Vô sinh ở nam giới.

Một cặp vợ chồng mới cưới, có sức khỏe bình thường, sau 12 tháng chung sống, trong sinh hoạt tình dục không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào mà chưa có con được xếp vào nhóm vô sinh.

Vô sinh nam giới là vô sinh do nguyên nhân của người nam (có hay không kết hợp với nguyên nhân từ phía nữ giới).

Vô sinh 1: Người vợ chưa có thai lần nào.

Vô sinh 2: Người vợ đã có con hoặc đã xảy thai, đến nay không thể có con được. Về mặt tiên lượng, vô sinh II dễ điều trị hơn vô sinh 1. Nguyên nhân Có rất nhiều nguyên nhân gây vô sinh nam giới. Có thể chia thành các nhóm:

Yếu tố tình dục (rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh).

Nhiễm trùng hộ tiết niệu sinh dục: viêm tinh hoàn-mào tinh hoàn, viêm niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt…

+ Những bất thường bẩm sinh:

Các bất thường về nhiễm sắc thể giới tính (hội chứng Klinefelter và các biến thể của hội chứng này: 47XXY, 48XXXY).

Các khuyết tật về gen: hội chứng Kallinann, hội chứng Prader-Willi,…

+ Các yếu tố mắc phải:

-Nghiện rượu, hút thuốc lá, sau hoá trị liệu, nhiễm độc tia xạ,…

Giãn tĩnh mạch tinh.

Các rối loạn về nội tiết có Suy sinh dục (tại tinh hoàn và ngoài tinh hoàn), thiếu FSH đơn thuần, bài tiết nội tiết quá mức (sản xuất quá nhiều andropen, bài tiết estrogen quá mức)…

Các yếu tố miễn dịch: Kháng thể kháng tinh trùng gây hiện tượng ngưng kết và bất động tinh trùng.

– Các bất thường khác:

Tật không tinh hoàn, tinh hoàn không xuống bầu, tắc ống dẫn tinh, không ống dẫn tinh, hội chứng chỉ có tế bào Sertoli, cấu trúc bất thường của tinh trùng.

Tinh dịch bất thường tự phát (hội chứng OAT) hoặc không tìm thấy nguyên nhân.

+ Chẩn đoán, Lâm sàng:

– Tiền sử thói quen hút thuốc, uống rượu. nhiễm độc, tiếp xúc hoá chất,…

– Tiền sử hôn nhân và thai sản: Lấy vợ mấy năm, thời gian từ khi muốn có con đến nay….

– Tiền sử bệnh tật: Quai bị, bệnh mãn tính, bệnh viêm nhiễm- lây truyền qua đường tình dục,…

Đặc điểm nhu cầu sinh lý, sinh hoạt tình dục xem có rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh,…

Tiến sử gia đình về sinh sản: Trong gia đình có ai chậm con không?

Phía vợ: ĐÃ khám cho vợ chưa? Các bất thường liên quan đến sức khỏe sinh sản của người vợ. Nhu cầu đòi hỏi về sinh lý, tình hình kinh nguyệt (chu kỳ kinh, màu sắc kinh nguyệt, đaukhi có kinh), đau khi giao hợp,…

+ Khám bệnh

• Toàn thân: Trạng thái tinh thần kinh, hình dáng bên ngoài….

– Thực thể: Bệnh nội tiết, tim mạch, hệ tiết niệu.

– Tại chỗ: Bộ phận sinh dục ngoài: Dị tật (không có tinh hoàn trong bìu, lỗ đái thấp, cong vẹo dương vật, ), viêm nhiễm, chảy mủ hoặc dịch bất thường. Sờ thấy búi giãn tĩnh mạch tinh. Có sờ thấy ống dẫn tinh không?…

+ Cặn lâm sàng:

Xét nghiệm tinh dịch đồ: Đánh giá số lượng, tính chất vật lý của tinh dịch; số lượng và chất lượng tinh trùng.

Xét nghiệm sinh hoá tinh dịch: Túi tinh chứa nhiều fructose, tuyến tiền liệt chứa phosphatase acid và kẽm, mào tinh hoàn chứa carnitin. Dựa vào các đặc điểm này có thể chẩn đoán tắc đoạn nào của đường xuất tinh.

Xét nghiệm kháng thể kháng tinh trùng: Chú ý loại kháng thể và hiệu giá kháng thể.

Xét nghiệm đầy đủ 5 yếu tố nội tiết tố trong máu: LH, FSH, prolactin, estradiol, testoateron.

Xét nghiệm về di truyền học (về nhiễm sắc thể, về gen).

+ Xét nghiệm về mô học:

– Chọc hút dịch mào tinh hoàn tìm tinh trùng.

– Sinh thiết tinh hoàn (dùng kim sinh thiết hoặc mổ sinh thiết).

+ Chẩn đoán hình ảnh:

– Siêu âm hộ tiết niệu – sinh dục (lưu ý: Tuyến tiền liệt., túi tinh, tinh hoàn, mào tinh hoàn, tĩnh mạch tinh) xem có bất thường không? Có giãn tĩnh mạch tinh không? Đo kích thước tinh hoàn…

– Chụp ống dẫn tinh: Mục đích tìm chỗ tắc trên đường dẫn tinh.

 

Bệnh rận lông mu.

* Nguy cơ của tinh hoàn không xuống bìu:

+ Vô sinh: Những tinh hoàn không xuống bìu đcu có sự khiếm huyết cả số lượng và chất lượng tinh trùng. Số lượng tế bào mầm và ống sinh tinh giảm rỏ rệt so với tinh hoàn bình thường.

+ Ung thư tinh hoàn: Nguy cơ ung thư hóa tinh hòan oặp trong tinh hoàn không xuống bìu có tỷ lệ cao gấp 35-48 lần so với tinh hoàn binh thường.

– Nguy cơ ung thư tinh hoàn từng lên ở những trường hợp tinh hoàn ở vị trí cao trong ổ bụng do nhiệt độ ổ bụng cao hơn bìu.

* Cách điều trị;

– Đây là dị tật có thể sửa chữa bằng tiêm thuốc hormon hoặc phẫu thuật. Do vậy chỉ định điều trị nội hoặc ngoại khoa phụ thuộc vào mức độ và tuổi chẩn đoán sớm hay muộn.

– Điều trị ngoại khoa có nhiều ưu điểm đưa ngay tinh hoàn xuống bìu nhưng có thể làm thương tổn ống dẫn tinh, mạch máu nuôi tinh hoàn trong quá trình phẫu thuật.

– Các tai biến này sẽ làm cho tinh hoàn bị teo hoặc tắc ông dẫn tinh sau mổ. Những trường hợp tinh hoàn nằm cao trong ổ bụng rất khó hạ ngay xuống thì phải mổ.

– Điều trị nội khoa bằng hormon HCG có thể làm cho một số tinh hoàn di chuyển xuống bìu hoàn toàn, số còn lại nếu chỉ di chuyển một phần cũng làm cho phẫu thuật được dễ dàng hơn.

4. RẬN LÔNG MU

* Nguyên nhân:

– Rận lông mu là một loại ký sinh trùng rất nhỏ, màu vàng hung, bám sát vào chân lông mu, gây ngứa nhiều ở vùng xương mu và bộ phận sinh dục, thường lây nhiễm qua quan hệ tình dục với người có rận.

– Đàn ông dễ bị nhiễm rận mu hơn, có thể do lông trên cơ thể thô cứng hơn.

* Triệu chứng:

– Rận và trứng của chúng dính vào lông mu hoặc lông ở các vùng khác của cơ thể. Có thể thấy sưng hạch lymphô ở vùng bẹn, có thể thấy các vết xanh ánh bạc ở vị trí bị rận cắn.

Nhiễm rận thường gây ngứa, nhưng có khi lại không kèm triệu chứng nào cả.

* Nguyên nhân gây bệnh:

– Bệnh lây truyền qua tiếp xúc qua đường tình dục, hoặc qua áo quần, giường chiếu mùng mền, khăn lông nhiễm mầm bệnh.

* Phòng ngừa:

– Luôn tuân thủ các biện pháp an toàn tình dục, bao gồm cả việc tránh tiếp xúc thân mật với các bạn tình nhiễm rận mu.

* Chữa trị:

+ Bác sĩ có thể chỉ định cho uống thuốc hoặc bôi dung dịch. Đồng thời với việc điều trị cho bệnh nhân, còn điều trị tất cả các bạn tình của người bệnh.

+ Bác sĩ cần biết chắc chắn rằng tất cả những vùng có lông trên cơ thể đều đã được tiệt trừ rận
để ngăn ngừa tái phát.

+ Tránh quan hệ tình dục cho đến khi cả bệnh nhân lẫn bạn tình của mình đã được điều trị sạch
rận mu.

– Khi bị rận lông mu, cẩn thận trọng bởi rận có thể là dấu hiệu của một bệnh lây nhiễm qua đường tình dục khác, nhất là bệnh lậu. Hãy đến bệnh viện để khám và điều trị, không cần phải cạo lông, vì nếu cạo, lông vẫn mọc trở lại.

Triệu chứng bệnh liệt chân tay và bệnh lạc tinh hoàn.

+Triệu chứng:

– Một khi não đã bị tổn thương thì hiện tượng liệt tay, chân là việc ắt phải xảy ra. Bệnh nhân không cử động được một bên tay, chân khác bên với bán cầu não bị tổn thương) và thường kèm theo cá hiện tượng liệt mặt.

– Trường hợp nhẹ, bệnh nhân còn hơi cử động được chân, tay bên bị liệt nhưng sức lực ở bên này kém hẳn so với bên kia. Cũng có trường hợp nhẹ hơn, bệnh nhân chỉ bị liệt một tay hoặc một chân thôi. Bị chấn thương nặng ở cột sống có thể làm cho cả 2 chân bị liệt.

– Ở đàn ông, dương vật có thể vẫn còn khả năng cương cứng nhưng thường bị rối loạn về tiểu tiện và ddại tiện, không tự chủ được nữa. Hiện tượng chỉ có một chi bị liệt có thể do có một dây thần kinh hoặc gốc một dây thần kinh bị tổn thương ở đoạn vừa ra khỏi tủy sống. Sự rối loạn về việc nói và nuốt thường do những khuyết tật bẩm sinh.

+ Cấn phải làm gi?

– Hiện tượng bị liệt đột ngột, dù nhẹ, cũng cần phải tới bác sĩ để khám bệnh ngay. Đôi khi, sự rối loạn nhẹ này lại là biểu hiện của hiện tượng tắc nghẽn mạch máu não, bởi vậy phải tới bác sĩ ngay. Nếu bệnh nhân bị sặc khi uống nước, cần ngưng không cho uống tiếp để bác sĩ xác định xem có bị chứng nuốt sai đường không.

+ Chẩn đoán và điều trị:

– Dù bị liệt nhẹ hay nặng, bác sĩ cũng sẽ đo huyết áp và X-quang não để xem xét toàn bộ não.

– Bác sĩ có thể yêu cầu làm thêm một số xét nghiệm sau. Chụp X-quang sọ não và cột sống, chụp scanner 3 chiều sọ, não; thử máu, siêu âm các mạch cổ. Đôi khi phải chọc cột sống để lấy dịch tủy, dùng dòng điện thử phản ửng dây thần kinh, cơ bắp.

– Việc phục hồi chức năng của não có được hoàn toàn hay không phụ thuộc vào vị trí ở não và diện tích não bị tổn thương. Hiện tượng bị liệt có thể do một số nguyên nhân sau:

+ Bị chấn thương ở sọ não gây xuất huyết, tụ máu ở não, hoặc ở cột sống làm giập, gãy hoặc tụ
máu ở cột sống.

+ Hiện tượng bị liệt ở người trên 50 tuổi thường do tai biến mạch máu não, tắc mạch, xuất huyết, tụ máu ở não.

+ Ở người trẻ, thường do tắc mạch não. Vật cản có thể đến não từ tim, từ một mạch máu, từ một điểm tụ máu.

+ Hiện tượng liệt các dây thần kinh ngoại biên có thể do virus, do bị ngộ độc rượu hoặc chất kích thích khác, do bị căng thẳng thần kinh, do vẩy trong máu. Ở lớp người trẻ, hiện tượng này thường làm cho phần vỏ các dây thần kinh bị suy thoái dẫn tới sự tê liệt trong thời gian ngắn hoặc các giác quan bị rối loạn, kém nhạy cảm.

3. LẠC TINH HOÀN

– Lạc tinh hoàn còn gọi là hiện tượng tinh hoàn không xuống bìu hay tinh hoàn ẩn, là thuật ngữ đước dùng để chỉ các trường hợp tinh hoàn không nằm ở bìu do bị đứng lại bất thường trên đường di chuyển bình thường từ ở bụng xuống bìu, bị lạc chỗ hoặc tinh hoàn dao động. Tinh hoàn ẩn có thể một bên hoặc hai bên.

+ Nguyên nhân gây ra hiện tượng tinh hoàn không Xuống bìu:

– Sự trở ngại của dây chằng và ống bẹn đều có thể làm hạn chế sự di chuyển của tinh hoàn hoặc
dẫn đến tinh hoàn lạc chỗ ở vị trí bất thường.

– Nguyên nhân do chính bản thân tinh hoàn, thường gặp trong những bất thường nhiễm sắc thể 46, XXY, hoặc có thể phối hợp với nhiều hội chứng dị dạng khác.

– Do tổn thương trục dưới đổi – yên – sinh dục ở bệnh nhân. Khi bệnh nhân mắc các hội chứng: Kallmann, Prader-wilii Labhart, quái thai không não, suy tuyến yên do trục dưới đồi – yên – sinh dục bị tổn thương hoặc không bình thường về cấu trúc đều là những nguyên nhân khiến tinh hoàn không xuống bìu.

 

 

Bệnh viêm não cấp và liệt chân tay.

1. VIÊM NÃO CẤP

+ Nguyên nhân:

– Đây là trường hợp não, thường là màng não, bị viêm nhiễm và sưng lên do virus. Virus có thể làm não sưng phù lên và gây ra sự hủy hoại các tế bào não.

– Có nhiều loại virus có thể gây ra bệnh phù não cấp, có loại thường xuất hiện ở mùa hè (togavirus) , có loại về mùa đông (như paramyxovirus). Ngoài ra còn phải kể cả các virus của một số bệnh như bệnh ban đỏ, bệnh thủy đậu, bệnh mụn rộp Herpès.

– Có nhiều trường hợp bệnh nặng, nhẹ khác nhau. Có trường hợp, chỉ 1 – 2 tuần là bệnh nhân đã khỏi hẳn mà không có hậu quả gì. Lại có trường hợp căn bệnh kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, để lại cho bệnh nhân những hậu quả trầm trọng về thần kinh. Một số bệnh nhân bị phù não không tránh được tử vong.

– Không có cách chữa trị nào thật hiệu quả để chống lại các virus gây bệnh phù não, trừ trường hợp bệnh do virus Herpès gây ra. Bởi vậy, cần phải phát hiện virus thật nhanh và điều trị bệnh ngay mới hy vọng qua khỏi.

– Bệnh phù não dễ bị nhầm với một số bệnh về não khác kể cà bệnh sốt rét. Những bệnh này đều có thể chữa trị khỏi.

+ Triệu chứng:

– Bệnh thường phát sinh đột ngột làm người bệnh đau đầu, viêm xoang – họng, sốt mê man, tinh thần không minh mẫn, người co giật và có hiện tượng gáy bị cứng.

– Có một số trường hợp, bệnh phù não gây ra hiện tượng tê liệt, mất khả năng nói, viết, không phối hợp được chân, tay khi cử động, các giác quan và trí nhớ bị suy giảm.

+ Cần phải làm gì?

– Khi thấy người bệnh có những triệu chứng về não như: Đau đầu, sợ ánh sáng, nôn ói, cứng cáy, cần phải cấp tốc đưa tới bác sĩ ngay vì có thể là bị đau màng não hoặc phù não. Việc khám bệnh và xác định được bệnh để điều trị càng sớm càng có nhiều hy vọng khỏi bệnh.

+ Chẩn đoán và điều trị:

– Nhận thấy những triệu chứng đặc biệt của bệnh về não, bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân phải nhập viện.
Sau đó, để xác định bệnh, bác sĩ có thể sẽ thực hiện những xét nghiệm sau đây: chụp X-quang sọ, chụp scanner não, thử máu và nếu thấy cần có thể phải chọc hút lấy nước não tủy để tìm virus. Trường hợp biết chắc chắn bệnh do virus Herpès gây ra, bác sĩ sẽ tiến hành điểu trị cấp tốc bằng các thuốc phù hợp để diệt virus.

– Bệnh viêm não không do virus gây ra thì có thể trị khỏi. Nếu bệnh do virus gây ra nhưng không phát triển thành nặng thì người bệnh cũng có cơ may qua khỏi.

2. LIỆT CHÂN TAY

+ Nguyên nhân:

– Đây là hiện tượng các cơ bắp ở tay, ở chân hoặc ở cả tay – chân không còn duy trì được chức năng của mình nữa. Nếu chỉ ở một bên thường được dân gian gọi là: bốn thân bất toại. Nếu ở bên phải thường có kèm theo rối loạn về nói – hiểu.

– Sức lực của cơ bắp và sự hoạt động của chân tay phụ thuộc vào một chuỗi các tế bào thần kinh xuất phát từ não để đi tới các cơ bắp. Các hiệu lệnh được phát ra từ vỏ não ở vùng trán. Các tế bào thần kinh điều khiển các hoạt động của đầu và 2 tay là loại tế bào rất phát triển. Suốt dọc cột sống có nhiều trạm để các tế bào chuyển tiếp các tín hiệu cho nhau, cho tới khi đến các cơ bắp.

– Nếu não bị tổn thương (do khôi u, tai biến mạch máu,) thì một bên cơ thể sẽ bị liệt. Bị tổn thương bên trái não thì bị liệt cơ thể bên phải và ngược lại, tổn thương bên phải thì liệt bên trái. Não bị tổn thương càng nặng thì tình trạng liệt càng trầm trọng. Bị uổn thương ở phần trên cột sống,ưở cổ sẽ dẫn tới hiện tượng liệt cả tứ chi. Bị tổn thương cột sống ở lưng sẽ gây ra liệt 2 chân và thường làm rối loạn việc tiểu tiện và đại tiện. Sự tổn thương ở hệ thần kinh ngoại biên có thể chỉ gây ra hiện tượng liệt ở một chi. Các cơ bắp bị tổn thương cũng có thể dẫn tới sự tê liệt.

 

Các phương thuốc chữa trị ung thư dương vật.

3. UNG THƯ DUƠNG VẬT

+ Nguyên nhân;

– Nhiều người cho rằng da quy đầu bị dơ bẩn gây ra.

– Da quy đầu bị dơ bẩn là do nước tiểu bị dính khi đi tiểu, cộng thêm chất nhờn bài tiết và lớp tế bào rơi rớt mà tạo thành một lớp dơ bẩn màu sẫm, Dẫn đến da quy đầu bị viêm, thậm chí tạo thành kết thạch. Sự kích thích mạn tính trường kỳ dẫn đến bệnh ung thư dương vật (UTDV).

– Người có da quy đầu quá dài ngoài việc có thể bị bệnh ung thư, mà còn gây cho người vợ dễ bị ung thư tử cung và ung thư bộ phận sinh dục của họ.

+ Những biểu hiện của bệnh UTDV thời kỳ đầu:

– Ngứa ngáy một vùng, cảm giác như nóng bỏng, hoặc cảm thấy hơi đau nhức. Lớp da quy đầu dơ bẩn sau một thời gian lâu tích tổn, độc tố của nó kích thích đầu dương vật làm cho vùng đó bị sưng đỏ. Ban đầu chỉ cảm thấy ngứa ngáy, nóng bỏng, cảm giác này trở đi trở lại mãi, ngứa quá phải gãi gáy loét, độc tố theo đó mà vào dương vật, gây ra cảm giác đau nhức.

– Khối u cứng hoặc đốm đỏ: Đầu dương vật và da quy đầu xuất hiện những cục u cứng nhỏ, hoặc đầu dương vật trở nên nhám, biến thành những cục cứng, hoặc xuất hiện những vết lở loét chữa mãi không lành.

– Da quy đầu bị sưng hoặc tiết ra những chất mồ hôi tanh.

– Y học cổ truyền với bệnh UTDV.

– Y học cổ truyền quy chứng bệnh này vào phạm trù các loại bệnh như “thận đầu sinh vết loét”, “hoa đèn nến”, “phong phiêu chúc”, “loét da quy đầu”, “thản nhâm sinh hoa”. Tất cả là do can thận âm suy, tướng hỏa nội phát, thủy không nuôi mộc, hỏa làm uất kết mà gây bệnh, nguyên ắc chữa trị của đông y là lợi ôn giải độc, thanh độc giảng hòa, tư bổ can thận. Cần phải kết hợp trong uống, ngoài bôi.

+ Các phương thuốc chữa tri bệnh UTDV.

Bài 1: Giải độc thang

– Kim ngân hoa 30g, địa đinh 30g, bồ công anh 30g, hoàng bá 20g, bạch hoa xà thiệt thảo 60g, thổ phục linh 30g, bát nguyệt trát 40g, hoàng kỳ 15g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần sáng, chiều. Mỗi đợt uống 5 ngày.

Bài 2: Thanh nhiệt tiêu thũng

– Giang bản quy 30g, bán biên liên 30g, thạch đà xuyên 30g, trạch tất 10g, đạm trúc diệp 30g, thổ bối mẫu 20g, sinh ý nhân 60g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần sáng, chiều. Mỗi đợt uống 5 ngày.

+ Thuốc chữa ngoài.

Bài 1: Ô mai 27 quả, nước muối loãng (0,9%) 1 lít, đổ vào nồi đất nấu cho sôi rồi dùng lửa riu riu nấu thêm 20 phút trong 24 giờ, chia ra 6 lần uống, mỗi lần uống 30ml đồng thời lấy nước thuốc thoa vào chỗ đau loét. Lúc uống thuốc kỵ ăn đường đỏ, rượu trắng và các món kích thích chua, cay.

Bài 2: Bách hợp tươi lượng thích hợp giã nát, bó vào dương vật. Mỗi ngày 2-3 lần, nếu không có thuốc tươi, dùng thuốc khô, nấu thành cao mà thoa, băng.

+ Ăn uống với người bệnh UTDV như thế nào?

– Người bệnh UTDV nên ăn những thực phẩm có chất để không ung thư, ngừa sự truyền nhiễm như hồ đào, quả lâu, đậu cổ, quả trám (cảm lãm), hạnh nhân, mướp, cá diếc…

+ Để tăng cường sức miễn dịch, có thể dùng: ba ba, cá quả, cá trắm đen…

+ Đối với triệu chứng mà dùng thực phẩm chống lở loét như rau má, tiểu hoa, lá kim châm, hải điểu ngư, cá thu, rau dầu, khoai môn (sọ), đậu xanh, đậu đỏ, trầm tiêu phấn, mô lan cầu, cá chạch, cá chày.

+ Tuyến tinh hoàn sưng to thì dùng: Khoai môn (sọ), hồng hoa, củ năng, bách hợp, dâu, ốc lác, hoàng nhan ngư, thịt mèo, bao tử dê.

+ Ăn uống cấm kỵ những thực phẩm làm gia tăng sự phát triển của bệnh, tuyệt đối cấm dùng các thực phẩm ôn nhiệt như thịt dê, thịt chó, hẹ…

+ Một số món ăn bài thuốc hỗ trợ chữa UTDV:

– Hạnh nhân hạnh đào: Hạnh nhân 5g, hạnh đào nhục 2 quả, cùng nặn cho mịn rồi chậm rãi mà nhai.

– Sơn hạnh cá diếc: Sơn dược 9g, hạnh nhân để vào bụng cá diếc, thêm gia vị nấu ăn.

– Rau sam (rau trường thọ, mã xi hiện) xào thịt: Mã xì hiện tươi 30-60g, rửa sạch xào với thịt.

– Sâm, kỳ từ nấu bồ câu mái: Bồ câu làm sạch lông, bỏ phủ tạng rửa sạch nướng sơ qua. Thêm hành, gừng, đường, rượu vào hấp. Khi nước bốc lên, đổ nhân sâm vào, nước cốt câu kỷ tử nấu sôi, đổ vào trong thân bồ câu.

– Canh cá thu: Cá thu 1 con, thêm gia vị nấu canh ăn.

+ Phương pháp phòng bệnh UTDV

– Phương pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa bệnh UTDV là cắt hẹp da quy đầu khi còn trẻ. Thường xuyên làm vệ sinh sạch da quy đầu. Kinh nghiệm chứng minh người càng giữ vệ sinh sạch sẽ, càng ít bị mắc bệnh UTDV.

Triệu chứng bệnh mụn rộp và đau tinh hoàn.

1. Triệu chứng bệnh mụn rộp.

– Khi bệnh mới phát, người bệnh thấy da bị nóng rát, rồi cổ những mụn rộp nhỏ nổi lên. Những mụn này sẽ vỡ ra thành những điểm loét nhỏ rất đau. Sau đó, vết loét sẽ đóng vẩy. Khi tái phát, bệnh nhẹ hơn lúc mới phát.

– Các mụn rộp thường xuất hiện ở môi, ỏ chung quanh lỗ mũi và sẽ đóng vẩy từ 6 tới 10 ngày sau đó, nhưng lại dễ tái phát.

– Bệnh thường thấy cả ở bộ phận sinh dục. Phụ nữ thường bị rộp ở âm hộ. Trong thời gian các mụn vỡ ra, việc đi tiểu hoặc có kinh nguyệt làm cho người bệnh rất đau. Đôi khi các mụn rộp phát triển ở cả âm đạo, cổ tử cung và hậu môn. Vì các mụn gây đau rát, nhất là khi bị đụng chạm, nên việc khám bệnh cho những bệnh nhân này rất khó khăn. Các mụn sẽ đóng vẩy sau khi xuất hiện từ 3 tới 4 tuần.

– Nam giới có thể bị mụn rộp ở quy đầu, ở da bao quy đầu và dương vật. Các mụn sẽ đóng vẩy từ 8 tới 15 ngày sau khi xuất hiện.

+ Cần phải làm gì?

– Nên chữa trị bệnh càng sớm càng tốt. Bởi vậy, ngay sau khi các mụn xuất hiện, cần tới bác sĩ để được khám bệnh ngay. Khi bệnh tái phát cũng vậy.

– Tránh tuyệt đối mọi sự tiếp xúc (hôn hít hoặc giao hợp). Nếu mụn mọc ở mặt (mũi, miệng), khi đi ra ngoài, cần che mụn không để ánh nắng chiếu vào.

+ Chẩn đoán và chữa trị

– Bác sĩ thường cho bệnh nhân uống thuốc kháng sinh để chống virus trong 5 ngày liền, phối hợp với thuốc bôi ngay vào chỗ đau. Càng điều trị sớm, càng mau khỏi.

– Trường hợp bị bệnh ở bộ phận sinh dục, bác sĩ cần khám kỹ, lấy mẫu ở chỗ bị rộp để xét nghiệm, phối hợp với việc thử máu vì người bệnh có thể mắc nhiều bệnh về tình dục khác cùng lúc với bệnh này (như bệnh sida). Bác sĩ sẽ yêu cầu người bệnh nên khuyến khích người đã quan hệ tình dục với mình cùng đi khám và chữa bệnh.

– Nếu bệnh nhân là nữ, bác sĩ sẽ hết sức chú ý đến cổ tử cung để xem có những dấu hiệu bị ung thư không.

2. ĐAU TINH HOÀN

+ Nguyên nhân

– Khi thấy đau trong tinh hoàn, cần tới bác sĩ để khám bệnh ngay. Mỗi người đàn ông đều có một đôi tinh hoàn, nhìn như 2 quà trứng nhỏ, hơi dẹt, treo ở giữa 2 đùi bởi một số cơ nhỏ có khả năng nâng tinh hoàn lên cao rồi lại thả xuống thấp trong một cái túi nhỏ gọi là bìu.

– Tinh hoàn là bộ phận sản xuất hoóc-môn nam tostoterone vò các tinh trùng. Các tinh trùng được tập trung và đổ vào một đường ống nam ôm lấy tinh hoàn theo chiều dọc rồi chạy thẳng lên phía trên, nốì với tuyến tiền liệt và đoạn cuối của niệu đạo.

– Đấy cũng là đường đi của các tinh trùng để ra ngoài khi có sự phóng tinh.

– Những dây thần kinh và các mạch máu nuôi dưỡng tinh hoàn tới từ phía bụng.

– Cảm giác đau có thể xuất phát từ tinh hoàn, từ mạng lưới ống sinh tinh, ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt, niệu đạo, bìu hoặc do chứng sa tinh hoàn.

+ Cần phải làm gì?

– Ở trẻ em, khi thấy bìu bị sưng và trẻ kêu đau thì cần phải đưa tới bệnh viện ngay vì có khả năng bị chứng xoắn tinh hoàn. Người lớn bị đau tinh hoàn cũng cần tới bệnh viện ngay.

– Trong khi chờ đợi, có thể cho bệnh nhân uống thuốc giảm đau, dùng khăn ướp lạnh bọc lấy tinh hoàn. Cố tránh đụng chạm tới chỗ đau và không được uống bất cứ loại thuốc kháng sinh gì trước khi được bác sĩ khám bệnh.

+ Chẩn đoán và điều trị

– Trẻ em sau khi được khám và xác định bệnh sẽ được chuyển sang phòng mổ để bác sĩ gỡ xoắn cho tinh hoàn. Nếu việc cấp cứu chậm hơn 6 giờ, tinh hoàn có thể bị teo vĩnh viễn vì thiếu máu dinh dưỡng.

– Chứng viêm tinh hoàn ở người lớn làm tinh hoàn bị sưng to rất đau kèm theo sốt do bị nhiễm trùng (như trùng gonocoque) hoặc nhiễm virus (như trường hợp bệnh quai bị). Những ống sinh tinh hoặc dẫn tinh cũng có thể bị nhiễm trùng hoặc nhiễm khuẩn, gây viêm và đau. Tùy theo trường hợp, việc điều trị bằng thuốc kháng sinh hoặc kháng viêm cần áp dụng cho cả người truyền bệnh.

– Nếu chỉ đau tinh hoàn nhưng tinh hoàn không bị sưng thì có khả năng bị viêm tuyến tiền liệt hoặc viêm niệu đạo, bị chứng sa tinh hoàn hoặc bị bệnh sỏi ở niệu đạo.

 

Bệnh cương lâu và bệnh mụn rộp.

1. BỆNH CƯƠNG LÂU

+ Nguyên nhân:

– Đây là hiện tượng dương vật cương cứng lâu quá 2 giờ mà không mềm trở lại, gây đau cho người bệnh. Người bệnh phải tới bác sĩ ngay để được cấp cứu. Hiện tượng cương cứng lâu sẽ phá hủy hoặc làm tổn thương các hốc trong dương vật và có thể dẫn tới bệnh liệt dương.

– Những hốc nhỏ trong dương vật giống như những túi nhỏ hình trụ. Máu được dồn ép vào những túi này sẽ có tác dụng làm cho dương vật cương lên. Hiện tượng cương cứng sẽ chấm dứt khi máu ở các túi trên thoát ra ngoài để chảy trở lại các mạch máu.

– Có nhiều nguyên nhân có khả năng gây ra hiện tượng này: Do có bệnh về máu, bị chấn thương tủy sống, do lạm dụng thuốc kích thích trong việc điều trị chứng liệt dương. Tuy nhiên, cũng có khi hiện tượng này xảy ra mà không có nguyên nhân nào rõ rệt.

+Triệu chứng:

– Hiện tượng cương cứng có thể duy trì ngay cả sau khi giao hợp, hoặc tự nhiên bị cương cứng. Hiện tượng cương cứng lâu sẽ làm dương vật bị đau.

– Sau một thời gian cương cứng, dương vật phải mềm trở lại. Không bao giờ để hiện tượng này kéo dài lâu quá 2 giờ. Khi có sự cố như vậy, phải tới ngay bác sĩ để được chữa trị. Không nên tự nhủ: “Hồi nó sẽ mềm lại, rồi hiện tượng này sẽ qua đi”. Không nên dấu diếm vì xấu hổ.

– Nếu hiện tượng này xảy ra sau khi tiêm (chích) trực tiếp thuốc kích thích hoặc thuốc làm nở mạch vào dương vật thì càng cần tới bác sĩ ngay.

+ Chẩn đoán và chữa trị:

– Để chữa trị, bác sĩ thường phải chích vào những hốc của dương vật để cho máu trong hốc thoát ra.

– Nêu chứng bệnh tự nhiên xuất hiện, bác sĩ phải tìm nguyên nhân trong một số các trường hợp bệnh sau đây:

. Bệnh bạch cầu có liên quan tới tủy ở dạng mãn tính, hoặc bệnh về hổng huyết cầu sinh ra các cục máu đông nhỏ làm tắc nghẽn lối thoát của máu ở các hốc trong dương vật.

. Bị chấn thương ở tủy làm ảnh hưởng tới hệ thống thần kinh điều khiển việc tháo máu ở các hốc dương vật ra.

– Nếu hiện tượng cương lâu xảy ra sau khi chích thuốc làm nở mạch ở dương vật để chữa trị sự bất lực, thì cần phải giảm liều lượng thuốc ở các lần dùng tiếp theo hoặc đổi thuốc khác.

– Để chữa trị chứng này người ta tránh không dùng phương pháp phẫu thuật vì sẽ ảnh hưởng tới khả năng cương cứng của dương vật sau này.

2. BỆNH MỤN RỘP

+ Nguyên nhân:

– Bệnh có đặc điểm là lớp nhầy cùng lớp da kế cận bị nhiễm virus Herpès, nên còn gọi là bệnh Horpès.

– Từ 5 tới 10 ngày sau, các tế bào phồng lên rồi vỡ ra. Lúc này, các virus tụ tập lại ở đầu các dây thần kinh và tạm ngưng hoạt động nhưng sau đó lại có thể trở lại da làm cho bệnh tái phát.

– Thời gian thích hợp để bệnh phát sinh hoặc tái phát là lúc người bị mệt, bị căng thẳng thần kinh (stress), bị sốt, bị nóng vì đi nắng, bị mẩn ngứa.

– Trong thời gian các mụn rộp vỡ ra, bệnh rất dễ lây. Khi vết rộp đã đông vẩy cũng vẫn lây.

– Bệnh thường nặng ở những người có hệ miễn nhiễm bị suy yếu (có virus HIV/AIDS). Trẻ em có thể bị bệnh mụn rộp do bị nhiễm virus từ máu mẹ, từ nhau thai hoặc từ âm đạo mẹ làm ảnh hưởng nhiều tới hệ thần kinh và não. Bởi vậy, người ta thường phải mổ tử cung lấy thai ra, để tránh cho thai khỏi phải đi qua đường âm đạo.

 

Tìm hiểu bệnh đi tiểu buốt và cách phòng ngừa gan nhiễm mỡ.

1. Phòng ngừa GNM (gan nhiễm mỡ).

+ Để tránh bị GNM, chúng ta cần tuân thủ theo một số hướng dẫn chung sau:

– Có chế độ ăn hợp lý: Ăn đa dạng, ăn chừng mực, ăn thực phẩm gần với thiên nhiên nhất.

– Vận động thể lực đều đặn, sống năng động nhằm duy trì cân nặng lý tưởng (nên biết chỉ số BMI của bản thân và BMI lý tưởng phù hợp để tự theo dõi tình trạng dư cân của bản thân).

– Hạn chế tối đa rượu bia.

+ Cần tham vấn bác sĩ trước khi dùng thuốc để tránh những thuốc gây độc cho gan.

– Kiểm tra đường huyết, cholesterol và triglyceride máu định kỳ mỗi 6 tháng (hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ tùy theo tình trạng bệnh lý của mỗi cá nhân).

Các phương tiện nào có thể giúp chẩn đoán được GNM?

– Qua siêu âm hoặc chụp cắt lớp (CT scan) đều có thể chẩn đoán được GNM. Trước đây các nhà chuyên môn cho rằng để có chẩn đoán chính xác nhất thì phải áp dụng sinh thiết gan.

– Tuy nhiên hiện nay, việc áp dụng sinh thiết để chẩn đoán GNM không còn cần thiết. Khi mà các phương tiện chẩn đoán hình ảnh ngày càng tốt hơn (siêu âm, OT scan) và việc xét nghiệm máu (cholestcrol, triglyceride máu, các men gan) để kiểm tra sức khỏe định kỳ đã trở nên dễ dàng do người dân ý thức nhiều vế việc bào vệ sức khỏe đủ để phát hiện cơ thể có bị GNM hay không.

2. ĐI TIỂU BUỐT

– Hiện tượng tiểu tiện thấy đau buốt chứng tỏ những bộ phận sau đây có thể dã bị viêm và nhiễm trùng: Bàng quang (bọng (đái), niệu đạo (ống dẫn nước tiểu) và thận.

+ Nguyên nhân:

– Ở phụ nữ thường hay dễ mắc chứng này do vi khuẩn cô-li dễ xâm nhập tới bàng quang qua đường niệu đạo vốn rất ngắn ở người phụ nữ. Những động tác kích thích, sự ma sát trong quá trình giao hợp, sự biến chất của các thuốc ngừa thai, của các chất thải từ trong tử cung ra là những điều kiện thuận lợi để âm hộ dễ bị viêm nhiễm. Ngoài ra, còn phải kể tới sự lây bệnh qua đường tình dục bởi các vi trùng bệnh lậu (gonocoque), trùng chlamydia…

– Ở nam giới ống dẫn tiểu dài hơn nhiều so với phụ nữ, thường dễ bị nhiễm trùng trong quá trình giao hợp khiến người bệnh đi tiểu thấy rát, buốt và có thể có mủ chảy ra. Tuyến tiền liệt hoặc bờ bàng quang bị viêm có thể lây lan sang niệu đạo.

– Ngoài ra việc thông niệu đạo bằng dụng cụ y tế cũng có thể gây viêm.

– Hiện tượng viêm niệu đạo còn có nguyên nhân do bị sỏi bàng quang, sỏi thận hoặc đường dẫn tiểu có khối u, ngăn cản nước tiểu thoát ra. Ngoài ra, cũng còn có thể do yếu tố di truyền. Những điều này xảy ra chung với cả nam và nữ.

+ Triệu chứng:

– Người bệnh thấy muốn đi tiểu luôn luôn, cảm thấy đau ở bụng dưới, giao hợp thấy đau, nhất là ở phụ nữ. Đôi khi, nước tiểu đục, đàn ông có chất nhầy từ niệu dạo chảy ra, phụ nữ có nhiều khí hư. Nếu chỉ bị viêm nhiễm ở bàng quang và đường tiểu, bệnh nhân chỉ sốt tới 38 – 38,5 độ C. Nếu bị viêm nhiễm ở thận, bệnh nhân có thể sốt cao tới 40 độ C kèm theo hiện tượng người bị run như sốt rét.

+Cần phải làm gì?

– Ngay khi có triệu chứng lần đầu tiên, không được uống bất cứ thuốc gì trước khi khám bệnh. Phải để bác sĩ xác định bệnh và xét nghiệm nước tiểu để tìm vi trùng bệnh. Trường hợp sốt tới 40 độ C, cần phải nằm lại bệnh viện để được điều trị kịp thời.

+ Chẩn đoán và điều trị:

– Bác sĩ sẽ khám bộ phận sinh dục, yêu cầu xét nghiệm nước tiểu, đôi khi xét nghiệm cả chất nhầy từ niệu đạo chảy ra.

– Đối với nữ, nếu có vi trùng trong nước tiểu, cần phải dùng thuốc kháng sinh liều cao trong vài ngày cho tới khi khỏi hẳn. Ngoài ra, bác sĩ có thể yêu cầu khám phụ khoa, làm các xét nghiệm về ống tiểu đổ xem có bị tắc, bị sỏi bàng quang, bị sỏi thận, có u trong niệu đạo hoặc âm hộ có bị thương tổn hay không. Phụ nữ đang mang thai càng cần phải chữa trị cẩn thận hơn.

– Việc điều trị chứng viêm niệu đạo ở đàn ông cần phải dùng thuốc kháng sinh phù hợp với căn bệnh như: bệnh viêm niệu đạo mãn tính, chứng viêm tuyến tiền liệt, viêm bàng quang.

– Trường hợp phụ nữ bị viêm âm hộ và niệu đạo cần phải đưa cả người chồng của mình đi chữa để không bị lây lại.

– Nếu đau vùng chậu, người run, sốt cao, cần phải được cấp cứu ngay vì đó là triệu chứng của bệnh viêm thận cấp tính.

– Hiện tượng phụ nữ khỏi bệnh rồi lại bị tái phát chứng tỏ niệu đạo rất dễ nhiễm trùng. Bởi vậy, cần phải đi khám phụ khoa định kỳ để kiểm tra niệu đạo, chú ý giữ vệ sinh bộ phận sinh dục, sau mỗi lần giao hợp phải chú ý đi tiểu ngay, nếu cần thiết phải dùng thuốc để ổn định lượng hoóc-môn trong cơ thể theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

– Cần biết nhận xét các chất lỏng bất thường xuất hiện ở âm hộ mình để sớm phát hiện căn bệnh có thể có.

 

Bệnh viêm gan và gan nhiễm mỡ.

1. BỆNH VIÊM GAN

+ Khái niệm?

– Là hiện tượng viêm nhiễm do virus gây bệnh ở gan. Bệnh thường nhẹ ở trẻ con và nặng hơn ở người có tuổi.

– Các loại viêm gan chính thường gặp: Viêm gan A do virus viêm gan A (HAV) gây ra; viêm gan B do virus viêm gan B (HBV); viêm gan không A, không B (ký hiệu NANBV).

+Triệu chứng lâm sàng.

– Có thể chia làm 3 thời kỷ: tiền hoàng đản, hoàng đản và thời kỳ lại sức (đối với HBV và HAV).

+ Các triệu chứng chung:
– Hội chứng giả cúm: Sốt nhẹ, đau cơ, đau khớp.
– Hội chứng tiêu hoá: Chán ăn, buồn nôn, táo bón hoặc ỉa chảy.
– Hội chứng vàng da: Nước tiểu vàng, phân hơi bạc màu.
– Gan to, ấn tức.

Xét nghiệm:
– Transaminaza tăng.
– SGPT và SGPT tăng cao.
– Bilirubin tăng.
– HbSAg, HBeAg, HbSAb dương tính.

+Điều trị.

Đối với viêm gan cấp thể thông thường cần:

– Nghỉ ngơi.
– Chế độ ăn: ít mỡ, nhiều đường, tăng protid. Nếu người bệnh chán ăn thì chủ yếu là cho đường, uống nước hoa quả. Kiêng mỡ và thức ăn có chứa chất béo.
– Có thể dùng vitamin C, thuốc nhuận mật (Sorbitol), cao actiso, nhân trần…

+ Phòng bệnh.

+ Phòng viêm gan B: Chống lây lan qua đường tình dục và qua tiêm truyền, ngày nay người ta đang nghiên cứu về tác dụng của gama globulin thông thường (ISG), gama globulin đặc hiệu với viêm gan B (HBICi), vacxin phòng viêm gan B.

– Phòng viêm gan A: Đường lây chủ yếu là qua phân, miệng. Vì vậy, giữ tốt nguồn nước, nguồn thực phẩm không để bị ô nhiễm phân có HAV kết hợp với việc ăn chín, uống sôi là nguyên tắc cơ bản nhất.

2. BỆNH GAN NHIỄM MỠ

+ Gan nhiễm mỡ (GNM) là gì?

– GNM còn gọi là thoái hóa mỡ gan. Đó là tình trạng lượng mỡ tích tụ trong gan > 5% trọng lượng gan. Triệu chứng thường thấy là chứng gan to kín đáo, gia tăng vừa phải các men chuyển hóa và phosphatase kiềm và hầu hết là không nguy hiểm.

+ Phân loại GNM:

– Qua kết quả sinh thiết gan (lấy một mẫu mô gan nhỏ đem phân tích cấu trúc dưới kính hiển vi), cho thấy có 3 loại GNM:

– Gan thoái hóa mõ đơn thuần: gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, không có kèm theo tình trạng viêm gan.

– Viêm gan thoái hóa mỡ do rượu: ngoài tình trạng gan bị thâm nhiễm bởi chất mỡ, kèm theo tình trạng viêm gan, mô gan có thể bị sẹo hoặc bọ xơ và tiền sử uống rượu nhiều.

– Viêm gan thoái hóa mỡ không do rượu: kết quả sinh thiết giống loại b, nhưng không có tiền sử uống rượu (hoặc uống rượu không đáng kể).

+ Nguyên nhân gân GNM

– Ai hay bị?
+ Nhiều năng lượng, béo phì.
+ Tiểu đường type 2.
+ Nghiện rượu.
+ Suy dinh dưỡng thiếu protein, giảm cân quá nhanh.

– Dùng thuốc độc cho gan.

– Ăn thế nào hay bị?

+ Nhiều năng lượng, nhiều béo.

– Quá ít đạm (nhịn đói, suy dinh dưỡng thiếu protein).

+ Biểu hiện của GNM:

– Những người bị GNM đa phần đều không có triệu chứng bởi vì tình trạng lắng đọng mỡ tại gan xảy ra từ từ nên các biểu hiện của nó cũng khó cảm thấy. Chỉ khi nào tốc độ lắng đọng mỡ trong gan xảy ra nhanh, lúc đó gan có thể lớn, bao gan càng ra và khi đó bệnh nhân có thể có cảm giác đau tức hoặc nặng vùng gan. Trong một số trường hợp, tuy nhiên rất hiếm, GNM cũng có thể gây tình trạng vàng da, buồn nôn và nôn.

+ Điều trị GNM.

– GNM hầu hết không phải là bệnh lý của gan mà chỉ là một triệu chứng do sự tích lũy mỡ quá nhiều tại gan mà thôi. Vì thế điều trị GNM chủ yếu là điều trị các nguyên nhân cơ bản gây bệnh, cụ thể:

– Nếu bị dư cân – béo phì: áp dụng chế độ awn hợp lý và chê độ tập luyện vận động để giảm cân.

– Đối với các bệnh lý gan có liên quan đến uống rượu: ngưng uống rượu.

– Ngưng ngay những thuốc có khả năng gây độc cho gan và thay thế bằng những thuốc an
toàn theo hướng dẫn của bác sĩ.

– Các bệnh rối loạn chuyển hóa (như tiểu đường): Khống chê lượng đường trong máu luôn ở mức độ bình thường.

– Viêm gan siêu vi: Kiểm soát tình trạng viêm và những diễn tiến bất lợi dẫn đến xơ gan.

– Chú ý rằng, ngoài việc áp dụng một chế độ thuốc men để nhằm đào thải bớt sự lắng đọng mỡ quá mức trong cơ thể cũng như để khống chế diễn tiến bất lợi của các bệnh lý cơ bản là nguyên nhân gây nhiễm mỡ gan, ở góc độ dinh dưỡng, có thể tự giảm thiểu tình trạng lắng đọng mỡ ở gan qua:

+ GNM phải ăn uống ra sao?

– Giảm cân nếu có thừa cân, béo phì (hạn chế năng lượng dư thừa).

– Giảm ăn thực phẩm giàu cholesterol như các loại đồ lòng, phủ tạng, da dộng vật, lòng đỏ trứng.

– Hạn chế chất béo: Ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá).

– Ăn chất đạm vừa phải đúng với khả năng của gan.

Một sô thứcăn được xem lã “thuốc” có tác dụng “giảm mỡ” tốt như: Dầu đậu nành, dậu hà lan, cà chua tươi chín, ớt vàng, rau ngót, rau cần tây, diếp cá, óori, bắp chuối (bông chuối); trái cây nên lưu ý chanh, cam, quýt, bưởi, táo chín trà xanh, hoa hòe….

– Tăng cường lượng rau, trái cây (mỗi ngày, mỗi người nên ăn tối thiểu 300g rau xanh, 200g quả chín tươi).

– Ngưng uổng rượu.

+ Vận động như thẻ nào?

– Cần tăng vận động, tập thể dục thường xuyên trên 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày trong tuần.

– Một số thực phẩm khuyên dùng cho người bị GNM
– Nhộng tằm:

Có tác dụng làm giảm cholesterol huyết thanh và cải thiện chức năng gan. Nhộng thường dùng dưới dạng các món ăn hoặc tán thành bột để uống.

– Nấm hương:

Chứa những chất có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu vì tế bào gan. Thường dùng dưới dạng thực phẩm để chế biến các món ăn.

Có khả năng giảm trừ các chất bổ béo. Trà có khả năng làm tăng tính đàn hổi thành mạch, làm cholesterol máu và phòng chống sự tích tụ mỡ trong gan.
– Lá sen:

Giảm mỡ máu, giảm béo và phòng chống sự tích tụ mỡ trong tế bào gan. Lá sen được dùng pha nước sôi uống thay trà hoặc nấu cháo lá sen.

– Bắp trái, rau cần:

Có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tế bào gan. Những thực phẩm này đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân GNM.

– Các loại rau trái tươi khác:

Cải xanh, cải cúc, rau muống có công dụng giải nhiệt làm mát gan. Cà chua, cà rốt, măng bí dao, mướp, dưa gang, dưa chuột thanh nhiệt, lợi tiểu. Các loại dầu thực vật như dầu đậu phộng, dầu mè, dầu đậu nành chứa nhiều acid béo không no có tác dụng làm giảm cholesterol máu; Các thức ăn chế biến từ đậu nành, đậu xanh, đậu đen….

– Thực phẩm cần kiêng:

Đồ ăn quá béo bổ như mỡ động vật, lòng đỏ trứng, não và gan gia súc, bơ. Các thứ quá cay và nóng như gừng, tòi, ớt, hạt tiêu, rượu, cà phê, trà đặc.

 

Một số vị trí thường xảy ra thoái hóa khớp.

+ Thoái hóa khớp thường xảy ra ở những vị trí sau:

– Ngón tay: Thường do di truyền. Tỷ lệ thoái hóa khớp ngón tay ở phụ nữ cao hơn đàn ông (đặc biệt là phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh). Các cục bướu nhỏ, cũng xuất hiện tại điểm cuối của các đốt ngón tay, khiến ngón tay bị to và biến dạng, thô thiển, đi kèm cơn đau.

– Cột sống thắt lưng: Hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, đôi khi ảnh hưởng đến thần kinh tọa, khiến người bệnh có cảm giác đau rất mạnh từ lưng xuống chân, như có luồng điện chạy từ trên xuống. Giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy. Cơn đau diễn ra tối đa 30 phút thì giảm. Sau một thời gian, hiện tượng đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng lên khi làm việc nhiều nặng và giảm dần lúc nghỉ ngơi.

– Cột sống cổ: Biểu hiện bằng cảm giác đau mỏi ở phía sau gáy, lan đến cánh tay ở bên có dây thần kinh bị ảnh hưởng.

– Gót chân: Bệnh nhân có cảm giác bị thốn ở gót chân vào buổi sáng, lúc bước chân xuống giường và đi vài bước đầu tiên. Sau khi đi được vài chục mét, cảm giác đau giảm nhiều, bệnh nhân đi đứng bình thường.

– Khớp gối: Người bệnh ngồi xổm và đửng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải níu vào một vật khác để đứng dậy; nặng hơn sẽ thấy tê chân, biến dạng nhẹ khớp gối.

– Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn ngay từ đầu vì khớp háng chịu sức nặng cơ thể nhiều nhất.
Nếu thấy đau nhức ở các khớp và khó di chuyển trong hai tuần, bạn nên đi khám bác sĩ để xác định loại thoái hóa khớp. Việc chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu đáng kể cơn đau và nguy cơ tàn phế.

+ Điều trị

– Hiện có hai phương pháp điều trị: Dùng thuốc và không dùng thuốc. Trong điều trị không dùng thuốc (thường được chỉ định cho trường hợp nhẹ), bác sĩ áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như chườm nóng, chiếu đèn hồng ngoại, dùng máy phát sóng ngắn hay siêu âm, xung điện giảm đau. Vận dụng liệu pháp cũng có hiệu quả trong giai đoạn cơn đau đã thuyên giảm. Lúc đau nhiều, bệnh nhân cần nghỉ ngơi, tránh cho khớp phải hoạt động.

– Nếu việc điều trị bằng phương pháp trên không còn hiệu quả tích cực, bác sĩ sẽ kê một số thuốc có tác dụng kháng viêm – giảm đau và thuốc giãn cơ. Nhờ sự tiến bộ của y học, những năm gần đây, nhiều thế hệ thuốc kháng viêm giảm đau mới đã ra đời, được gọi chung là nhóm ức chế OOX-2. Ngoài khả năng kháng viêm, giảm đau, nhóm dược liệu này còn giúp hạn chế 60-70% tác dụng phụ ảnh hưởng nghiêm trọng đến dạ dày (xuất huyết hoặc thủng).

3. BỆNH SỎI TIẾT NIỆU

– Sỏi tiết niệu là bệnh thường gặp và hay tái phát, do sự kết thạch của một số thành phần trong nước tiểu. Các khối sỏi có thể gây đau, tắc đường tiết niệu và nhiễm khuẩn, rất nguy hại cho sức khỏe người bệnh.

+ Nguyên nhân

– Bệnh gây ra do nhiều yếu tố: di truyền, các dị dạng bẩm sinh đường niệu, nhiễm khuẩn, chế độ ăn uống – sinh hoạt không hợp lý, người bệnh nằm lâu ít vận động… sỏi tiết niệu thường gặp trong độ tuổi lao dộng, ở nam nhiều hơn ở nữ.

+ Triệu chứng

– Cơn đau quặn thận: sỏi được hình thành một cách âm thầm và thường chỉ được phát hiện lần đầu bởi cơn đau quặn. Bệnh nhân lên cơn đau đột ngột, dữ dội ở vùng thắt lưng, lan xuống vùng hạ vị, đến vùng bẹn và cơ quan sinh dục. Cơn đau thường xuất hiện sau khi vận động mạnh (chạy nhảy, đi xe trên đường xấu…), khiến sỏi di chuyển tới chỗ chít hẹp, gây tắc đường niệu. Triệu chứng sẽ lui dần sau khi nghỉ ngơi và đi tiểu được.

– Đái buốt, nước tiểu có máu: Tùy theo mức độ tổn thương đường niệu, nước tiểu sẽ có màu từ hồng nhạt đến đỏ toàn bãi.

– Viêm đài bể thận do ứ nước tiểu: Bệnh nhân bị đái đục, đau vùng lưng – thắt lưng. Đại đa số trường hợp có sốt cao, rét run; nếu muộn có thể có phù, nôn mửa, ăn không ngon miệng… Vì khả năng hoạt động bù trừ của thận rất tốt, nên có trường hợp chỉ phát hiện ra bệnh sỏi khi có dấu hiệu của viêm đài bể thận
tiến triển.

– Sỏi tiết niệu gây tắc đường niệu nên có thể dẫn tới nhiều biến chứng: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết, choáng nhiễm khuẩn… Bệnh nhân có thể tử vong. Bệnh thường phát triển ở cả 2 bên và hay tái phát. Nếu không được điều trị kịp thời, chức năng thận sẽ bị suy giảm, gây tăng huyết áp.

+ Điều trị

– Cơn đau quặn đồng nghĩa với việc đường niệu bị tắc và căng giãn, tạo nên cơn co thắt để tống viên sỏi đi. Bệnh nhân cần cố gắng nghỉ ngơi ở tư thế dễ chịu nhất, giảm đau bằng cách day, bấm huyệt vùng lưng – thắt lưng và đi khám bác sĩ. Có thể dùng thuốc giảm đau theo hướng dẫn của thầy thuốc.

– Tùy nguyên nhân gây bệnh, có thể áp dụng các biện pháp điều trị khác nhau như: Dùng máy tán sỏi, máy nội soi, phẫu thuật tạo hình đường niệu…

+ Phòng bệnh

– Do bệnh rất hay tái phát nên việc phòng bệnh là rất cần thiết:

– Chủ động phòng tránh các yếu tố có nguy cơ gây nhiễm trùng đường niệu, uống đủ nước (nhất là vào mùa nóng, khi lao động nặng). Không nên nhịn lâu khi buồn đi tiểu. Nếu có dấu hiệu tiểu buốt, dắt thì nên dùng sớm các loại lợi tiểu sẵn có như râu ngô, mã đề…

– Khi phát hiện bệnh hoặc có nguy cơ mắc bệnh, nên uống nhiều nước để mỗi ngày bài tiết được hơn 1,5 lít nước tiểu.

– Thường xuyên khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ gây bệnh, chẩn đoán và điều trị kịp thời nếu đã bị sỏi, tránh các biến chứng.