Phát hiện mới về tác hại của khí thải ô tô

Trong khí thải ô tô có chất phóng xạ
Tác hại của khí thải ô tô với sức khỏe con người đã được y học xác nhận từ lâu. Qua nghiên cứu người ta thấy trong khí thải này nhiều hơn khí độc, đặc biệt là oxyt cacbon (tới 1 -1,3% toàn bộ khí thải) và hỗn hợp chì từ các chất gia phụ (rất độc, chiếm khoảng 0,05 mg/m3 khói thải). Cũng vì vậy khí thải ô tô là nguyên nhân chính làm nhiễm độc bầu không khí các thành phố đông dân, xe cộ đi lại ngày đêm như mắc cửi, gây nguy hiểm cho sức khỏe người dân đô thị, và trong điều kiện tác động nhất định có thể gây tử vong.
Gần đây, các nhà khoa học ở Trường đại học Bristol (nước Anh), đã tách được Polonium 210 từ khí thải ô tô – một chất phóng xạ nguy hiểm, rất có thể là nguyên nhân gây ra một số loại ung thư cho nhân dân các nước công nghiệp, nhất là tại các thành phố lớn đông dân, mật độ ô tô và xe có động cơ quá cao.
Các tác giả đã đo được tia anpha này cách những trục giao thông chính tới 10 kilômet. Tại Bristol, ở hai bên quốc lộ M4 và M5 – nơi dòng ô tô đi lại không ngớt, nồng độ Polinium cao hơn ở trung tâm Bristol tới 20 lần.
Kết quả nghiên cứu còn cho biết trong khí thải ô tô không chỉ có chì, polonium mà còn có cả chất phóng xạ uranium 238 trong những sản phẩm làm nhiên liệu này.
Từ lâu y học đã biết tia anpha cường độ cao là một trong những nguyên nhân gây ung thư máu, ung thư não, ung thư thận và một số ung thư khác. Có thể khí thải ô tô đã góp phần quan trọng vào tỷ lệ mắc và chết do ung thư ở các nước công nghiệp phát triển hiện nay.
Phối hợp các vitamin để chống ung thư da
Kedar Prasat và nhóm cộng sự ở Trường đại học Denver (Colorado) vừa đưa ra một hỗn dược có 4 thứ vitamin (C, E, bêta carotene, A), với liều lượng không gây độc, có tác dụng làm giảm sự phát triển của tế bào u hắc tố (mélanome) của người trong ống nghiệm.
Một sự phối hợp như thế nào cũng làm tăng lên kết quả chống các khối u của 4 loại thuốc sử dụng trong liệu pháp.
Các nhà nghiên cứu cho rằng bằng hóa liệu này có thể tăng cường hiệu quả điều trị và giảm được liều lượng thuốc men và độc tính của nó.
Cuối cùng, xin “mách nhỏ” với các bậc cha mẹ rằng: hiện nay, các đồ ăn, thức uống có pha đường trên thị trường như kẹo, bánh, kem, nước giải khát, ô mai… thường dùng đường hóa học một cách vô tội vạ, không theo một tiêu chuẩn khoa học nào. Do vậy, nếu cho trẻ ăn quá nhiều những thứ kể trên, tất không tránh khỏi nguy hại.
Chúc Phong – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Môi trường bị ô nhiễm là nguyên nhân gây ra bệnh tật

Tại các nước đang phát triển, nguyên nhân chủ yếu gây tử vong nhiều, là các bệnh nhiễm khuẩn và bệnh truyền nhiễm. Hàng năm, có tới 17 triệu người chết về các bênh này, trong đó 6,5 triệu người chết vì các bệnh hô hấp cấp, 4,5 triệu người chết vì bệnh tiêu chảy và 3,5 triệu người về lao phổi. Trong đa số các trường hợp, tử vong do bệnh tật thường bắt nguồn từ tình trạng thiếu dinh dưỡng và điều kiện môi trường quá kém, đặc biệt là nước bị ô nhiễm đã gây ra tới 1 tỷ ca tiêu chảy hàng năm, trong đó có khoảng 2 triệu trẻ em bị chết.
Tại các nước công nghiệp, gây tử vong nhiều nhất là các bệnh tim, mạch làm chết hàng năm tới 5,5 triệu người. Các bệnh này liên quan nhiều tới chế độ ăn uống và lối sống.
Nói chung do có khoảng cách giữa giàu nghèo, cho nên dù là trong nước phát triển hay đang phát triển, những người nghèo vẫn thường gặp nhiều khó khăn hơn. Ngay như ở Mỹ, trong khi có một phần ba số người da trắng sống ở những nơi bị ô nhiễm bởi khí CO, thì người da đen phải tới một nửa. Tại các nước phát triển, cứ khoảng 400 người dân có một bác sỹ, còn tại các nước đang phát triển thì phải khoảng 7000 người dân mới có một bác sĩ. Con số này tại vùng Cận Sahara ở châu Phi lên tới 36.000 người. Đối với nước ta, con số này vào khoảng 3000.
Về mặt môi trường, đối với cá nước đang phát triển, mối đe dọa chủ yếu đối với sức khỏe là vấn đề nước, cả về số lượng và chất lượng. Đối với một số vùng, nạn khan hiếm nước là nguyên nhân quan trọng gây ra nhiều bệnh tật; còn đối với nhiều quốc gia, nước bị ô nhiễm, nước có chất lượng thấp là vấn đề phổ biến.
Nước thường bị ô nhiễm do các chất thải chưa được xử lý đã bị tống xuống các ao, hồ và dòng chảy, trước hết là những chất thải sinh hoạt, chủ yếu gồm các chất thải hữu cơ, thậm chí cả các loại vi khuẩn, dầu mỡ và các hóa chất dùng trong đời sống hàng ngày. Đây thường là nguyên nhân chủ yếu gây các bệnh cho con người, như bệnh tiêu chảy, bệnh tả, bệnh ký sinh trùng đường ruột, thương hàn, đau mắt… Đã có tài liệu đánh giá rằng, tỷ lệ nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ bị ô nhiễm giun đũa lên tới 80%. Sự phân hủy các chất gây ô nhiễm sẽ làm giảm lượng ôxy hòa tan trong nước, đe dọa sự sống của các sinh vật dưới nước, vốn là nguồn thức ăn của con người. Tại Trung Quốc, người ta đã khảo sát 15 con sông chảy qua các thành phố lớn, và thấy rằng chỉ có 5 con sông có thể có cá để đánh bắt.
Hồng Ngọc – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Phấn đấu đến năm 2000 chỉ tồn tại những bệnh thông thường

Bệnh sốt rét ở nước ta cũng nằm trong bối cảnh chung của các nước nhiệt đới đang phát triển, có bệnh sốt rét. Dân số nằm trong vùng sốt rét khoảng 35 triệu ; trong đó có 15 triệu người nằm trong vùng có sốt rét lưu hành nặng chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồi núi, Tây Nguyên – nơi đồng bào các dân tộc ít người sinh sống và ở đó kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Bệnh sốt rét đã quay trở lại và xảy ra nghiêm trọng nhất vào năm 1991 : cả nước trên 1 triệu người mắc, 147 vụ dịch, 4646 người chết do sốt rét. Trước tình hình bệnh sốt rét đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và chính phủ, tháng 4 – 1992 Chương trình phòng chống sốt rét (PCSR) quốc gia đã được thành lập.

Qua hơn ba năm hoạt động, chương trình PCSR đã thu được kết quả bước đầu : Năm 1992, số người mắc là 1372350 ; số vụ dịch 104 ; số người chết do sốt rét là 2645. Năm 1993, số người mắc 1111452 ; số vụ dịch 69 ; số người chết do sốt rét là  1062. Năm 1994, số người mắc là 860.999 ; số vụ dịch 8 ; số người chết do sốt rét là 604 người.

Đến nay chúng ta đã khẳng định được : Sự bùng nổ của sốt rét đã bị chặn đứng và bước đầu bị đẩy lùi. Năm 1994 so với năm 1991, số người mắc sốt rét giảm 21% ; số người chết do sốt rét giảm 87% ; số vụ dịch sốt rét giảm 94,4%. Có được kết quả trên là nhờ sự đầu tư của Nhà nước cho Chương trình PCSR ngày càng tăng, năm 1991 : 6 tỷ đồng ; năm 1992 : 35,6 tỷ đồng ; năm 1995 : 51,4 tỷ đồng ; năm 1994 : 60 tỷ đồng và đến năm 1995 dự tính là 70 tỷ đồng. Được sự quan tâm lãnh đạo sát sao của các cấp ủy Đảng và chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, Hội chữ thập đỏ Việt Nam, sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân và sự giúp đỡ của quốc tế, nghành y tế đặc biệt là hệ thống chuyên khoa sốt rét từ Trung ương tới địa phương đã tăng cường công tác giảm sát dịch tễ, phát hiện sớm, điều trị kịp thời, chú ý tới các vùng trọng điểm.

Tuy nhiên bệnh sốt rét còn diễn biến phức tạp trên diện rộng. Năm 1994, còn 13 tỉnh có số mắc tăng hơn so với năm 1993, gồm : Lai Châu, Hà Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Ninh Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận, Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng.

Phạm Bình – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Chỉ đạo phong trào thuốc nam

Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã có chủ trương: Đổi mới tổ chức, chỉ đạo phong trào thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Bộ Y tế tiếp tục khẳng định: Phát triển sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc của YHCT tại cơ sở y tế và cộng đồng vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành trong những thập kỷ tới để bảo vệ sức khỏe nhân dân trong cộng đồng.

Ngày 6-7-1990, Bộ Y tế đã có Chỉ thị số 11/BYT-CT chỉ đạo các địa phương khôi phục và đẩy mạnh việc sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc của YHCT để chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng. Mục tiêu của chỉ thị này là phải xã hội hóa việc sử dụng YHCT dân tộc – CSSK cộng đồng.

Hưởng ứng chỉ thị của Bộ Y tế, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã phối hợp với Bộ Y tế hướng dẫn hội viên của mình đẩy mạng cuộc vận động sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc YHCT chữa những bệnh thông thường mới mắc tại gia đình theo tinh thần đổi mới phù hợp với phát triển kinh tế của gia đình.

Để triển khai chỉ thị 11, từ năm 1992 đến nay Bộ Y tế (Vụ YHCT) đã chỉ đạo điểm phong trào này ở các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hòa Bình, Nam Hà, Quảng Nam – Đà Nẵng, Yên Bái và đồn biên phòng Tùng Vài thuộc huyện Quảng Bạ (Hà Giang) để rút kinh nghiệm.

Trong các năm 1992 – 1993 – 1994, Bộ Y tế đã tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm đánh gia việc tổ chức chỉ đạo đổi mới, xây dựng mô hình đưa YHCT vào chăm sóc sức khỏe ở cộng đồng.

Qua các hội thảo và chỉ đạo điểm một số kinh nghiệm xã hội hóa YHCT chăm sóc sức khỏe cộng đồng đã được rút ra như sau:

1 – Trước hết phải có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, chính quyền địa phương và vai trò nòng cốt của ngành y tế.  Việc chỉ đạo triển khai thực hiện phải lồng ghép chặt chẽ vào các chương trình khác của ngành y tế và các chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương như: CSSKBĐ, chống suy dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, chống các bệnh nhiễm khuẩn, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng phát triển hệ sinh thái vườn VAC…

DS. Nguyễn Đức Đoàn- Vụ trưởng Vụ Y học cổ truyền ( Bộ Y tế)- Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995.

Sức khỏe bà mẹ và trẻ em trước căn bệnh thế kỷ

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải mà chúng ta gọi tắt là hội chứng AIDS, là một bệnh lây truyền tuy mới được thông báo từ năm 1981 nhưng đã lan rộng trên toàn thế giới và đã có mặt ở nước ta, đe dọa trở thành đại dịch ở nước ta vào thập kỷ 21, nếu chúng ta không tìm mọi cách ngăn chặn nó. Nguyên nhân gây bệnh hiện nay đã rõ là do vi rút hướng lympho T người, khi xâm nhập vào máu sẽ phá hủy các tế bào T4 làm giảm sút nghiêm trọng các chức năng chống đỡ bệnh tật của cơ thể khiến cho bất kỳ một bệnh cơ hội nào dù nhẹ, cũng không thể chữa khỏi, dẫn tới tử vong.
Hiện nay ở nước ta tính đến 15-6-95 đã phát hiện được 2601 ca HIV dương tính, trong đó có 131 người bị AIDS, 55 người tử vong. Nhưng nguy hiểm hơn cả nếu hiện nay số phụ nữ HIV (+) là 1 nữ/8 nam thì người ta dự tính đến năm 2000 con số này sẽ thay đổi là 3 nữ/1 nam nếu chúng ta không tìm mọi cách ngăn chặn bệnh. Điều đáng lưu lý là bệnh phát triển mạnh trong số những người trẻ tuổi. Hiện nay, trên thế giới trung bình có 6000 trường hợp mới nhiễm HIV hàng ngày thì một nửa là ở người dưới 25 tuổi, trong số đó 60% lại là nữ thanh niên. Dự đoán đến năm 2000, số phụ nữ HIV (+) ở châu Á sẽ lên tới 10 triệu. Con số của Thái Lan làm chúng ta phải suy nghĩ: do nạn mại dâm tăng, số khách du lịch vào nhiều nên từ 1990 số trường hợp HIV (+) ở Thái Lan tăng gấp 10 lần trước và tới năm 1994 thì trong số phụ nữ có thai có HIV (+) 1,5% riêng ở tỉnh Chiang Rai thì số phụ nữ có thai có HIV (+) và AIDS càng tăng thì số con cái của họ bị lây nhiễm cũng tăng theo. Chúng ta cần phải làm gì để ngăn cản đại dịch này khi nó nhằm vào đối tượng bà mẹ và trẻ em?
Vì sao hội chứng HIV-AIDS lại trở thành một nguy cơ lớn cho phụ nữ?
Từ trước người ta vẫn cho AIDS là bệnh của nam giới, đặc biệt là nam giới đồng tính luyến ái. 10 năm trước đây, người ta tưởng phụ nữ là ở ngoài đại dịch này, bây giờ người ta xác nhận phụ nữ đang ở trong trung tâm của đại dịch.
Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới, toàn thế giới có khoảng trên 5 triệu phụ nữ HIV (+). Nhưng một nửa số các trường hợp mới mắc lại rơi vào phụ nữ. Riêng năm 1993, hơn 1 triệu phụ nữ mắc bệnh này và tới năm 2000, khoảng 14 triệu phụ nữ sẽ bị HIV (+) và khoảng 4 triệu trong số đó sẽ chết vì AIDS.
Giáo sư Dương Thị Cương – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Về việc không hút thuốc lá trong các cơ sở y tế

Hút thuốc lá không những có hại cho sức khỏe bản thân mà còn gây ô nhiễm môi trường sống, lao động và học tập làm ảnh hưởng đến sức khỏe những người xung quanh. Hàng năm, trên toàn thế giới có trên 3 triệu người bị chết có liên quan đến hút thuốc lá. Vì tác hại to lớn của việc hút thuốc lá nên Tổ chức y tế thế giới đã lấy ngày 31 tháng 5 hàng năm là ngày toàn thế giới không hút thuốc lá. Tại nhiều nước trên thế giới cũng như trong khu vực Đông Nam Á đã có những quy định chặt chẽ không hút thuốc tại những nơi công cộng và xử phạt rất nặng các trường hợp vi phạm.
Tại nước ta cũng đã có quy định nếp sống mới không hút thuốc trên xe bus, trên máy bay, trong rạp hát, trong lớp học, khi hội họp… và đã được đại đa số nhân dân đồng tình và tự giác thực hiện. Tuy nhiên, trong khi ngành y tế ra sức tuyên truyền về tác hại của việc hút thuốc lá thì tại các cơ sở y tế như phòng khám bệnh, bệnh viện, trường đào tạo cán bộ y tế, các công sở của ngành việc hút thuốc còn khá phổ biến. Tệ hút thuốc không những gây ra mất vệ sinh môi trường làm việc mà còn gây phiền hà cho người bệnh phải quà cáp, mời thuốc lá cán bộ y tế khi tiếp xúc. Vì vậy, để gương mẫu thực hiện không hút thuốc lá, Bộ chỉ thị cho tất cả các cơ sở y tế trong toàn ngành từ các công sở đến các cơ sở khám chữa bệnh, phòng bệnh, các trường đào tạo cán bộ y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các đơn vị trực thuộc Bộ y tế các ngành nghiêm chỉnh thực hiện các qui định sau đây:
1. Tuyệt đối không hút thuốc lá tại các cơ sở y tế cả trong và ngoài giờ làm việc. Phải niêm yết công khai khẩu hiệu “Không hút thuốc lá” tại nơi làm việc, các nơi công cộng trong cơ quan. Cán bộ y tế gương mẫu không hút thuốc lá trước, tiến tới tuyên truyền vận động bệnh nhân và người nhà không hút thuốc lá tại các cơ sở y tế, tạo ra cho được việc “không có thuốc lá trong các cơ sở y tế”.
2. Các quầy dịch vụ, căng tin, giải khát… trong các cơ sở y tế không được bán thuốc lá dưới bất kì hình thức nào. Cần kiểm tra chặt chẽ và đình chỉ nếu có vi phạm.
3. Tăng cường tuyên truyền vận động không hút thuốc tại các cơ sở y tế bằng cách treo các tranh tuyên truyền về tác hại của việc hút thuốc lá. Trung tâm tuyên truyền bảo vệ sức khỏe Bộ kết hợp với chương trình chống hút thuốc lá cho in ấn ngay các tranh tuyên truyền theo chủ đề này để cung cấp cho các cơ sở y tế trong toàn ngành.
Bộ trưởng Bộ y tế: GS Nguyễn Trọng Nhân – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Đừng xem thường giá trị của hành

Cho hành vào thức ăn vừa bổ dưỡng vừa chữa được nhiều bệnh. Hành ăn tươi càng tốt, hành trộn với rau xà lách, muối, chanh, dầu, sẽ giảm bớt chất cay.

Nếu bạn hay nhức mỏi, bạn hãy lấy 3 củ hành thái nhỏ (đừng tách múi) cho vào một lít nước đun sôi trong vài phút, để nguội, rồi lọc, uống một ly buổi sáng khi bụng còn đói và uống một ly trước khi đi ngủ, uống như vậy trong 3 ngày liền. Mỗi năm dùng 2 – 3 lần. Để trị chứng đau ruột: đun sôi trong 10 phút một nắm hành tách ra thành múi trong 1 lít nước, lọc và uống 1 – 2 lần trong 1 – 2 ngày.

Nếu bị cảm cúm, dùng 2 củ hành thái mỏng đun sôi vài phút trong nửa lít nước, uống nhiều lần trong ngày và tiếp tục nhiều ngày sau.

Để chữa thương tích bên trong, cho uống một ít nước hành tươi ép, nguyên chất hay thêm nước. Nước ép cũng dùng để trị chứng bí tiểu tiện hay bệnh đái ra protein. Đôi khi, chỉ cần hít nước cốt ấy đủ làm thần kinh bớt căng thẳng. Bị nhức đầu, hãy xoa một ít nước ép hành lên trán hay đắp lên một ít hành tươi thái nhỏ.

Đắp hành tươi làm giảm cơn đau, thông tiểu tiện, nhuận gan, hạ hỏa trong thời gian ngắn. Những cục chai đau nhức ở chân hay những nơi chai sần khác, dùng hành đắp vào rất có hiệu quả. Nơi bị sừng hóa sẽ được bóc ra dễ dàng khi gỡ miếng đắp ra.

Khi bị côn trùng chích, cắn, hãy lấy một củ hành, xoi một lỗ, nhét muối sống vào đó, chờ cho muối tan, chấm vào chỗ bị cắn nhiều lần.

Cuối cùng, cần nhắc lại một công dụng khác của củ hành đúng hơn là một bộ phận trong củ hành. Đó là lớp vỏ lụa bao quanh các múi hành. Hãy bóc ra và đắp lên những vết thương, mụn nhọt trước khi băng lại sẽ tránh được sưng tấy, làm mủ.

 

Băng-la-đet đã giảm được đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong vì bệnh sởi

Hiện nay, ở Băng-la-đet, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm đi khoảng 90%, tỷ lệ tử vong do sởi đã giảm khoảng 95% so với trước khi thực hiện Chương trình tiêm chủng mở rộng.

Bằng nhiều biện pháp phối hợp bảo đảm cho 90% số trẻ em trong độ tuổi 9 – 11 tháng tuổi được tiêm vacxin phòng sởi; báo cáo kịp thời và đầy đủ tất cả các trường hợp mắc và chết vì bệnh sởi; tổ chức chiến dịch tiêm chủng đặc biệt cho trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi ở các trại tị nạn và những nơi bùng nổ dịch.

Quỳnh Hoa và Trần Thành – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Xây dựng lối sống khỏe mạnh

Nghiện rượu lâu năm dẫn đến tình trạng suy sụp cả về thể lực lẫn tinh thần và có thể bị những bệnh nan y như xơ gan với cái chết từ từ cầm chắc.

Cũng như thuốc lá, mức tiêu thụ rượu có vẻ hơi giảm ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ nhưng lại đang tăng lên rõ rệt ở các nước đang phát triển châu Phi, Mỹ La tinh và Tây Thái Bình Dương không những với các loại rượu truyền thống sản xuất thủ công mà cả nhiều loại thức uống có cồn (như bia) được sản xuất công nghiệp với kỹ thuật hiện đại.

Đành rằng thực tế rượu không thể thiếu được trong các cuộc vui gia đình hay xã hội. Ở một khía cạnh nào đó, uống rượu là một nét văn hóa, một phong cách giao tiếp, một nguồn vui. Rượu còn là dung môi hòa tan một số hoạt chất làm thuốc tây y cũng như đông y mà ta quen gọi là rượu thuốc. Điều này có nghĩa không phải là loại trừ rượu khỏi đời sống hàng ngày mà là hạn chế việc sử dụng rượu và các thức uống có cồn ở mức vừa phải.

Tại các nước văn minh có những quy định rõ ràng cấm uống rượu trong giờ làm việc (ở cơ quan, công sở, nhà máy), cấm bán rượu và các thức uống có cồn cho trẻ em, cấm lái xe khi đang có cồn trong cơ thể (qua xác định nồng độ cồn trong máu hoặc trong hơi thở ra). Mỗi người tự hạn chế lượng rượu dùng, chẳng hạn tự ngừng uống những chén cuối cùng trong bữa rượu, định mức rượu trong các buổi chiêu đãi vừa đủ liều vui vẻ, tạo thói quen chỉ mời mà không ép…

Đặc biệt những người bị bệnh tim, cao huyết áp, chức năng gan kém, v.v… cần kiêng rượu theo đúng lời khuyên của thầy thuốc.

Ở nước ta vấn đề hạn chế bia, rượu đã trở nên cấp bách ở phạm vi xã hội đặc biệt đối với giới trẻ.

Giáo dục bài trừ ma túy. Nạn ma túy đang bành trướng ghê gớm, vượt qua mọi biên giới quốc gia. Tổ chức y tế thế giới ước tính hiện có khoảng 50 triệu người nghiện ma túy các loại (cần sa, thuốc phiện, heroin, cocain…).

Cần sa thường phổ biến trong dân quê châu Phi, châu Á và Trung Đông và cả trong giới trẻ châu Mỹ, châu Âu và Tây Thái Bình Dương. Thuốc phiện không tinh chế vẫn được dùng ở một số nước Trung Đông, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, đặc biệt tại các vùng trồng cây thuốc phiện và các miền quê. Heroin được dùng nhiều ở Bắc Mỹ. Cocain trước đây do giá cao chỉ được các dân nghiện giàu có ở châu Âu và Bắc Mỹ ưa thích, nay do phát triển sản xuất nên giá tụt xuống làm tăng số người nghiện. Giới trẻ ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Đại Dương đang bị nguy hại bởi việc dùng các thuốc gây ảo giác như LSD, psilocybin và phecyclidin.

GS Phan Văn Duyệt (Trường đại học Y Hà Nội) – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Thực phẩm ngoài có 4 đặc tính như trên thì còn có vị đậm nhạt, khi sử dụng phải chú ý

dền, măng tre, cà chua, mướp đắng, mướp, cà tím, rong biển…

Thực phẩm tính bình (có thể dùng cho các dạng bệnh tiểu đường), gồm các loại thịt gia cầm, thuỷ hải sản: thịt bò, dạ dày bò, phổi dê, cá hoa vàng, cá chép, lươn, Ốc biển…; các loại rau đậu và hoa quả: đậu đen, đậu Hà Lan, đậu bốn mùa, đậu ván, bách hợp, hạt sen, nấm hương, khoai tây, mộc nhĩ, ổi, sồi, sung, quýt, quế viên…; ngoài ra còn có: trứng gà, trứng vịt, ngô, lạc; các loại trứng có colesteron cao nên ít dùng.

Thực phẩm ngoài có 4 đặc tính như trên thì còn có vị đậm nhạt, khi sử dụng phải chú ý. Ví dụ cùng một chứng âm suy và đều lựa chọn những loại thực phẩm vị ngọt bổ âm nhưng đối với trẻ nhỏ, do bộ phận âm suy chủ yếu là ỏ phổi, dạ dày, nên phải dùng các thực phẩm như sữa bò, đậu nành, sữa ong, trứng gia cầm, đối vối người lớn thì bộ phận âm suy thường ố gan, thận, nên phải dùng các loại thực phẩm có khí, vị đậm như gà, vịt, hải sâm, các loại cá…

Những điều cấm kỵ khi dùng thức ăn chữa bệnh

Ba thành phần thuốc Bắc, thực phẩm và gia vị đều có những đặc tính riêng và tính chất thăng trầm chìm nổi. Vì vậy không chỉ trong sử dụng thực phẩm đúng mục đích mà còn phải hiểu và nắm vững những hiệu quả hỗ trợ nhau của những loại thực phẩm này để lựa chọn kết hợp những loại thực phẩm này để kết hợp thành thuốc, không chỉ nên biết vê’ những công dụng của nó mà còn phải biết về những kiêng kỵ của chúng.

Bệnh nhân nên kiêng

Trừ những thực phẩm chỉ có đường còn phải kiêng kỵ những thực phẩm gây nóng như dầu mỡ, cay. Đốỉ với những bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm biến chứng da thì phải kiêng kỵ hoặc thận trọng khi dùng các loại thực phẩm như trên.

Các loại thực phẩm trên làm nghiêm trọng hơn các bệnh về mụn nhọn, ho, hen suyễn. Ví dụ như:

1. Thuỷ hải sản: cá hoa vàng, cá chép, sò, cua, ngao, tôm…

2. Thịt: thịt dê, thịt chó, thịt lừa, thịt ngựa, thịt gà…

3. Rau: rau hẹ, nấm hương…

Các loại thực phẩm kỵ nhau

1. Thịt dê kị bán hạ.

2. Thịt baba kỵ hạt mù tạt, bạc hà, rau dền.

3. Cá chép: kỵ sa nhân, thiên môn đông.

4. Thịt gà kỵ hạt mù tạp.

5. Thịt chim sẻ kỵ bạch thuật, mận.

6. Trứng vịt kỵ mận, quả dâu .

7. Thịt chó kỵ thương lục.

8. Mật ong kỵ thổ phục linh, uy linh tiên, hành tây.

9. Lá trà kỵ thổ thục linh, uy linh tiên.

10. Các loại thuốc bổ như nhân sâm kỵ các loại thực phẩm có tính hàn và vị đắng mạnh.

Động tác của hươu

Động tác của hươu

Cúi gập người xuống sàn, khi đầu gối chuyển động, cổ hơi hướng về phía trước, đầu quay về bên trái, bên phải, mắt nhìn về phía sau, thỏ bằng mũi, nhịn thỏ trong 2-3 giây, làm lại động tác trên nhưng theo hướng ngược lại. Thực hiện động tác cho đến khi cơ thể nóng lên. Khi luyện tập bạn cần tưởng tượng ra hình ảnh của hươu đang chạy nhảy trên cao nguyên.

Động tác của gấu

Nằm ngửa, hai chận gập, hai tay ôm đầu gối, khom ngực, cúi đầu, lưng tạo thành hình vòng cung. Hai chân ép chặt xuống đất, đồng thòi nâng thân trên lên, cúi đầu, chuyển động theo chiều hướng về phía trước. Sau đó đổ người về phía sau, hai tay ôm đầu gối, chuyển động không ngừng. Luyện tập cho đến khi cơ thể nóng lên. Khi thực hiện động tác phải tưởng tượng ra hình ảnh gấu đang lăn.

Động tác của vượn

Đứng thẳng, tay phải giơ lên cao, khuỷu tay gập, năm ngón tay khép, lòng bàn tay hướng xuống phía dưới, vai trái hơi gập về phía trước, khuỷu tay gập, lòng bàn tay hướng sang bên phải. Chân phải bước lên trước, gang bàn chân đặt thẳng, hô hấp bằng mũi, nhịn thỏ trong 2-3 giây, sau đó gập hai chân, thân người phía trước hơi gập, hai tay buông, hô hấp bằng miệng. Lặp lại động tác trên nhưng đổi bên, khi luyện tập động tác này bạn cần tưởng tượng ra hình ảnh vượn đang dùng tay hái quả, uốn mình…

Động tác của chim

Đứng thẳng, hai tay giơ lên dọc thân, hai tay thả lỏng, lòng bàn tay hướng xuống dưới. Đồng thòi nâng đầu gối lên cao. Sau đó lại buông hai tay và hai đầu gối hô hấp bằng miệng, thực hiện động tác cho đến khi cơ thể nóng lên. Khi luyện tập bạn nên tưởng tượng hình ảnh của chú chim đang giang rộng đôi cánh bay lên trời.

Những điểm cần lưu ý

Thả lỏng: Khi tập luyện đầu tiên bạn phải giũ cho cơ thể ở trạng thái thả lỏng, tinh thần lạc quan. Tinh thần lạc quan sẽ giúp cho khí huyết lưu thông, tinh thần phấn chấn. Thả lỏng cơ thể có thể khiến cho các động tác không quá cứng nhắc.

Hô hấp đều đặn: Hô hấp phải tự nhiên, đều đàn hô hấp bằng bụng. Khi hô hấp miệng phải ngậm, đầu lưỡi chạm nhẹ lên ngạc trên. Có hai hình thức hô hấp là hô hấp bằng miệng và hô hấp bằng mũi.

Tập trung cao, tuân thủ nguyên tắc của từng bài tập: nên loại bỏ những ý nghĩ không cần thiết trong đầu, tập trung tinh thần, tuân thủ theo nguyên tắc của từng bài tập.

Động tác tự nhiên: Động tác của mỗi bài tập không giống nhau ví dụ động tác của gấu phải chậm chạp, của khỉ phải nhanh nhẹn, hổ phải cứng rắn… Khi tập luyện phải căn cứ vào đặc điểm của từng bài tập để tiến hành, động tác phải tự nhiên không nên quá gò bó.

Nơi tập luyện phải yên tĩnh. Khi luyện tập phải chọn không gian yên tĩnh, nhiều cây. Nên tập luyện vào buổi sáng. Chỉ cần bạn tập luyện chăm chỉ bạn có thể thu được kết quả.