Sỏi bàng quang.

+ Nguyên nhân.

Sỏi bàng quang là một bệnh lý của sỏi đường tiết niệu, ngoài những đặc điểm chung của sỏi ở hệ tiết niệu còn có những đặc điểm riêng.

Bệnh thường gặp ở nam giới và liên quan đến sự ứ đọng nước tiểu do có chướng ngại ở cổ bàng quang hay niệu đạo.

+ Những biểu hiện của sỏi bàng quang.

Khi có sỏi trong bàng quang, người bệnh xuất hiện tình trạng đi tiểu ngắt quãng. Đó là người bệnh đang đi tiểu đột nhiên tia tiểu tắc lại và đau dữ dội vùng hạ vị, dương vật, thay đổi tư thế có thể đái được.

Đái rắt tăng số lần về ban ngày do bệnh nhân đi lại vận động, sỏi lăn trong bàng quang gây kích đi đái, khi nghỉ ngơi số lần đi tiểu giảm.

Bệnh nhân mót đái thường xuyên, đái rất nhiều lần, mỗi lần chỉ được một ít, thỉnh thoảng lại tắc đái, càng đái rắt lại càng buốt nhiều, càng buốt bao nhiều lại càng đái rát bấy nhiêu, đôi khi có đái máu cuối bãi.

Thăm khám lâm sàng có thể phát hiện sỏi bàng quang khi dùng ống thông sắt có tiếng chạm sỏi. Hoặc thăm trực tràng có thể sờ thấy sỏi to khi bàng quang hết nước tiểu.

Soi bàng quang sẽ giúp cho thầy thuốc biết được chính xác số lượng, hình dáng, kích thước, màu sắc sỏi, qua đó còn có thể phát hiện được các nguyên nhân của sỏi bàng quang như hẹp niệu đạo, u tiền liệt tuyến hay túi thừa bàng quang.

Chụp X-quang vùng chậu hông thấy có hình sỏi bàng quang. Các xét nghiệm nước tiểu cũng cho chúng ta biết thêm được những thông tin cần thiết như có hồng cầu, bạch cầu trong nước tiểu.

Vì sao lại hình thành sỏi trong bàng quang?

Bàng quang nằm ở vùng hạ vị là một túi cơ hình bầu dục lúc căng đầy gồm có vùng đỉnh và vùng đáy.

Chức năng của bàng quang bao gồm chứa đựng nước tiểu, kìm được nước tiểu và cho thoát nước tiểu theo ý muốn hoàn toàn và thoải mái.

Giọt nước tiểu được bài xuất từ thận qua đường dẫn niệu quản xuống, lưu giữ ở bàng quang trước khi được bài xuất ra ngoài qua niệu đạo.

Sự hình thành sỏi chủ yếu là do hiện tượng ứ đọng nuớc tiểu trong bàng quang. Có thể chia làm 2 loại:
+ Sỏi từ hệ tiết niệu trên (thận, niệu quản) rơi xuống.

+ Sỏi sinh ra tại bàng quang: Do dị vật như chỉ khâu, mảnh đạn, đầu somic, do quá trình ứ đọng nước tiểu ở bệnh nhân hẹp niệu đạo, u tiền liệt tuyến, chít hẹp cổ bàng quang, túi thừa bàng quang, túi thừa niệu đạo.

Thành phần hóa học của sỏi là calci và amoni magie photphat hoặc photphat calci nếu sỏi bị giữ lại ở bàng quang lâu.

Sỏi bàng quang thường tròn, ít khi xù xì góc cạnh, có loại bé như hạt ngô cũng có loại như quả trứng gà hay nắm tay, thường là một viên đôi khi có nhiều hơn, sỏi thường nằm ở đáy bàng quang di chuyển theo tư thế bệnh nhân, sỏi nằm lại trong bàng quang làm niêm mạc bàng quang bị tổn thương viêm đỏ và sưng nề, lâu dần gây viêm loét niêm mạc bàng quang dẫn đến viêm hở ở lớp cơ và lớp mỡ quanh bàng quang.

Hậu quả là dung tích bàng quang bị thu nhỏ, sức chứa giảm làm giảm khả năng bài tiết của toàn bộ hệ tiết niệu.

+ Các biện pháp xử trí.

Sỏi bàng quang nhỏ từ đường tiết niệu trên rơi xuống có thể điều trị kháng sinh cuống viêm, giảm đau, giãn cơ trơn để bệnh nhân đái ra sỏi.

Việc điều trị sỏi bàng quang bằng nội soi đã giúp ích rất nhiều cho việc điều trị những viên sỏi bàng quang không đái ra được hay sỏi kích thước nhỏ hơn 3cm.

Có thể sử dụng máy tán sỏi cơ học, máy tán sỏi sử dụng sóng xung thủy điện lực (Urat 1) hay máy tan sỏi bằng sóng siêu âm, laser.

Mục đích điều trị của máy tán sỏi là tán sỏi thành mảnh nhỏ để bài xuất ra ngoài. Cũng có thể dùng dụng cụ cơ học để bóp nát sỏi dưới sự giám sát của camera đặt ở đầu ống soi.

Việc điều trị phẫu thuật được chỉ định cho những trường hợp sỏi to – sỏi không thể tán được hay sỏi bàng quang có kèm theo hẹp niệu đạo, xơ cứng cổ bàng quang, u xơ tiền liệt tuyến, túi thừa bàng quang.

Mổ bàng quang lấy sỏi là phẫu thuật đơn giản, ít tốn thời gian nhưng thời gian hậu phẫu thường kéo dài hơn nhiều so với phương pháp tán sỏi nội soi.

+ Phòng bệnh.

Phòng bệnh sỏi bàng quang là việc làm vô cùng cần thiết, vì nguyên nhân gây bệnh thường là do ứ đọng nước tiểu lâu ngày.

Do vậy hàng ngày cần uống dù nước (1,5 lít/ngày) và tránh thói quen nhịn tiểu.

Ngoài ra khi có biểu hiện của rối loạn tiểu tiện (đái rát, đái buốt hay đái ra máu cuối bãi) nên đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa tiết niệu để phát hiện bệnh sớm và điều trị sớm sẽ mang lại kết quả rất tốt, bệnh nhân sẽ tránh được những biến chứng không đáng có do bệnh sỏi bàng quang gây ra.

 

Nguyên nhân, biểu hiện, biến chứng và cách phòng bệnh lậu.

BỆNH LẬU

+ Nguyên nhân:

Bệnh lậu là một bệnh lây truyền qua đường tình dục thường gặp nhất hiện nay ở nước ta.

Nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn lậu Neisseria gennerhormone, còn gọi là lậu cầu khuẩn gonococus.

Bệnh lậu không phải lúc nào cũng dễ nhận biết và hậu quả của nó mang lại thật khó lường….

+ Biểu hiện của bệnh:

Bệnh lậu thường có hai giai đoạn: lậu cấp tính và lậu mãn tính.

– Lậu cấp tính xảy ra ở cả nam giới và nữ giới nhưng có khác nhau. Ở nam giới sau thời gian ủ bệnh khoảng từ 2 đến 6 ngày sẽ có triệu chứng như: đau dọc theo niệu đạo, rát, nóng, buốt khi đi tiổu.

Mủ tự chảy ra hoặc đái ra lẫn với nước tiểu (nước tiểu đục). Mủ đặc có màu vàng. Nếu không điều trị dứt điểm sẽ chuyển thành lậu mãn tính.

Còn ở nữ giới, thời gian ủ bệnh rất khó xác định vì các triệu chứng lậu ở phụ nữ rất kín đáo, nhất là bệnh biểu hiện ở âm đạo, cổ tử cung.

Có thể thấy có đái dắt, đau vùng xương mu sau khi giao hợp. Khám thấy viêm niệu đạo, cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo (viêm tấy đỏ, có mủ).

– Còn bệnh lậu mãn tính, biểu hiện ở nam giới gồm:

Đái dắt, đái buốt, ít khi thấy đái mủ, có thể thấy chất nhầy như nhựa chuối chảy ra ở niệu đạo vào sáng sớm, lúc ngủ dậy, khi đi tiểu.

Bệnh lậu ở nam giới cũng cần được chẩn đoán phân biệt với bệnh có các triệu chứng giống lậu nhưng không do lậu gây ra bởi các vi khuẩn Chalmydia và Mycoplasma.

Còn ở phụ nữ đa số bệnh lậu chuyển sang giai đoạn mãn tính ngay từ đầu, có rất ít triệu chứng ngoài dấu hiệu ra khí hư màu vàng.

Bệnh có khi lây lan gây viêm cả hậu môn (do mù kèrn theo vi khuẩn lậu chảy vào hậu môn).

+ Đường lây lan và cách phòng ngừa:

Bệnh lậu chủ yếu lây qua đường tình dục.

Ngoài ra, cùng có thể thấy bệnh lây qua việc dùng chung khăn tắm, quần áo lót có dây mủ niệu đạo, âm đạo của người bị lậu.

Bên cạnh bệnh lậu gặp ở đường sinh dục – tiết niệu, còn có thể gặp bệnh lậu do viêm kết mạc mắt ở trẻ sơ sinh do người mẹ bị bệnh lậu.

+ Biến chứng:

Những biến chứng của bệnh lậu gây ra đối với nam giới là gây chít hẹp niệu đạo (biến chứng thường hay gặp nhất) – sẽ gây đái khó, bí đái.

Nhiều trường hợp chít, hẹp niệu đạo phải thông đái nhiều lần dễ dẫn đến viêm đường tiết niệu ngược dòng rất phức tạp cho điều trị.

Đối với nữ thì gây viêm âm hộ và các tuyến ở vùng âm hộ, âm đạo tạo thành các túi mủ, rất dễ gây vô sinh do viêm cổ tử cung, tử cung, vòi trứng, buồng trứng và tiểu khung mà để khắc phục điều đỏ (chữa vô sinh) thật không đơn giản chút nào.

+ Phòng bệnh lậu như thế nào:

Cần tuyên truyền giáo dục để người dân biết tác hại của bệnh lậu đặc biệt là gái mại dâm, người đồng tính luyến ái; không quan hệ tình dục bừa bãi, nên thủy chung một vợ một chồng, không dùng chung quần áo, khăn tắm với người mắc bệnh lậu.

Những người bị bệnh lậu nên đi khám để điều trị dứt điểm.

Cần đi khám và điều trị ngay từ đầu cho cả cặp vợ chồng hoặc cho từng cặp tình nhân khi một trong hai người mắc bệnh lậu.

 

 

 

Phát hiện sớm ung thư phổi.

Hiện thời có hai thứ thuốc chữa theo mục tiêu là Iressa (Genftimb) và Tarceva (Erlolinib) đã được cơ quan FDA chấp nhận dùng để chữa ung thư phổi loại non-small cell sau khi đã dùng ít ra một thứ thuốc khác.

Iressa cũng được chấp nhận để dùng trướe tiên trong việc chữa bệnh này. Đây là những thuốc uống và có ít phản ứng phụ hơn hóa chất trị liệu thông thường.

Hai thuốc này tác động vào mục tiêu là chất tyrosine kinase của yếu tố di truyền HER-1/EGFR. Tyrosine kinase gia tăng sự phát triển của mô biểu bì và gia tăng sự tăng trưởng của tế bào ung thư phổi vốn phát xuất từ mô biểu bì.

Qua sự ngăn chặn hoạt động của tyrosine kinase trên sự phát triển biểu bì. Iressa và Tarceva có thể ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.

Phản ứng phụ thông thường nhất của hai thuốc này là tiêu chảy và bị các phản ứng về da như mụn, ngứa, đỏ, lột da, hay đóng vảy.

Những triệu chúng này thường rất nhẹ nhưng cũng có thể rất nặng và liều thuốc phải giảm đi hay ngưng hẳn. Một điều đáng chú ý là những bệnh nhân nào bị phản ứng về da, sẽ có cơ hội cao để thuốc có hiệu nghiệm.

+ Cách chữa tùy theo thời kỳ cùa bệnh

Thời kỳ I A (ung thư dưới 3 cm, chưa vào hạch): giải phẫu cắt trọn thùy phổi bị bệnh. Cơ hội chữa lành sau 5 năm là 60-80%.

Nếu không mổ được vì bất cứ lý do gì, bệnh có thể chữa bằng xạ trị Không cần hóa chất trị liệu cho thời kỳ nay.

Thời kỳ I B (ung thư 3-5cm, chưa vào hạch): giải phẫu cắt trọn thùy phổi bị bệnh. Cơ hội chữa lành sau 5 năm là 40-50%. Nếu không mổ được, có thể chữa bằng xạ trị.

Đối với bệnh nhân ở thời kỳ này, hóa chất trị liệu có thể gia tăng cơ hội sống còn toàn phần lên khoảng 15% cao hơn không có hóa chất.

Thời kỳ II (ung thư lớn T3, hay đã vào hạch phổi, nhưng chưa vào hạch trung thất): Giống như IB. Cơ hội chữa lành 25-30% sau 5 năm.

Thời kỳ III A (ung thư đã vào hạch trung thất cùng bên): Sau hóa chất và xạ trị, mổ cắt trọn thùy phổi bị bệnh nếu được. Hóa chất trị liệu tiền giải phẫu và xạ trị có thể gia tăng cơ hội mổ được cho 60% bệnh nhân, và cơ hội sống được 3 năm cho những người này khoảng 25%.

Thời kỳ III B (đã vào hạch trung thất bên kia):

Cơ hội sống còn 5 năm 5-10%. Chữa bằng hóa chất trị liệu và xạ trị để giúp đỡ những triệu chứng bệnh và chỉ giúp gia tăng cơ hội sống còn 5-10%. Chữa bằng xạ trị cùng lúc với hóa chất, rồi đến hóa chất. Phương pháp giải phẫu không có hiệu quả.

Thời kỳ IV (đã di cặn): Cơ hội sống còn 5 năm dưới 5%. Chữa bằng hóa chất trị liệu và xạ trị để giúp bớt những triệu chứng bệnh, chỉ giúp gia tăng cơ hội sống còn rất ít.

Giải phẫu không có hiệu quả. Trị liệu bằng thuốc Iressa hay Tarceva cỏ thể giúp sống lâu hơn nếu chịu thuốc.

+ Phát hiện sớm ung thư phổi

Các nghiên cứu cho thấy chụp hình phổi thông thường không phải là cách tốt nhất để khám phá ra ung thư phổi ở thời kỳ sớm nhất.

Các nghiên cứu dang đặt trọng tâm xem xét các phương pháp tốt nhất để truy tầm sớm ung thư phổi, thí dụ như Spiral CT Scan. CT scan có thể khám phá được ung thư phối ở thời kỳ rất sớm.

Tuy nhiên, chúng ta chưa biết là truy tầm ung thư phổi ở thời kỷ sớm có gia tăng cơ hội sống còn hay không. Vì lý do này, hiện thời các cơ quan y tế chưa có những lời khuyên về truy tầm sớm ung thư phổi cho các chương trình y tế cộng đồng.

Tuy nhiên, nếu quý vị hút thuốc lá nhiều tức là có cơ hội bị ung thư phổi cao, và muốn truy tầm sớm (nhất là nếu quý vị có những triệu chứng như kể trên), xin nhờ bác sĩ cho chụp CT scan để định bệnh vì chụp hình phổi thường sẽ có cơ hội thấy ung thư rất thấp.

+ Ngừa bệnh hơn chữa bệnh

Chưa có thuốc gì hay thức ăn nào có thể ngừa ung thư phổi. Không nên lạm dụng những chất vitamin tức sinh tố.

Thí dụ như chất Beta-carotene là tiền sinh tố A ở lượng cao có thể gia tăng cơ hội bị ung thư phổi.

Cách tốt nhất để giữ cơ hộ khỏe mạnh là ăn uống điều độ và ăn đủ loại thực phẩm, vì mỗi loại thức ăn có những yếu tố dinh dưỡng khác nhau cần thiết cho cơ thể.

Ngưng hút thuốc là có thể làm giảm nguy cơ ung thư phổi rất nhiều. Ngưng càng sớm càng tốt. Không hút thuốc lá là cách tốt nhất để ngừa ung thư phổi. Không nên hút thuốc lá. Xin đừng thử!

 

 

 

 

 

 

 

Triệu chứng và cách chẩn đoán ung thư phổi.

Những nguyên nhân khác có nguy cơ cao gây ra ung thư phổi gồm có chất ashestos và radon. Chất asbestos là chất dùng để cách điện và cách nhiệt và có nhiều trong những căn nhà xây thời xưa, hay tại các xưởng làm tàu.

Chất này đặc biệt nguy hiểm cho những người hút thuốc lá vì cơ hội bị ung thư phổi sẽ tăng lên gấp bội.

Do đó, những người đã có sự tiếp cận với asbestos lại càng phải tránh thuốc lá. Chất radon có trong những căn nhà ở một số vùng có thể có quặng mỏ rađium.

Cơ hội gây ra ung thư phổi do rađium cao hơn người thường, nhưng rất ít so với thuốc lá. Tuy nhiên, người hút thuốc lá sẽ rất nhạy cảm với ảnh hưởng của radon.

Một số người có yếu tố di truyền ở nhiễm sắc thể số 6 sẽ rất dễ bị ung thư phổi nếu họ hút thuốc.

Những người đã từng được chữa trị bằng xạ trị vào vùng lồng ngực cho những ung thư như ung thư vú hay ung thư hạch loại Hodgkin cũng có cơ hội bị ung thư phổi cao hơn, nhất là nếu họ lại hút thuốc lá.

Những nguyên nhân khác như hóa chất nơi làm việc, ô nhiễm không khí, v.v. cũng gia tăng cơ hội ung thư phổi nhưng rất thấp so với khói thuốc lá.

Tóm lại, nguyên nhân chính và có thể tránh được bệnh ung thư phổi là thuốc lá. Do đó, cai thuốc lá là điều quan trọng nhất trong việc chống lại ung thư phổi.

+ Triệu chứng ung thư phổi.

Thông thường ung thư phổi không có triệu chứng gì cả, nhất là ở thời kỳ đầu tiên. Khi ung thư đã trở nên nặng hơn, bệnh nhân có thể có những triệu chứng như ho, khó thở, tức hay đau lồng ngực, ho ra máu, hay xuống cân.

Nếu ung thư đã lây lan ra xương, ra gan, ra não. v.v… bệnh nhân có thể đau nhức xương, đau bụng, đau lưng, nhức đầu chóng mặt, lừ đừ, lẫn lộn, bị kinh phong v.v….

+ Cách chẩn đoán.

Chụp hình phổi thông thường bằng X-quang (chest X-Ray), có thể nhìn thấy hình phổi hai chiều.
Chụp CT Scan phổi: Sử dụng vi tính và X-quang để thấy hình phổi ba chiều. Thấy nhiều chi tiết và chính xác hơn chụp phổi thường (X-Ray).

Chụp PET Scan: sử dụng chất đường phóng xạ để đo sự hoat động của các tế bào trong cơ thể.

Tế bào ung thư hoạt động mạnh nhất, hấp thụ chất đường phóng xạ nhiều nhất, và sẽ thấy nổi lên nhiều nhất khi chụp. PET scan phải được lồng vào cùng với CT scan thì mới chính xác được (intergrated PET-CT Sean).

Soi cuống phổi (bronchoscopy) là phương pháp nội soi bằng một ống đi vào cuống phổi để xem có bướu trong cuống phổi hay không, có bị cuống phổi hay không, và bác sĩ có thể làm sinh thiết trong khi soi cuống phổi.

Sinh thiết qua lồng ngực: nhiều khi, làm sinh thiết qua cuống phổi không được, bác sĩ phải làm sinh thiết qua lồng ngực dùng kim nhỏ theo hướng dẫn của CT scan (CT-guided needle biopsy) để đi vào đúng chỗ bị bướu.

Một số tế bào từ bướu sẽ được rút ra và nhìn dưới kính hiển vi để định bệnh.

+ Cách chữa ung thư phổi

Cách chữa gồm có ba cách chính: giải phẫu, xạ trị và thuốc.

– Chữa bệnh bằng giải phẫu (Surgery):

Mổ mở ngực (thoracotomy): Lồng ngực sẽ được mở rộng ra bên cạnh sườn, lá phổi sẽ được làm xẹp tạm thời, và thùy phổi bị bệnh sẽ được cắt bỏ. Cùng lúc, những hạch phổi và hạch trung thất cũng được lấy ra để xem có bị lây lan hay không.

Mổ nội soi lồng ngực dưới sự hướng dẫn của video (video-assisted thoracosopy): Lồng ngực cạnh sườn sẽ được mổ nhỏ để luồn ông soi video vào.

Cách mổ này có thể mổ được tương tự như cách mổ lớn trong nhiều trường hợp. Vì vết mổ nhỏ, nên thời gian lành bệnh nhanh hơn.

– Chữa bệnh bằng xạ trị (Radiation therapy/Radiotherapy):

Là cách dùng tia quang tuyến cực mạnh để đốt cháy tế bào ung thư. Tia sử dụng có thể là tia photon, electron, neutron hay proton.

Những máy móc hiện đại sử dụng vi tính có thể giúp bác sĩ chuyên môn điều khiển tia xạ đến nơi bị bệnh một cách chính xác về giảm thiểu ảnh hưởng của tia xạ đến những mô bình thường chung quanh và giảm thiểu những phản ứng phụ.

Chữa bệnh ung thư phổi bằng hóa chất (hóa trị, hoá chất trị liệu, Chemotherapy)

Những thuốc thường dùng: Cisplatin, Carboplat inum, Taxol, Taxotere, Etoposide, Vindosino, Navelbino, Gemcitabine, Topotecan, Irinotecan là những thuốc chích vào tĩnh mạch.

Phản ứng phụ có thể xảy ra, nhưng thường chỉ nhẹ và sẽ khỏi sau khi trị bệnh xong. Ngoài ra, có thuốc để chữa hay phòng ngừa một số những phản ứng phụ.

Các bác sĩ chuyên trị ung thư sẽ tùy theo trường hợp cho những thứ thuốc để chống lại phản ứng phụ.

+ Những phản ứng phụ thông thường nhất tùy theo loại thuốc có thể xảy ra, gồm có:

– Nôn mửa, ăn không ngon, bón, tiêu chảy,

– Rụng tóc, tróc móng tay, móng chân,

– Giảm năng lực,

– Tay chân tê, đau nhức bắp thịt, khớp xương,

– Thiếu bạch huyết cầu: Dễ nhiễm trùng,

– Thiếu hồng huyết cầu: Mệt mỏi, tim đập nhanh…

– Thiếu tiểu cầu: Dễ bị chảy máu, vết đỏ hay bầm trên da.

 

 

 

Ung thư dương vật và ung thư phổi.

+ Giải phẫu bệnh:

Hình ảnh đại thể của ung thư dạ dày gồm 3 thể: u khu trú tại chỗ (loét hoặc sùi), thể thâm nhiễm và trung gian. Vị trí của ung thư chủ yếu ở vùng môn vị (50%), tâm vị (10%), toàn bộ dạ dày (10%), vị trí khác (20-30%).

Ung thư dạ dày thể trai (Linite Plastique) là thâm nhiễm cứng toàn bộ dạ dày, tiên lượng xấu.

+ Vi thể

Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarinome) chiếm 95% các khối u dạ dày.

Loại sa côm chiếm 5%: chủ yếu là loại u lymphô ác tính và sa côm cơ trơn. Các ung thư biểu mô tuyến được chia làm nhiều thể giải phẫu bệnh.

6. UNG THƯ DUƠNG VẬT

+ Nguyên nhân:

Đây là dạng ung thư rất hiếm, tỉ lệ chừng 4/1000 trường hợp, với tỉ lệ tử vong thấp hơn 2/1000, và hầu hết liên quan đến quy đầu và bao da quy đầu, nhất là ở đàn ông lớn tuổi. Tuy chưa biết rõ nguyên nhân, nhưng vấn đề vệ sinh kém và các viêm nhiễm mãn tính có thể là yếu tố góp phần vào.

Mặc dù ung thư dương vật phát triển chậm nhưng là một bệnh nghiêm trọng và có thể lan tỏa đến những phần khác của cơ thể, gây tử vong.

+ Triệu chứng

Triệu chứng chính của ung thư dương vật là đau rát, chảy máu hay mủ từ dương vật hoặc khi thấy khối u trên dương vật không mất đi. Khối u này có thể thấy trên da quy đầu, cần sinh thiết để phát hiện bệnh.

+ Điều trị

Việc điều trị có thể bằng hóa trị nếu vết loét hay khối u còn nhỏ. Xạ trị cũng có thể làm khối u teo lại. Nhưng khi khối u đã lớn, lúc ấy phải phẫu thuật cắt bỏ hoặc điều trị bằng tia lade để ngăn chặn sự lan tỏa. Sau phẫu thuật, đầu dương vật được đậy lại bằng vạt da thừa và tạo lỗ tiểu mới.

Trong hầu hết trường hợp, người bệnh vẫn đi tiểu bình thường, khả năng cương cứng, xuất tinh không bị ảnh hưởng; có điều, dương vật của họ sẽ ngắn hơn, sinh hoạt tình dục sẽ khó khăn hơn.

Một số trường hợp phải cắt bỏ toàn bộ dương vật, phải tạo lỗ tiểu mới ở háng. Nếu bệnh này lây lan tới hạch bạch huyết của háng hoặc bụng, sau phẫu thuật cần xạ trị.

7. UNG THƯ PHỔI

Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong vì bệnh ung thư trên nước Mỹ và khắp thế giới. Vào năm 2005, số người mới bị là gần 173 ngàn người, trong đó có 79 ngàn phụ nữ. Số người chết vì bệnh ung thư phổi là 163 ngàn, trong đó có khoảng 79 ngàn phụ nữ.

Để hiểu rõ tầm quan trọng của tử vong vì ung thư phổi, ta hãy so sánh với ung thư vú. Số người đàn bà bị ung thư vú loại xâm lấn là trên 180,000 người nhưng số từ vong vì ung thư vú chỉ có 10 ngàn người.

Số người chết vì ung thư phổi mỗi năm cao hơn tổng số người chết vì các ung thư ruột, ung thư vú và ung thư nhiếp hộ tuyến.

Có thể nói là khi đã bị ung thư phổi, bệnh nhân sẽ có cơ hội tử vong cao nhất so với các ung thư khác.

Đây là lý do khiến các cơ quan y tế quốc gia cũng như Hội Ung thư Việt – Mỹ phải đặc biệt quan tâm đến vấn nạn ung thư phổi.

Có hai loại ung thư phổi chính là small cell hay oat cell tức loại ung thư phối tế bào nhỏ, và non-small cell tức loại ung thư có tế bào không nhỏ.

Cả hai loại ung thư phổi này đều nguy hiểm, nhưng cách lây lan, chữa trị và cơ hội sống còn khác nhau.

Vì ung thư phổi thuộc loại tế bào nhỏ rất hiếm so với loại tế bào không nhỏ, tôi sẽ chỉ chú trọng đến loại tế bào không nhỏ (non-small cell) trong bài viết này. Một điều cần được nhấn mạnh là cả hai loại đều do thuốc lá gây ra.

+ Nguyên nhân chính gây ra ung thư phổi chính là thuốc lá.

Thuốc lá gây ra 90% những trường hợp ung thư phổi ở người nam và 78% ở người nữ. Cơ hội trung bình bị ung thư phổi cho những người hút thuốc lá là 1 trong 10 người sẽ bị ung thư phổi.

Những nghiên cứu về dịch tinh cho thấy là ở những nơi người đến hút thuốc lá nhiều, số người bị ung thư phổi sẽ gia tăng. Thí dụ ở tiểu bang Kentucky, 33% nam giới hút thuốc lá và có 103 trên 100 ngàn người nam bị ung thư phổi mỗi năm.

Ở Utah chỉ có 16% nam giới hút thuốc và chỉ có 45.8 trên 100 ngàn người nam bị ung thư phổi, về phía phụ nữ. Ở Nevada có 29.8% phụ nữ hút thuốc và tỉ lệ bị ung thư phổi là 45.8 trên 100 ngàn người, ở Utah chỉ có 11.5% phụ nữ hút thuốc và tỉ lệ ung thư phổi chỉ có 13.9 trên 100 ngàn người.

Như vậy, nếu chúng ta tránh thuốc lá, tỉ lệ bị ung thư phổi sẽ giảm đi rất nhiều. Thuốc lào cũng có những độc tố của thuốc lá, rất dễ ghiền, và đưa đến việc ghiền thuốc lá. Do đó, Hội Ung thư Việt – Mỹ cũng khuyên chúng ta không nên hút thuốc lào.

 

 

 

Triệu chứng, chẩn đoán, điều trị bệnh ung thư gan. Tổng quan tình hình ung thư dạ dày.

+Triệu chứng và chẩn đoán.

Các bệnh nhân ung thư gan ở giai đoạn sớm hầu như không có triệu chứng, khi phát hiện ra thì bệnh đã ở giai đoạn muộn.

Đau bụng vùng hạ sườn trái là triệu chứng thường gặp nhất do u lớn Triệu chứng khởi đầu cũng thường gặp là trên các bệnh nhân xơ gan đột ngột xuất hiện biến chứng (cổ chướng, vàng da, xuất huyết tiêu hoá do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản). Khi khám bệnh, các bác sĩ có thể sờ thấy gan to, ấn rắn chắc.

Các xét nghiệm thường được làm để chẩn đoán ung thư gan là xét nghiệm máu xác định nồng độ anpha-FP, khi AFP cao trên 500nglml thì rất gợi ý tới ung thư gan.

Ngoài ra, các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp CT scaner ổ bụng có tác dụng xác định vị trí và sự xâm lấn của khôi u gan. Xét nghiệm sinh thiết gan bằng chọc kim nhỏ đơn thuần hoặc dưới sự hướng dẫn của siêu âm để chẩn đoán mô bệnh học.

+ Điều trị và tiên lượng.

Điều trị bệnh nhân ung thư gan tuỳ thuộc vào giai đoạn của ung thư và tình trạng sức khoẻ chung của bệnh nhân. Đối với những trường hợp có khôi u nhỏ đơn độc, chức năng gan còn tết, phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ khối u.

Tuy nhiên, hầu hết những bệnh nhân ung thư gan cũng bị xơ gan và không thể cắt bỏ khối u được.

Các phương pháp điều trị khác như tiêm cồn, hoá chất động mạch gan… cho kết quả rất hạn chế. Đốì với các bệnh nhân giai đoạn muộn, điều trị chủ yếu là chống đau và chăm sóc triệu chứng.

Ung thư gan là bệnh có tiên lượng xấu, thời gian sống trung bình từ khi phát hiện khoảng tháng. Chỉ có khoảng 1 % người ung thư gan có nguy cơ sống sót sau 5 năm.

+ Dự phòng:

Đa số các ung thư gan thường kèm theo nhiễm viêm gan B, để dự phòng căn bệnh này, việc cần làm là thực hiện tiêm vacxin chống lại virus viêm gan B.

5. UNG THƯ DẠ DÀY

+ Tổng quan tình hình ung thư:

Ung thư dạ dày phân bố không đều trên thế giới. Tỉ lệ mắc cao nhất ở Nhật Bản, cao ở Nam Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Trung Quốc và Đông Nam Á. Tần số thấp ở Bắc Mỹ, Cô Oét, Ấn Độ, Nigieria và Úc. Tần số cao vừa ở các nước Tây Âu.

Ở Pháp theo số liệu thống kê của J.L. Gouzi, ung thư dạ dày chiếm 5% các loại ung thư. Đứng vị trí thứ 4 sau ung thư đại trực tràng (14%), ung thư vú (12%), ung thư phổi (11%). Tần số ung thư dạ dày đã giảm tại nhiều nước trên thế giới.

Người ta chưa biết rõ lý do nhưng có lẽ sự thay đổi của môi trường sống, ở nước ta, ung thư da dày là bệnh gặp nhiều ở cả 2 giới đứng vị trí thứ 2 ở nam giới sau ung thư phổi và vị trí thứ 2 của nữ giới sau ung thư vú.

Ở những vùng nguy cơ mắc bệnh thấp, khoảng tuổi hay bị ung thư dạ dày là 50-60, hiếm gặp dưới 40 tuổi.

Trong khi đó những vùng nguy cơ mắc bệnh cao, tuổi trung bình mắc bệnh thấp hơn. Dù ở vùng nào nam giới cũng mắc bệnh nhiều hơn nữ giới (2/1).

+ Nguyên nhân gây bệnh

Về nguyên nhân gây bệnh còn chưa biết rõ nhưng 3 yếu tố có liên quan sinh bệnh bao gồm: Chế độ ăn, vi khuẩn và một số thương tổn bệnh lý.

Chế độ ăn nhiều muối, những thức ăn khô, thức ăn hun khói, những thức ăn chứa nhiều nitrosamines và nitroBamindes . . – được xác định có liên quan đến sinh bệnh ung thư dạ dày.

Những quan sát gợi ý rằng, những thức ăn chứa nhiều vitamin C như cam, chanh có thể trung hoà được các chất gây ung thư. Mới đây, người ta đang xem xét sự liên quan giữa viêm dạ dày do Helicobacters-pylori với ung thư dạ dày.

Một số tổn thương hoặc một số bệnh lý được coi là nguy cơ cao: viêm teo dạ day, vô toan, thiếu máu ác tính (Biemler), di sản ruột, u tuyến của dạ dày (thông thường là những polip dạ dày, nhất là kích thước hơn 2cm phải được lấy đi).

Những bệnh nhân đã được cắt dạ dày do loét có nguy cơ bị ung thư cao 2,4 lần. Loét dạ dày, hiếm khi ác tính hoá, nhưng lại khó phân biệt được những ung thư dạ dày thể loét ỏ giai đoạn sớm.

Vì vậy, với các tổn thương loét dạ dày nếu điều trị nội khoa 6 tuần không khỏi phải được điều trị phẫu thuật.

Yếu tố di truyền: Chưa chứng minh yếu tố di truyền có liên quan đến ung thư dạ dày, ngoại trừ nhiều người bị ung thư dạ dày trong gia đình Napoleong. Những người dòng máu A cao hơn một chút, gợi ý vai trò yêu tố di truyền.

Những hiểu biết mới dịch tễ học và sinh bệnh học của ung thư dạ dày dã gợi ý biện pháp dự phòng ung thư dạ dày bằng cách hạn chế các hình thức ăn ướp muối, ăn khu, giầu Nitrat và tăng tiêu thụ rau xanh, hoa quả, khuyến khích bảo quản thức ăn trong tủ lạnh.

 

 

 

 

Nguyên nhân, các dấu hiệu, và cách phòng tránh đau dây thần kinh tọa.

+Cách điều trị

– Khi được bác sĩ chẩn đoán gai cột sống, một số bệnh nhân thường nghi ngay đến việc mổ để cắt đi “cái gai” đáng ghét này. Nhưng thực tế việc điều trị bệnh gai cột sống thường nghiêng về bảo tồn.

– Những thuốc thường dùng là nhóm giảm đau kháng viêm không steroid, nhóm giãn cơ. Đôi khi người ta dùng một số dụng cụ nâng đỡ như nẹp cổ… để giảm bớt gánh nặng lên các đốt sống bị bệnh.

– Các phương pháp điều trị hỗ trợ gồm châm cứu, vật lý trị liệu (giúp giảm đau và tăng vận động ở một số cơ khớp bị ảnh hưởng tập theer dục đều đặn, tránh làm việc nặng.

– Yoga cũng là một phương pháp giúp giảm trọng lượng cơ thể lên phần đốt sống bệnh, đồng thời làm thư giãn vùng cơ bị ảnh hưởng.

– Bệnh nhân phải đảm bảo trọng lượng cơ thể vừa phải, tránh tăng trọng quá mức. Và chế độ ăn, một số nghiên cứu cho rằng nên thêm muối để giúp cơ thể tái hấp thu một phần canxi vào máu.

– Phẫu thuật được đặt ra khi có sự chèn ép vào tủy, làm hẹp ống tủy hoặc các rễ thần kinh ở cột sống. Tuy nhiên, không phải cứ lấy gai đi là bệnh sẽ hết vĩnh viễn vì gai xương có thể mọc lại ở cùng vị trí cũ.

3. ĐAU DÂY THẦN KINH TOẠ

+ Nguyên nhân:

Đau dây thần kinh tọa không nhất thiết cứ phải gặp ở người lớn tuổi mà ngay cả những người trẻ tuổi hay phải làm những việc nặng gây thoái hóa đĩa đệm đều có thể gây nên hội chứng đau thắt lưng kèm đau dây thần kinh tọa.

Nguyên nhân gây đau dây thần kinh tọa cũng có rất nhiều nhưng hay gặp la do thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống nguyên phát hay thứ phát do hậu quả của hư đĩa đệm, gây chèn ép rễ thần kinh liên quan, hẹp lỗ gian đốt sống, viêm ngoài màng cứng.

Các dấu hiệu đau dây thần kinh tọa:

– Đau giữa cột sống hay lệch một bên, đau tăng lên khi bị rung người (đi xe qua ổ gà, vấp vào đá).

– Cảm giác đau lan từ lưng xuống, lệch sang một bên mông, xuống đùi, khoeo, gót chân. Hoặc thấy đau ngược lại, từ gót chân lên.

– Nhói lưng khi ho, khi hắt xi hơi, khi cười.

– Cột sống cứng, bị đau khi nghiêng người, chỉ cần chuyển dịch một chút cũng đau.

– Có thể thấy teo cơ bên chân đau nếu tình trạng đau kéo dài.

– Làm động tác cúi người xuống không được vì đau.

– Tùy theo tổn thương, họ có thể không nhấc được gót hay mũi chân, dần dần xuất hiện teo cơ đùi, mông, căng chân bên tổn thương.

– Khi bệnh nặng, chân tê bị mất cảm giác, phản xạ đi tiêu di tiểu có thể mất.

+ Cách phòng tránh

– Tránh đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu.

– Tự giữ vững nếu cảm thấy có một cơn ho hãy hắt hơi mạnh sẽ đến.

– Thực hiện nâng nhấc đổ vật một cách an toàn.

– Thường xuyên tập thể dục, gồm cả những bài tập co giãn nhẹ.

– Làm nhẹ ví và đừng để nó ở túi quần ngay sau hông.

– Ngủ nằm với một chiếc gối dưới đầu gối hoặc ngủ nghiêng với chiếc gối giữa hai chân.

– Mang giày đúng cỡ, thoải mái…

4. UNG THƯ GAN

Ung thư gan là 1 trong 8 ung thư hay gặp nhất trên toàn thế giới, bệnh chiếm 4% trong tổng số các ung thư ở người. Tại Việt Nam, ung thư gan là loại ung thư phổ biến đứng hàng thứ 4 ở cả hai giới.

Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là vinh viêm gan B. Đây là căn bệnh rất khó phát hiện ở giai đoạn sớm chính vì vậy việc điều trị cùng ít hiệu quả. Cách tốt nhất phòng chống căn bệnh này là tiêm phòng vacxin viêm gan B.

+ Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

Thủ phạm chính gây nên bệnh ung thư gan là virus viêm gan B. Các bằng chứng khoa học đã chứng minh viêm viêm gan B là yếu tố gây ung thư gan trên thực nghiệm. Người bị nhiễm viêm viêm gan B có nguy cơ cao gấp 200 lần so với người không bị nhiễm loại virus này.

Xơ gan do bất cứ nguyên nhân nào cũng là một yếu tố nguy cơ dẫn tới ung thư gan. Uống rượu kéo dài dẫn tới xơ gan là nguyên nhân thường gặp nhất của ung thư gan trên toàn thế giới.

Những người bị xơ gan do rượu nếu ngừng uống khoảng 10 năm thì sau đó cũng tiến triển tới ung thư gan. Thực phẩm dự trữ trong môi trường nóng và ẩm dễ sinh ra một loại nấm gọi là Aspergillus flavus, loại nấm này sinh ra Aflatoxin, là chất được biết gây ung thư mạnh trên thực nghiệm.

Ung thư tế bào gan cũng xuất hiện ở trên 30% bệnh nhân bị ứ sắt có tính chất di truyền. Tại Việt Nam, hậu quả của chiến tranh để lại với hàng triệu tấn chất độc màu da cam có chứa chất Dioxin cũng là một yếu tố nguy cơ chính gây nên căn bệnh này.

 

 

3 nguyên nhân chính dẫn đến gai cột sống.

+ Nội soi túi tinh

Được chỉ định trong trường hợp xuất tinh ra máu kéo dài trên 3 tháng mà không tìm thấy nguyên nhân nào. Hoặc xuất tinh ra máu kéo dài mà có phát hiện thấy bất thường túi tinh qua siêu âm hay qua chụp cộng hường từ.

+ Điều trị

– Điều trị Nội khoa:

Chỉ định cho các trường hợp viêm và nhiễm khuẩn:

Trong trường hợp nhiễm khuẩn do các loại vi khuẩn thông thường.

Điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ là lý tưởng nhất.

Nếu không có kháng sinh đồ thì dùng kháng sinh theo kinh nghiệm.

Lựa chọn những loại kháng sinh nào có phổ tác dụng đối với họ enterobacteria (chủ yếu là Escherichia coli), đặc biệt là ở những người trẻ thuốc phải có phổ tác dụng đối với cả chlamydia.

– Nhóm quinolone: Ciprofloxacin, norfloxacin, levofloxacỉn hay gatifloxacin. Liều uống 400 mg/ngày trong vòng 2 tuần đến 1 tháng.

– Nếu không có quinolone thay thế bằng Trimethoprim/sulfamethoxazole (Bactrim) 480 mg/viên, 2 viên /ngày + doxycycline 100 mg/viên, 1-2 viên /ngày, dùng thuốc trong 10- 15 ngày. Cũng có thể dùng:

Metronidazone 250 mg, uống 2 viên/ngày + Climlamycin/Erytromycin dùng trong 2 tuần.

Dùng phối hợp với các thuốc chống viêm, giảm phù nề, thuốc cầm máu.

– A-chymotripsin 4,2 mg/viên. Dùng 4 viên/ngày, trong 7 ngày.

– Các thuốc cầm máu: Transamin 250 mg/viên, 2-4 viên/ngày, trong 5 ngày.

Trường hợp lao sinh dục tiết niộu: Diều trị theo phác đồ chữa lao.

– Điều trị Ngoại khoa:

Việc điều trị phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể: Mổ mở hay nội soi.

Chỉ định trong các trường hợp:

– Bệnh lý tại chỗ như tắc túi tinh, nang túi tinh hay sỏi túi tinh.

– Các bệnh ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường dẫn tinh (ống dẫn tinh, túi tinh) và ung thư tinh hoàn,
dãn tĩnh mạch niệu đạo.

2. GAI CỘT SỐNG

Gai cột sống là sự phát triển thêm ra của xương trên thân đốt sống, đĩa sụn hay dây chằng quanh khớp. Bệnh xuất hiện kèm theo các cơn đau ở cơ hoặc ở lưng, và đặc biệt là khi người bệnh đứng lên ngồi xuống hoặc là đi lại.

3 nguyên nhân chính dẫn đến gai cột sống:

Viêm khớp cột sống mãn tính: Quá trình viêm ảnh hưởng đến phần sụn đốt sống, lâu ngày phần sụn này bị hao mòn dần, cơ thể sẽ có một quá trình tự điều chỉnh để khắc phục hiện tượng trên, nhưng kết quả của quá trình chỉnh sửa lại là sự hình thành gai xương.

Sự lắng đọng canxi ở các dây chằng, gân tiếp xúc với đốt sống: Trường hợp này thường gặp trong thoái hóa cột sống ở người lớn tuổi; đó là sự lắng đọng canxi dưới dạng calcipyrophosphat.

Quá trình thoái hóa làm mất nước (chiếm 80% trong sụn) và biến đổi một số chất, làm sụn khớp dễ bị canxi hóa.

Chấn thương: Chấn thương làm hư hại xương hoặc khớp ở cột sống, và phản ửng của cơ thể để sửa chữa nơi bị tổn thương sẽ dẫn đến sự hình thành gai cột sống. Trong trường hợp này, gai cũng có thể hình thành từ sự lắng đọng canxi ở dây chằng đã dày lên do phản ứng viêm.

+ Triệu chứng

– Thường thường thì những cơn đau đó có thể xuất hiện ở cổ hoặc ở lưng, và đặc biệt là khi người bệnh đứng lên ngồi xuống hoặc là đi lại, và nếu mà cái gai đó nó nằm trên cột sống cổ thì nó sẽ đưa tới nhức đầu, nhức vai.

– Hoặc nếu gai nằm ở cột sống lưng thì nó có thể đưa tới cơn đau xuống đến bàn chân, hoặc dưới hai chân.

– Những cơn đau này chỉ xảy ra khi chúng ta cử động và nó giảm khi chúng ta nghỉ ngơi. Và vì lý do đó mà nó sẽ giới hạn những hoạt động của người bị bệnh gai cột sống.

– Khi dây thần kinh bị gai cột sống đè vào hoặc cọ xát vào thì nó sẽ đưa ra một số những dấu hiệu, thì dụ như là bệnh nhân sẽ cảm thấy bị rối loạn đại tiểu tiện hoặc là mất cảm giác.

 

 

Xuất tinh ra máu.

+ Dự phòng bệnh tái phát

– Giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý.

– Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực. Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng. Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe.

– Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy, người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc. Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thi cần đeo đai lưng.

– Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo.

2. XUẤT TINH RA MÁU

Xuất tinh ra máu (Hemospermia) là tình trạng có máu lẫn trong tinh dịch khi xuất tinh. Thông thường, xuất tinh ra máu là bệnh lành tính và tự khỏi nhưng rất hay tái phát.

+ Nguyên nhân

Viêm là một trong các nguyên nhân thường gặp nhất. Quá trình viêm gây kích thích niêm mạc dẫn đến hiện tượng sung huyết và phù nề của các ống, các tuyến của đường dẫn tinh, túi tinh, tuyến tiền liệt, ụ núi và niệu đạo. Từ đó gây xuất tinh ra máu.

Các nguyên nhân gây viêm là do nhiễm khuẩn, chấn thương và sỏi túi tinh hay canxi hóa tuyến tiền liệt. Nhiễm khuẩn thường gặp như: Enterohacteria (chủ yếu làEscherichia coli), chlamydia, gram dương, trực khuẩn lao và một số loại virút.

Cần lưu ý: Lao là nguyên nhân chủ yếu ở Việt Nam. Các chấn thương gây viêm hay gặp trong các trường hợp quan hệ tình dục quá nhiều hay kiêng quan hệ tình dục quá lâu.

+ Tắc túi tinh và các nang túi tinh

Các nguyên nhân này gây căng và dãn túi tinh lâu ngày làm đứt vỡ các mạch máu dưới niêm mạc.

+ Ung thư

Các loại ung thư thường gặp phải kể đến là ung thư tuyến tiền liệt, ung thư đường dẫn tinh, ung thư tinh hoàn, u lympho.

+ Các bệnh toàn thân

Các bệnh toàn thân thường gặp là rối loạn đông máu, hémophilie, xơ gan, tăng huyết áp.

+ Nhóm do các thủ thuật

Sinh thiết tuyến tiền liệt qua trực tràng, đặt dụng cụ niệu đạo, chạy tia xạ trong ung thư tuyến tiền liệt, sau thắt ống dẫn tinh, sau cắt tinh hoàn…

+ Dãn tĩnh mạch niệu đạo

Trường hợp này, tinh dịch thường không có lẫn máu mà chỉ đái máu một bãi sau khi cương dương vật.

+ Chẩn đoán

– Chẩn đoán xác định

Lâm sàng: Tinh dịch có màu đỏ hoặc màu nâu hoặc màu rỉ sắt

Xét nghiệm tinh dịch đồ: Có nhiều hồng cầu trong tinh dịch

– Chẩn đoán nguyên nhân

. Các xét nghiệm nước tiểu.

Phân tích nước tiểu, nuôi cấy vi khuẩn nước tiểu và làm kháng sinh đồ, tìm tế bào ác tính trong nước tiểu.

. Các xét nghiệm tinh dịch.

Làm tinh dịch đồ để tìm hổng cầu và bạch cầu, nuôi cấy vi khuẩn tinh dịch và làm kháng sinh đồ, tìm tế bào ác tính trong tinh dịch.

. Các xét nghiệm máu.

Công thức bạch cầu, tốc độ máu lắng, các xét nghiệm đánh giá chức năng đông máu, kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) đối với người trên 45 tuổi.

. Các xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân lao đường tiết niệu.

Ngoài các xét nghiệm; công thức bạch cầu, tốc độ máu lắng, để tìm nguyên nhân lao cần làm thêm các xét nghiệm sau: Mantoux, tìm kháng thể kháng lao, phản ửng PCR với trực khuẩn lao (bệnh phẩm là tinh dịch).

+ Siêu âm ổ bụng

Đánh giá tình trạng của gan, thận, bàng quang và tuyến tiền liệt …

+ Siêu âm qua trực tràng

Là một phương tiện chẩn đoán hữu hiệu để chẩn đoán các bệnh lý khu vực túi tinh và tiền liệt tuyến như: Can xi hoá tiền liệt tuyến, sỏi túi tinh, giãn túi tinh, nang túi tinh hoặc ống phóng tinh.

+ Soi niệu đạo và bàng quang

Soi bàng quang, niệu đạo có thể phát hiện ra các tổn thương ở niệu đạo, tuyến tiền liệt. Thông thương soi niệu đạo, bàng quang khi dương vật cương thì sẽ xác định được giãn mao mạch và tĩnh mạch của niệu đạo cũng như là của tuyến tiền liệt, các u máu niệu đạo một cách dễ dàng.

+ Chụp cộng hưởng từ vùng tiểu khung

Cộng hưởng từ là một phương tiện chẩn đoán hình ảnh có giá trị nhất trong thăm dò túi tinh và tuyến tiền liệt, được chỉ định trong các trường hợp có nghi ngờ bệnh lý trên siêu âm qua trực tràng.

Nguyên nhân và những triệu chứng khi đĩa đệm bị thoát vị?

THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

Nhiều bệnh nhân thường tìm đến với thấy thuốc vì triệu chứng đau lưng, đau lan xuống một hoặc hai chân, hoặc đau cột sống cổ lan xuống một hoặc hai tay, bệnh nhân đến bệnh viện khám vì cảm giác yếu cơ.

Khi được chẩn đoán bị thoát vị đĩa đệm có nghĩa là nhân của đĩa đệm (hay còn gọi là chất dịch) đã thoát ra ngoài và chèn ép trên rễ thần kinh hoặc trên tủy sống gây các triệu chứng trên.

Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh có thể bị tàn phế do liệt, teo cơ hoặc đại tiểu tiện không tự chủ, làm sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động.

+ Đĩa đệm là gì và điều gì xảy ra khi bị thoát vị đĩa đệm?

Đĩa đệm là một miếng lót làm giảm sốc nằm giữa hai thân đốt sống, đĩa đệm sẽ trở nên giòn dễ vỡ theo thời gian.

Ở những người trẻ thì đĩa đệm mềm dẻo hơn những người già, cũng giống như những cấu trúc khác trong cơ, chúng trở nên mất tính dẻo dai và bền chắc, theo thời gian chúng dễ bị tổn thương, thậm chí ở những người trẻ ở độ tuổi 30 cũng trường hợp bị hư hỏng đĩa đệm khoảng 30%.

Khi một đĩa đệm mất tính mềm deo, nó có thể bị rách ra và khi đó một chất dịch thoát ra ngoài, hiện tượng này gọi là thoát vị đĩa đệm, chất dịch này có thể đè lên rễ thần kinh hoặc tủy gây lên tình trạng đau tức khi khối thoát vị đó đủ lớn.

+ Nguyên nhân gì gây ra thoát vị đĩa đệm ?

Ngoài nguyên nhân do thoái hoá tự nhiên, do bị tai nạn té ngã thì người bệnh bị thoát vị đĩa đệm phần nhiều là do tư thế lao động, tư thế ngồi gây cong vẹo cột sống, thay đổi tư thế một cách đột ngột, mang vác nặng sai cách.

Thường gặp nhất là việc bê vác vật nặng (thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng, thoát vị đĩa đệm)

+ Những triệu chứng gì khi đĩa đệm bị thoát vị?

– Đau: Đau thường xuất hiện sớm nhất, đau bắt đầu sau sự té ngă, đau xuất phát từ cột sống, lan xuống hai tay hoặc hai chân tùy theo vị trí thoát vị ở lưng hay ở cổ.

Dấu hiệu kiến bò hay tê bì: Bệnh nhân có cảm giác kiến bò hay tê bì một số vùng da mà rễ thần kinh đó chi phối, dấu hiệu nay thường xảy ra trên vùng da có cảm giác đau.

Yếu cơ: Dây thần kinh chi phối vận động, bị chặn dẫn truyền những xung động thần kinh từ não bộ xuống do đó gây tình trạng yếu nhược cơ.

– Bí trung, đại tiện: Những triệu chứng này rất quan trọng bởi vì nó là dấu hiệu của hội chứng chùm đuôi ngựa, đây là tình trạng cần phải được điều trị cấp cứu, bệnh nhân nên đi khám ngay, nếu như có tình trạng bí trung đại tiện hoặc bệnh nhân có cảm giác tê bì quanh bộ phận sinh dục ngoài. Tất cả những triệu chứng trên là do kích thích của rễ thần kinh.

+ Làm thế nào để chẩn đoán thoát vị đĩa đệm?

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm không phải dễ dàng. Để xác định đĩa đệm bị tổn thương và thoát vị, bác sĩ phải thử cảm giác sức cơ, phản xạ, làm điện cơ và những xét nghiệm cần thiết, chụp MRI.

Qua đó bác sĩ sẽ có thể đánh giá được hình thái, tính chất tổn thương đĩa đệm, vị trí thoát vị vào ống sống hay vào lỗ liên hợp, cũng như mức độ hẹp ông sống do thoát vị đĩa đệm gây ra. Từ đó lập kế hoạch, quyết định các biện pháp điều trị hợp lý.

+ Các phương pháp điều trị hiện nay

MRI là xét nghiệm cận lâm sàng hết sức cần thiết để kết luận thoát vị đĩa đệm, tùy thuộc vào mức độ và những triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ quyết định điều trị nội khoa hay chỉ định phẫu thuật. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị như làm giảm áp lực nhân đĩa đệm thông qua:

– Cắt đốt sóng cao tần Radiofrequency. Nguyên lý của phương pháp là đưa sóng radio vào vùng đĩa đệm thoát vị thông qua một mũi kim qua da. Với nhiệt độ tỏa ra từ các bước sóng radio làm cho khối thoát vị bị thu nhỏ, trở về vị trí cũ làm giải phóng thần kinh bị chèn ép.

– Laser dùng hiệu ứng nhiệt của tia laser để hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng chèn ép thần kinh.

– Lấy nhân đệm bằng phương pháp mổ hở.

– Phương pháp mổ nội soi: Với trình độ khoa hoc kỹ thuật hiện nay, người ta đã sản xuất ra những trang thiết bị cực nhỏ để có thể đưa qua những lỗ phẫu thuật rất nhỏ để lấy khỏi thoát vị mà những mô mềm chung quanh ít tàn phá nhất, đó là chính là phương pháp phẫu thuật nội soi.

+ Biện pháp phòng tránh và luyện tập cho người bệnh bị thoát vị đĩa đệm.

– Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.

– Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hàng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm.

– Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom.

– Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất.

– Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.