai giữa… Với những người hen suyễn, khí phế thủng, viêm phế quản mãn thì cảm lạnh có thể làm khởi phát những cơn kịch phát cấp tính.

– Cần phân biệt bệnh cảm lạnh với bệnh cảm cúm. Bệnh cúm khác xa với cảm, mặc dù cả hai gioosng nhau ở giai đoạn đầu, đều gây đau cổ họng, tứ chi ê ẩm và nhức đầu. Tuy nhiên, cảm ít gây sốt và hiếm khi làm thân nhiệt cao hơn 38,8 độ C, trong khi cúm có thể làm thân nhiệt bạn lên trên 39,4 độ C.

– Một điểm khác nhau nữa là khi bị cảm, bạn có thể chảy nước mắt, còn cúm làm mắt bạn bị đau đồng thời với đau lưng và tứ chi). Bệnh cúm thường lâu hết gấp đôi so với cảm. Cúm còn dẫn đến viêm phổi, gây nguy hiểm nặng cho sức khỏe của những người trẻ tuổi hoặc người cao tuổi, cũng như ở người bệnh tim, ngực, hệ miễn dịch và rối loạn chức năng thận.

+ Phòng ngừa.

Cách phòng bệnh tốt nhất là tránh tiếp xúc gần với người bệnh, rửa tay kỹ và thường xuyên, và tránh chạm mặt với miệng. Xà phòng diệt khuẩn thì không có tác dụng với virus cảm, tuy nhiên những động tác cọ rửa sẽ giúp tẩy đi các virus.

Tác nhân gây bệnh cảm lạnh là hàng trăm loại virus nên hiện chưa có vaccine phòng bệnh cảm. Theo kinh nghiệm dân gian, cũng nên phòng ngừa cảm lạnh bằng cách giữ ấm và hiện nay, cũng đã có một số nghiên cứu nhỏ ủng hộ quan điểm này.

+ Điều trị:

Cho đến nay, chưa có thuốc kháng sinh hay kháng virus nào tỏ ra hiệu quả với bệnh cảm. Tất cả những điều trị trong bệnh cảm chỉ là điều trị triệu chứng: giúp cho người bệnh cảm thấy dễ chịu hơn trong giai đoạn nặng của bệnh.

Thông thông thường bệnh sẽ nặng nhất vào các ngày thứ 2-3 của bệnh, sau đó các triệu chứng sẽ lui dần. Do đó, các thuốc điều trị trong cảm cúm nên được cho càng sớm càng tốt. Hơn nữa, việc dùng thuốc sớm có thể bạn chế được những biến chứng như viêm xoang, viêm tai giữa của bệnh dù chưa được chứng minh bởi các công trình nghiên cứu lớn.

* RỐI LOẠN CƯƠNG DƯƠNG

+ Nguyên nhân

Rối loạn cương dương viết tắt là ED (Erectile Dysfunction) do:

– Bệnh lý thần kinh: Đột quỵ, não suy (Alzheimer), tổn thương tủy, thần kinh, do tiểu đường, tổn thương hay phẫu thuật ở vùng chậu (phẫu thuật ung tuyến thư tiền liệt, phẫu thuật ung thư bàng quang).

– Bệnh rối loạn mạch máu: Cholesterol cao, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, tổn thương mạch máu do tiểu đường.

– Rối loạn nội tiết: Giảm testosteron, tăng prolactin, suy tuyến giáp.

– Dùng một số thuốc (các thuốc chữa tăng huyết áp, chống loạn nhịp tim, chống trầm cảm, chống động kinh, an thần gây ngủ, kháng histamin) hay do dùng một số chất (thuốc lá, rượu).

– Các yếu tố tâm lý: Do không yêu, không hòa thuận, chán ghét sự giao tiếp xác thịt (quá khứ chịu những cú sốc tinh thần như bị cưỡng dâm). do stress hay do ức chế bởi nhiều công việc khác (khó khăn trong đời sống).

– Bệnh toàn thân hay tuổi già (suy thận mạn, tiếu đường, bệnh tim, cao tuổi).

Thuốc chữa rối loạn cương dương. Thuốc chữa ED) gồm nhiều nhóm, mỗi nhóm có một cơ chế và đáp ứng riêng.

– Nhóm ức enzym PDE-5 (phosphadiesterase-5) Gồm các biệt dược vingra, levitra, cialia. Chúng ức chế enzym PDE-5 nên tăng lượng oxid nitric, gây giãn mạch, máu dồn đến vùng cơ quan sinh dục, gây cương cứng dương vật.

Việc cương cứng dương vật phải qua nhiều khâu trung gian phức tạp mà khâu tăng oxid nitric là mắt xích cuôi cùng. Do chỉ có một cơ chế duy nhất ấy, nên nhóm thuốc này cũng không thể đáp ứng cho mọi trường hợp rối loạn cương do các nguyên nhân rất đa dạng.

Chẳng hạn với số đông người bệnh thì đáp ứng được khoảng 70% nhưng với người bệnh có tiền sử phẫu thuật hay bị bệnh tiểu đường thì chỉ đáp ứng 40-50%, thậm chí có trường hợp hoàn toàn thất bại.
Thuốc chữa ED nhóm ức chế emzym PDK-5 gây ra một số tai biến. Bản thân thuốc làm giãn mạch nên ngay với người bình thường sau khi dùng cũng có thể làm hạ huyết áp dẫn tới nhịp tim nhanh, rung nhĩ.

Khi bị các bệnh (tim mạch, tăng huyết áp, tăng choleslerol, tiểu đường…) mà dùng thuốc nhóm này, nhất là khi đang dùng thuốc chữa các bệnh trên, tai biến càng dễ xảy ra hơn.

Chẳng hạn thuốc chống đau thắt ngực(nitroglycerin), thuốc chữa phì đại tuyến tiền liệt (cardura, formax), thuốc chữa tăng huyết áp chẹn beta (propanolol) khi dùng đồng thời sẽ làm tăng hiệu lực của thuốc chữa ED làm giãn mạch mạnh, tụt huyết áp, thậm chí gây tử vong.

Trung tâm giám sát Upsalla (Thụy Điển) thống kê tại cộng đồng châu Âu có 616 trường hợp tử vong tim mạch có liên quan đến dùng thuốc viagra.

 

Điều trị bệnh Benrger và cảm lạnh.

Điều trị:

Cai thuốc lá dưới mọi hình thức:

– Khi được chẩn đoán bệnh Buerger, bệnh nhân cần bỏ thuốc lá để chặn đứng diễn tiến của bệnh. Phản ứng viêm sẽ ngừng lại khi ngừng hút thuốc. Đa số bệnh nhân bỏ được thuốc lá sẽ không còn nguy cơ bị cắt bỏ ngón về sau này. Những người tiếp tục hút thuốc sẽ khiến bệnh nặng hơn và cần phải cắt bỏ ngón hoại tử.

Bỏ thuốc lá rất khó. Trước đây, có thể bạn đã hiểu rõ tác hại của thuốc lá và từng tìm cách từ bỏ nó nhưng không thành công.

Hãy trao đổi với bác sĩ về các chiến lược để bỏ thuốc lá. Hiện đã có một số thuốc giúp bạn vượt qua được cơn thèm thuốc.

Tuy nhiên, bạn không thể dùng các sản phẩm thay thế có chứa nicotine như miếng thuốc dán hoặc kẹo sing-gum, vị nicotin trong các sản phẩm này cũng sẽ ảnh hưởng đến bệnh Buerger.

– Do bắt buộc phải từ bỏ thuốc lá, bác sĩ đôi khi sẽ khuyến cáo những biện pháp mạnh. Ví dụ, bác sĩ có thể kiểm tra nước tiểu định kỳ để biết chắc chắn rằng bạn không còn hút thuốc nữa.

Một biện pháp nữa là áp dụng chương trình cai thuốc lá nội trú. Bạn sẽ phải sống tập trung tại một cơ sở điều trị, đôi khi tại bệnh viện, trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần. Trong thời gian điều trị, hàng ngày bạn sẽ được tham gia các khoá tư vấn cùng các hoạt động khác để giúp vượt qua sự thèm thuốc và luyện tập cách sống không có thuốc lá.

Các điều trị khác:

Bệnh Benrger không thể chữa khỏi được. Bác sĩ có thể dùng nhiều loại thuốc để giảm bớt các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh.

Các chọn lựabao gồm:

– Thuốc để cải thiện lưu lượng máu và làm tan cục máu đông.

– Phẫu thuật cắt lọc các dây thần kinh bị tổn thương (phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm) để giảm đau.

– Đoạn chi, nếu nhiễm trùng và hoại thư xảy ra.

+ Phòng ngừa:

Bạn có thể phòng ngừa bệnh Buerger, bằng cách bỏ thuốc lá. Nếu bạn không nghiện, xin hãy tránh xa điếu thuốc.

Tự chăm sóc:

– Hãy chăm sóc kỹ các ngón tay và ngón chân của mình khi bị bệnh Buerger.

– Kiểm tra phần da ở tay, chân mỗi ngày để phát hiện những vết cắt và trầy xước. Lưu lượng máu đến nuôi các chi không đủ khiến cơ thể khó chống chọi với nhiễm trùng. Những vết rách ra và trầy xước nhỏ sẽ có thể là tiền đề cho những nhiễm trùng nặng sau này.

– Rửa kỹ các vết trầy xước da và băng sạch. Hãy theo dõi sát vết thương xem chúng có lành lại không.

– Nếu vết thương xấu đi, Cần phải khám bệnh ngay.

* CẢM LẠNH

+ Giới thiệu chung.

Cảm hay cảm lạnh là một trong những nhóm bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus gây ra, có tính lây lan cao. Thường gặp nhất là hai nhóm virus: Picornavirus (bao gồm Rhinovirus) và Coronavirus.

+ Dịch tể.

Nhiễm trùng đường hô hấp trên là loại nhiễm trùng phổ biến nhất ở người lớn và trẻ em. Trung bình, người lớn thường bị cảm 3 lần/năm nhưng cũng không phải bất thường nếu ai đó bị 6 lần.

Tỉ lệ mắc bệnh cảm cao nhất là ở em bé và trẻ đang tập đi vì hệ miễn dịch của chúng chưa phát triển. Trẻ đi học có thể nhiễm cảm cả chục lần trong năm. Con số này sẽ giảm theo độ tuổi. Những người có hệ miễn dịch tốt đối với nhiều loại virus có thể chỉ bị cảm 1 -2 lần hoặc thậm chí không bị.

Virus nào cũng đều hoạt động quanh năm, nhưng phần đông chúng ta bị nhiễm cảm vào mùa thu và mùa đông (khoảng 60%). Có lẽ vì vào mùa thu và mùa đông, cũng là mùa trẻ em đi học, thời tiết làm người ta ở trong nhà nhiều hơn và tiếp xúc với người khác gần hơn, nên khả năng lây lan virus tăng lên.

+Tác nhân gây bệnh:

Cảm lạnh thường do một trong 100 loại virus thuộc nhóm Rhinovirus (một loại của Picornavirus) gây ra. Ngoài ra còn có các loại virus khác như Coronavirus, adonovirvis, emerevirus. Do đó, không thể có miễn nhiễm với bệnh cảm, nghĩa là người bệnh cảm rồi vẫn có thể mắc lại.

Virus lây truyền từ người qua người bằng một trong 2 cách:

+ Khi người bệnh ho hay hắt hơi.

+ Tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với nước bọt hoặc dịch tiết của người bệnh.

+ Triệu chửng:

Thông thường, triệu chứng xuất hiện sau 2 đến 5 ngày tiếp xúc với virus, cá biệt có trường hợp khỏi phát sau 10 giờ. Biểu hiện đầu tiên của cảm thường chỉ là đau hay rát họng.

Các triệu chứng thường gặp khác là chảy mũi, nghẹt mũi, ho hoặc hắt hơi. Những triệu chứng này thưòng đi kèm với đau cơ, mỏi mệt, nhức mỏi, khó chịu, nhức đầu, chán ăn. Cảm lạnh đôi khi làm sốt, nếu sốt cao có thể làm người bệnh kiệt sức (thường gặp ở bệnh cúm hơn).

Những triệu chứng của cảm lạnh thường mất đi sau 1 tuần, nhưng cũng có khi kéo dài liền 14 ngày, trong đó ho thường kéo dài hơn các triệu chứng khác. Trẻ em thường có những triệu chứng nặng hơn, và có thể gặp sốt, phát ban.

 

 

 

Viêm thuyên tắc mạch máu.

+ Nguyên nhân:

Bệnh Buerger xảy ra do viêm các động mạch và tĩnh mạch ở cánh tay và cẳng chân.

Các tế bào viêm và đôi khi các huyết khối (cục máu đông) hình thành ở mạch máu, chặn dòng chảy của máu đến và máu đi ở chân tay người bệnh.

Giảm lưu lượng máu sẽ khiến các mô ở tay chân không nhận đủ oxygen và các chất dinh dưỡng để duy trì hoạt động.

Điều này đưa đến các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh Buerger, bắt đầu bằng đau và yếu các ngón tay, ngón chân rồi sau đó lan rộng đến các bộ phận khác của cánh tay và cẳng chân.

Hiện chưa biết rõ điều gì đã khởi động cho phản ứng viêm và hình thành huyết khối, các nhà nghiên cứu cho rằng có thể do thuốc lá kích thích yếu tố miễn dịch tế bào làm viêm và gây tổn thương thành mạch.

* Yếu tố nguy cơ

Hút thuốc lá làm tăng rất cao nguy cơ bệnh Buerger. Người nghiện thuốc lá nặng rất dễ mắc bệnh. Bệnh xảy ra khi dùng bất cứ dạng thuốc lá nào kể cả xì gà và thuốc lá nhai.

Hiện giờ vẫn chưa rõ thuốc lá tác động ra sao để làm tăng nguy cơ bệnh nhưng hầu như tất cả những người được chẩn đoán bệnh Buerger đều có dùng thuốc lá.

Tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở vùng Trung Đông và Viễn Đông là nơi có nhiều người nghiện thuốc lá nhất.

Bangla Desh hiện là quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh trong dân cao nhất thế giới do người dân, theo tập quán, nghiện nặng một loại thuốc lá thô tự trồng và tự chế biến.

+ Khi nào cần đi khám bệnh?

Khi bạn có những triệu chứng và dấu hiệu gợi ý bộnh Buerger: tê tay chân, yếu tay chân, tay chân lạnh hơn bình thường, đi khập khiễng gián cách.

+ Kiểm soát và chuẩn đoán.

Bác sĩ sẽ hỏi bạn về chiệu chứng và dấu hiệu. Không một xét nghiệm nào có thể xác định chính xác bạn có bị bệnh hay không.

Bác sĩ sẽ chỉ định một số xét nghiệm để hướng đến chẩn đoán, và phân biệt với những bệnh lý khác. Các xét nghiệm này có thể bao gồm:

Xét nghiệm máu: Xét nghiệm có thể tìm thấy trong máu một số chất (kháng thể) giúp ta loại trừ những bệnh lý khác gây triệu chứng và dấu hiệu tương tự.

Ví dụ, xét nghiệm máu có thể giúp loại trừ bệnh xơ cứng bì, lupus, các rối loạn đông máu, đái tháo đường…

Dấu hiệu Allen: bệnh nhân nắm chặt bàn tay. Bác sĩ dùng bàn tay mình siết chặt cổ tay người bệnh. Sau đó, bệnh nhân mở lòng bàn tay và bác sĩ cũng buông tay mình khỏi cổ tay bệnh nhân.

Dựa trên thời gian phục hồi màu sắc ở bàn tay bệnh nhân, sơ bộ có thể đánh giá lưu lượng của các mạch máu. Máu đến bàn tay một cách châm chạp là dấu hiệu gợi ý cho bệnh Buerger.

Chụp động mạch: chụp động mạch còn gọi là chụp mạch máu, giúp thầy thuốc hiểu rõ tình trạng của các động mạch. Bác sĩ tiêm cân quang vào động mạch sau đó chụp X-quang hoặc dùng các kỹ thuật chẩn đoánhình ảnh khác.

Các chỗ tắc nghẽn trong lòng động mạch sẽ được phát hiện ngay, Bác sĩ có thể chỉ định chụp động mạch cân quang ở cả hai tay lẫn hai chân ngay cả khi bạn chưa có triệu chứng của bệnh.

Bệnh Buerger thường gây tổn thương ở nhiều chi, chụp động mạch sẽ giúp phát hiện sớm tổn thương hầu có kế hoạch điều trị kịp thời trước khi các dấu hiệu và triệu chứng xảy ra.

Siêu âm Doppler mạch máu, chụp MSCT 64, chụp động mạch xoá nền kỹ thuật số (DSA) là những phương pháp mới để chẩn đoán bệnh Buerger.

+ Biến chứng:

Khi bệnh nặng hơn, lưu lượng máu đến các chi sẽ giảm. Do tắc nghẽn tại động mạch, máu khó đến được các đầu ngón tay và ngón chân.

Các mô không nhận đủ máu sẽ thiếu oxy và chất dinh dưỡng để sống còn. Hoại tử vùng da và mô ở đầu ngón tay, ngón chân sẽ xảy ra.

Các dấu hiệu và triệu chứng hoại tử là: da đổi màu xanh đen, mất cảm giác ở ngón bị tổn thương và bốc mùi hôi thối. Hoại tử là một tình trạng nghiêm trọng đòi hỏi phải cắt bỏ ngón tay hoặc ngón chân tương ứng.

 

Bệnh Buerger (viêm thuyên tắc mạch máu) là gì?

• Ở giai đoạn trung bình:

+ Bạn có thể ho và khạc đàm nhiều hơn.

+ Bạn thường bị hụt hơi khi làm nặng hoặc đi nhanh.

+ Bạn thấy khó khăn nếu làm việc nặng hay các việc lặt vặt.

+ Bạn phải mất vài tuần mới phục hồi sau một đợt cảm hay nhiễm trùng.

– Ở giai đoạn nặng:

+ Bạn có thể ho nhiều hơn nữa và khạc ra nhiều đàm.

+ Bạn khó thở cả ngày lẫn đêm.

+ Bạn phải mất vài tuần mới phục hồi sau một đợt cảm hay nhiễm trùng phổi.

+ Bạn không thể đi làm hay làm các việc lặt vặt trong nhà được nữa.

+ Bạn không thể đi băng ngang qua phòng hay lên cầu thang được nữa.

+ Bạn dễ bị mệt.

– Chẩn đoán bệnh

Bạn nên đến bác sĩ khi bạn có vấn đề về hô hấp hay bị ho đã hơn 1 tháng. Phần lớn bệnh nhân đợi cho đến khi bệnh hô hấp nặng mới tìm đến bác sĩ. Họ không chú ý đến triệu chứng ho hay vấn đề về hô hấp trong nhiều năm.

Khi bạn có vấn đề về hô hấp, tìm gặp bác sĩ về BPTNMT càng sớm càng tốt. Bác sĩ sẽ khám cho bạn, hỏi về tình trạng hô hấp và sức khỏe của bạn, nhà ở và nơi làm việc của bạn. BPTNMT được chẩn đoán xác định bằng một xét nghiệm hô hấp đơn giản gọi là hô hấp ký.

Xét nghiệm này dễ làm và không đau. Bạn chỉ cần thổi mạnh vào một ống do gắn liền với máy hô hấp kế. Bác sĩ sẽ nói cho bạn biết BPTNMT của bạn đã nặng tới đâu.

Điều trị BPTNMT như thế nào?

– Bác sĩ không thể chữa lành được BPTNMT vì các tổn thương thường không thể hồi phục được (đường dẫn khí đã bị hóa xơ, chít bẹp, vách phế nang đã bị tiêu hủy).

– Nhưng bác sĩ có thể làm giảm triệu chứng và làm chạm hóa trình gây tổn hại ở phối bệnh nhân.

– Nếu tuân theo hướng dẫn của bác sĩ, bạn sẽ bớt khó thở hơn, bạn sẽ ít ho hơn, bạn sẽ khỏe mạnh hơn và phấn khởi hơn.

Bạn và gia đình có thể làm gì với BPTNMT ?

Có 6 việc nên làm:

1. Ngưng hút thuốc.

2. Đến bác sĩ ít nhất một năm hai lần, dùng thuốc theo cách mà bác sĩ yêu cầu.

3. Đến bệnh viện hoặc bác sĩ ngay khi bạn thấy khó thở hơn.

4. Đến giữ không khí trong nha thật sạch.

5. Giữ cho cơ thể khỏe mạnh.

6. Ráng sống tích cực tôi đa. Làm cho cuộc sống càng dễ chịu càng tốt.

VIÊM THUYÊN TẮC MẠCH MÁU

Bệnh Buerger (viêm thuyên tắc mạch máu) là gì?

– Bệnh Buerger là bệnh lý thường gặp ở động mạch, tĩnh mạch tay hoặc chân. Bệnh Buerger có độc điểm là sự phối hợp của phản ứng viêm và cục máu đông trong lòng mạch máu khiến lưu lượng máu bị suy giảm dẫn đến tổn thương và huỷ hoại mỡ, sau cùng là nhiễm trùng và hoại tử. Bệnh Buerger thường khởi phát ở bàn tay và bàn chân sau đó lan rộng đến những vùng khác của chi.

Bệnh Buerger hiện ít gặp ở Mỹ, nhưng lại gặp thường hơn ở vùng Trung Đông và Viễn Đông. Bệnh xảy ra nhiều nhất ở nam từ 20 đến 40 tuổi, trong khi số lượng bệnh nhân nữ cũng đang ngày càng tăng.

Hầu như tất cả bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Buerger đều hút thuốc hoặc dùng các sản phẩm chứa nicotine, như kẹo sing-gum có nicotine.

Bỏ tất cả các loại thuốc lá là con đường duy nhất để chặn đứng bệnh Buerger, ở những người không bỏ được thuốc lá, cắt đoạn một phần hoặc toàn bộ chi có thể cần phải thực hiện ở giai đoạn sau cùng.

+ Triệu chửng ưà dấu hiệu:

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh Buerger bao gồm:

– Đau, yếu cẳng chân và bàn chân, hoặc cẳng tay và bàn tay.

– Sưng bàn tay, bàn chán.

– Đi khập khiễng gián cách (intermittent claudication).

– Ngón tay và ngón chân tím tái khi bị lạnh (Hiện tượng Raynaud).

– Các vết loét ở ngón tay và ngón chân.

 

 

Nguyên nhân rối loạn tiền đình.

+ Nguyên nhân:

Có rất nhiều nguyên nhân, một số chưa rõ, tuỳ theo triệu chứng. Một số nguyên nhân thường gặp như sau:

Viêm thần kinh sọ não số 8, nhánh tiền đình (vcstibular neuritis). Đây là một tình trạng lành tính, hay tái phát thường do virus, hay gặp ở người trẻ tuổi hoặc trung niên. Lúc đầu có thể bị nôn, ói, rung giật nhãn cầu (nystagmus) về phía bên tai bị. Sau đó là nôn ói. Chứng này sẽ tự khỏi nhưng hay tái phát.

Bệnh nhân không bị ù tai, mất thính giác (hearing loss).

Xét Nghiệm: Ngoài việc khám lâm sàng thần kinh kỹ lưỡng nên làm thêm: caloric teeting: nhỏ nước lạnh, ấm vào tai để kích thích phản ứng rung giật nhãn cầu (nystngmus), điện ký rung giật nhãn cầu (electronystagmography), chụp MRI tai và não để loại trừ các bệnh nặng như: u bướu, u thần kinh thính giác (acoustic ncturoma), nhồi máu thân não, tiểu não.

Điều trị:

Thường do virus nên không có điều trị đặc hiệu.

Thuốc trị chóng mặt:

• Antivert (meclizine) các thuốc antihistamine khác, Anticholinergic (soopolamine).

– Tanganil (acetylDL-leucine).
– Nootropyl (piractttiim),
– Sere (betahistine)…

Những thuốc nêu trên chỉ có tính cách tham khảo, cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

Chóng mặt tư thế lành tính (Benign Paroxysmal Posítional Vertigo).

Đây cũng là một tình trạng lành tính, bệnh nhân chóng mặt khi ở một tư thế nào đó, ví dụ nằm nghiêng một bên, ngẩng đầu nhìn một vật gì đó.

Nguyên nhân: Thoái hoá một trong các bộ phận của hệ tiền đình, viêm tai giữa, chấn thương mè lộ , tắcc nghẽn động mạch tiền đình.

Điều trị: Tránh những tư thế gây chóng mặt, thuốc chống nôn ói, chống một như trong phần 1.

Nếu không khỏi thực hiện phẫu thuật thần kinh số 8.

Bệnh Meniere (Meniere’s tlisease):

Triệu chứng: chóng mặt nhiều, nôn ói, ù tai, cảm giác tai bị đầy.

Nguyên nhân: Không rõ.

Điều trị: thuốc chống nôn ói, chóng mặt như trong phần 1.

+ Ai dễ bị chứng rối loạn tiền đình?

Rối loạn tiền đình dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, ngồi nhiều trong phòng máy lạnh và tiếp xúc thưừng xuyên với máy tính. Vì ngồi nhiều trong phòng máy lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh, lâu ngày gây co thắt động mạch cột sống, dẫn đến rối loạn tiền đình ngoại biên. Đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát nếu không được chú ý kỹ.

Người mắc chứng rối loạn tiền đình cần lưu ý:

Tập thể dục thường xuyên.

Ban đêm, để đèn ngủ sáng cho dễ quan sát sự vật chung quanh.

Không ngồi liên tục quá lâu, nhất là ngồi máy tính.

Hạn chế uống rượu, cà phê, thuốc lá.

Tránh tiếp xúc với các chất hoặc thực phẩm có mùi vị kích thích.

Tránh quay cổ hoặc đứng lên ngồi xuống quá nhanh.

Tránh lái xe hoặc điều khiển máy móc có động cơ mạnh nếu thường xuyên bị choáng váng.

Giảm căng thẳng, lo âu, hoảng hốt.

Tránh leo trèo cao.

Tránh đọc sách báo khi ngồi xe hơi.

Nên ngồi hoặc nằm ngay xuống khi cảm thấy chóng mặt.

Hợp tác với thầy thuốc để việc điều trị được tốt. Khi nào cần đi khám bệnh?

Mặc dù chóng mặt ít khi là triệu chứng của một bệnh lý trầm trọng, nhưng nếu thấy xuất hiện một trong các triệu chứng sau đây thì nên đi bác sĩ để được khám và xác định nguyên nhân ngay:

Cơn nhức đầu dột ngột;

Sốt từ 38 độ C trở lên;

Mờ mắt, không nhìn rõ sự vật, nhìn đôi, mất thị lực;

Giảm thính giác;

Mất định hướng không gian và thời gian;

Nói khó khăn;

Tay chán run rẩy, yếu;

Mất ý thức;

Cảm thấy lảo đảo, muốn té ngã;

Cảm giác tê các đầu ngón chân, ngón tay;

Đau tức ngực hoặc nhịp tim nhanh hay chậm bất thường.

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) là gì?

Bình thường, đường dẫn khí đem không khí đến cho phổi và đường dẫn khí ngày càng nhỏ dần như cành cây. Ở cuối mỗi cành nhỏ có nhiều túi khí, chứa đầy không khí, ở người bình thường, đường dẫn khí sạch và mở rộng. Do đó khí đi ra vào rất nhanh, rất dễ dàng.

Khi bị Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)

– Chronic Obstructive Pulmonary Disease) là khi:
– Đường dẫn khí hẹp lại do thành của đường dẫn khí dày lên và sưng phù.
– Đường dẫn khí bị các vòng cơ nhỏ bao quanh siết chặt lại gây tắc nghẽn.
– Đường dẫn khí tạo ra làm đờm người bệnh phải ho khạc ra.
– Các vách túi khí có thể bị tiêu hủy.

Bệnh phổi tắc nghẽn có nghĩa là đường dẫn khí của phổi bị tắc nghẽn một phần, mãn tính có nghĩa là không thể chữa dứt được.

Ai bị mắc BPTNMT?

– Hầu hết bệnh nhân mắc BPTNMT là do hút thuốc hoặc đà từng hút thuốc, hút thuốc loại nào cũng có thể gây ra BPTNMT được.

– Một số bệnh nhân BPTNMT do sống trong nhà đầy khói bếp.
– Một số bệnh nhân BPTNMT do làm nhiều năm trong những nơi rất bụi bặm hay rất nhiều khói.
– BPTNMT không lây, bạn không thể mắc BPTNMT từ người khác.
– Người lớn mới bị BPTNMT, trẻ em không bị bệnh này. Phần lớn bị BPTNMT ở độ tuổi lớn hơn 40.

Nhận biết BPTNMT ?

– Ở giai đoạn nhẹ:
– Bạn có thể ho nhiều. Đôi khi có khạc đờm, nhất là buổi sáng sớm.

+ Bạn cảm thấy hụt hơi khi làm nặng hoặc đi nhanh.

 

 

 

 

 

Rối loạn tiền đình và Điều trị túi phình động mạch não.

1. Điều trị túi phình động mạch não.

Điều trị dựa trên việc sửa chữa lại mạch máu bị tổn thương. Hai phương pháp thường dùng là kẹp (clipping) và đặt vòng (coiling).

Kẹp (clipping): Bác sĩ phẫu thuật thần kinh mổ sọ não hở, xác định vị trí mạch máu tổn thương và đặt một clip (kẹp mạch máu) ngang qua túi phình. Việc làm này sẽ ngăn máu không chảy vào túi phình nữa. Túi phình sẽ ngừng tăng trưởng và chấm dứt nguy cơ nứt vỏ gây xuất huyết .

Đặt giá đỡ hình vòng xoắn và bít túi phình (coiling): Bác sĩ X Quang can thiệp sau khi đã xác định vị trí của túi phình bằng chụp mạch máu cản quang sẽ luồn một giá đỡ dạng vòng xoắn và sợi bằng platin hoặc latex vào vị trí túi phình. Thủ thuật này sẽ ngăn chặn máu không tiếp tục chảy vào túi phình được nữa.

Cả 2 phương pháp trên đều có nguy cơ làm tổn thương mạch máu và gây xuất huyết nặng hơn, gây tổn thương các mô não kế cận, gây phản xạ co thắt mạch máu ở các động mạch chung quanh, gây thiếu máu não và gây tai biến mạch não. Do đó, trước, trong và sau phẫu thuật, phẫu thuật viên cần chú ý bảo vệ não và các mạch máu não không bị thêm những thương tổn khác.

Cần theo dõi đấu sinh tồn thường xuyên và đặt monitor theo đỏi hoạt động tim, phát hiện sớm các rối loạn nhịp. Có thể dùng thuốc để dự phòng co thắt mạch máu não, các cơn động kinh, trạng thái lo lắng bồn chồn và làm giảm đau.

2. RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH.

Tiền đình là vùng nằm ở phía sau ốc tai, là một hệ thống có vai trò quan trọng trong duy trì thăng bằng, phối hợp cử động mắt, đầu và thân mình.

Khả năng giữ thăng bằng cơ thể tùy thuộc vào các cảm giác đến từ ba vùng chính là mắt, tai trong và các thớ thịt, khớp xương. Bộ phận mê đạo và tiền đình ở tai trong có trách nhiệm cung cấp cho não bộ các cảm giác về tư thế, vị tri và sự xoay của cơ thể cũng như sự hiện diện các vật chung quanh. Các chuyển động như quay mình, nghiêng qua phải qua trái, tới phía trước phía sau, lên trên hay xuống dưới đều được các bộ phận này ghi nhận.

Não bộ tiếp nhận, phân tích, phôi hợp các tín hiệu này để giữ vững cơ thể. Khi não bộ không sử dụng được các tín hiệu này hoặc các tín hiệu không rõ rệt, trái ngược nhau thì ta sẽ bị mất thăng bằng. Say sóng khi đi tàu biển, chóng mặt khi ngồi xe là do cùng nguyên tắc. Ngồi trong máy bay gặp gió bão, máy bay chòng chành, ta không nhìn thấy thay đổi bên ngoài nhưng tai tiếp thu sự giao động, là thấy choáng váng, xay xẩm.

+ Biểu hiện của chứng rối loạn tiền đình.

Các triệu chứng mà bệnh nhân mô tả đều rất chung chung, mơ hồ về mức độ nặng nhẹ và thời gian mắc bệnh. Một số than phiến thường gặp là:

Cảm giác cơ thể mình hoặc sự vật chung quanh đang quay hoặc di dộng .

Mất thăng bằng, đi đứng không vững.

Phải vịn vào vật tựa nào đó mới đứng lên và bước tới được.

Đầu nhẹ lâng lâng.

Muốn xỉu, ngã. Yếu, mệt.

Kém tập trung.

Mắt mờ khi quay cổ, cử động đầu.

Buồn nôn, ói mửa.

Các triệu chứng xuất hiện bất thường trong một thời gian ngắn hoặc kéo dài lâu hơn.

Chú ý: Rối loạn tiền đình chỉ lã một trong những nguyên nhân của biểu hiện mất thăng bằng, xay xẩm, chóng mặt.

 

Phình động mạch não.

+ Nguyên nhân:

Não được nuôi bằng máu nhận từ các động mạch của lục giác Willis. Lục giác Willis nằm ở đáy não và có cấu trúc của một vòng tròn do các động mạch giao nhau tạo thành, từ đó phân thành nhiều nhánh đến khắp nơi trong não bộ.

Các động mạch này đem dưỡng chất đến cho tế bào não (glucose và oxygen). Các vị trí kết nối giữa các động mạch với nhau có thể trở thành điểm yếu.

Các điểm yếu này phình ra chứa đầy máu tạo thành các túi phình của mạch máu gọi là túi phình động mạch. Các túi phình này có thể bị nứt hoặc vỡ ra và gây chảy máu vào vừng mô chung quanh.

Trước kia các túi phình được cho là do bẩm sinh, hiện nay chúng được xem là hậu quả của các tổn thương vi mô trên thành các động mạch tạo bởi dòng chảy bất thường ở vị trí giao nhau của các động mạch.

Còn một số nguyên nhân hiếm gặp khác gây túi phình động mạch. Túi phình động mạch có thể do nấm ký sinh trên thành động mạch, u bướu và chấn thương cũng có thể gây nên túi phình động mạch.

Nghiện ma tuý, đặc biệt là cocaine, có thể gây viêm và làm suy yếu thành động mạch.

+ Triệu chứng bệnh:

Phình động mạch não là một bệnh lý thường gặp, 1% số trường hợp ngẫu nhiên phẫu tử thi cho thấy có phình động mạch nào. Đa số phình động mạch thường nhỏ, không gây biến chứng và không được phát hiện. Tuy nhiên một số khác có thể lớn dần, chèn ép nhu mô não và thần kinh chung quanh, gây các triệu chứng như:

– Nhức đầu: Nhức đầu dữ dội xảy ra khi nứt phình động mạch não. Máu kích thích nhu mô não và gây đau đớn nhiều. Bệnh nhân có thể mô tá rằng đây là một cơn đau đầu “tệ hại nhất xảy ra trong đời”. Khi đó bác sĩ cần phải nghĩ đến khả năng có phình động mạch não. Có thể kèm theo buồn nôn và nôn.

– Tê, hoặc yếu một bên mặt.

– Dãn đồng tử một bên.

– Thay đổi thị lực.

Điều đáng lo ngại nhất là khi nứt hoặc vỡ ra, các phình động mạch não có thể gây tai biến mạch não hoặc tử vong. Thường chảy máu vào màng nhện (một trong các màng bao não và ống tủy sống) và được gọi là xuất huyết dưới màng nhện. Xuất huyết dưới màng nhện có thể gây đau và cổ cứng.

+ Chẩn đoán phình động mạch não:

– Chẩn đoán phình động mạch não bắt đầu bằng ý thức cảnh giác cao độ của người thầy thuốc. Tiền sử có những cơn nhức đầu và sự xuất hiện cơn nhức đầu khủng khiếp nhất trong đời, kết hợp với dấu hiệu co cứng và tình trạng nặng của bệnh nhân khi thăm khám có thể giúp thầy thuốc cho chỉ định làm MSCT 64 lát cắt vùng đầu.

Kết quả sẽ cho thấy có xuất huyết dưới màng nhện ở 90% bệnh nhân vỡ phình động mạch não, ở một số ít trường hợp không phát hiện được bằng CT, bác sĩ sẽ tiến hành chọc dò tuỷ sống để xác định có mẫu chảy ỏ khoang dưới nhện và hoà vào dịch não tủy.

Nếu kết quả chụp MSCT hoặc chọc dò tuỷ sống phát hiện có xuất huyết, bệnh nhân sẽ được chụp động mạch não bằng SDA (chụp mạch máu xoá nền) để xác định vị trí túi phình và lên phương án điều trị. Các kỹ thuật mới kết hợp chụp mạch máu với CT hoặc MRI (cộng hưởng từ).

Dù các triệu chứng gợi ý nghĩ nhiều đến túi phình động mạch não, ta cũng nên lưu ý chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác có các triệu chứng và dấu hiệu thần kinh tương tự như nhức nửa đầu, viêm màng não, u não, tai biến mạch não (thuyên tắc, huyết tắc mạch não).

Dựa trên từng trường hợp, thầy thuốc sẽ quyết định việc chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng đế hỗ trợ chẩn đoán.