Bí quyết gìn giữ được sức khỏe tốt

Sức khỏe con người chủ yếu chỉ sự khỏe mạnh của cơ năng, sự cân bằng của tâm lý, sự hài hòa với hoàn cảnh, tám nguyên tắc của sức khỏe có tám cái tên Anh văn, nếu lấy chữ đầu của 8 nguyên tắc này ghép lại, vừa vặn thành một nhóm từ new start nghĩa là sự bắt đầu mới mẻ.
Dinh dưỡng (Nutrition)
Nguyên tắc dinh dưỡng nghĩa là cần bổ sung dinh dưỡng cần và đủ cho cơ thể. Ví dụ loại sữa có thể bổ sung Protein, Fatty, Canxi. Loại cá nếu Cholesterol thấp, là thức ăn có lợi cho người già. Loại trứng, đối với người già tốt nhất là không nên ăn hoặc ít ăn lòng đỏ. Các loại đậu quả và rau cải là những thứ không thể thiếu được đối với sức khỏe
Vận động
Vận động là một nguyên tắ quan trọng, nhất là đối với người già. Mỗi ngày cần có lượng vận động nhất định ít nhất, mỗi tuần phải vận động không dưới 3 lần, mỗi lần không được dưới 30 phút.
Nước: Nước vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người. Nếu tính theo lượng nước uống, mỗi ngày, mỗi người uống tới 8 cốc nước kể cả lượng canh trong ba bữa ăn là vừa.
Ánh nắng mặt trời
Tắm nắng là vô cùng cần thiết, không thể thiếu được đối với sức khỏe con người. Ngày hè chói chang, tránh ánh nắng rọi chiếu ban trưa. Tắm nắng tốt nhất là vào buổi sớm và lúc chiều tà.
Sự điều độ phải biết tiết chế, điều độ mọi hành vi của mình, chẳng hạn như ăn, không nên ăn no quá, vui chơi không quá say sưa, đau buồn cũng phải kiềm chế. Vận động cũng không nên quá mạnh. Nói chung đều cần hết sức chú ý.
Không khí – sức khỏe con người không thể thiếu không khí. Trong cuộc sống hàng ngày phải bảo đảm có đủ không khí trong lành. Phòng ở phải thường xuyên mở cửa sổ cho thoáng khí
Nghỉ ngơi – Mỗi ngày phải bảo đảm ngủ từ 6 đến 8 tiếng đồng hồ. Ngủ dưới 6 tiếng đồng hồ là có hại cho sức khỏe. Người già có thể ngủ dưới 8 tiếng đồng hồ, nhưng phải trên 6 tiếng. Lòng tin sự tín nhiệm – Phải có lòng tin, có trung tâm đoàn kết, phải có mục tiêu để vươn tới. Không thể có con người khỏe mạnh mà không có mục tiêu phấn đấu rõ ràng. Đó là một sự cân bằng tâm lý, là yếu tố quan trọng, chủ yếu của sức khỏe. Tám nguyên tắc nêu trên có mối liên hệ mật thiết, máu thịt với nhau, dựa vào nhau để tồn tại, phát hiện. Không được quá nhấn mạnh một mặt nào. Muốn có một cơ thể khỏe mạnh thì phải phát triển nhịp nhàng cả 8 nguyên tắc trên, nhằm tăng cường chức năng của các cơ quan, bảo đảm sự cân bằng của cơ thể và môi trường, khiến cho con người và xã hội luôn trong trạng thái nhịp nhàng và an toàn, khỏe mạnh.
PV-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 64(876)1999

Lũ lụt gây hậu quả nghiêm trọng ở miền trung

Cơn bão số 9 những đợt mưa kéo dài và đặc biệt là đợt lũ quét hai ngày 2 và ngày 3 tháng 11 năm 1999 gây lụt lớn ở miền Trung. Sáu tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Định bị ngập trong nước, gây thiệt hại rất lớn về người và của. Sau đây là những thông tin chúng tôi mới nhận được đến ngày 4 tháng 11 năm 1999.
Quảng Bình 79 trên 152 trạm y tế bị ngập lụt, một số bị nứt tường, sụt nền, tử vong 9 người. Ngành y tế do chủ động phòng ngừa nên đã bị kịp thời di chuyển các trang thiết bị, dụng cụ y tế và thuốc men nên thiệt hại không đáng kể. Tuy nhiên hiện đang mưa rất lớn, giao thông đến hai huyện ngập nặng Quảng Ninh và Lệ Thủy bị cắt đứt.
Quảng Trị lụt ngày 9 tháng 9 huyện thị của tỉnh, 80 trên 136 xã Bệnh viện khu vực Triệu Hải, 5 phòng khám đa khoa, 69 trạm y tế, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh, trạm kiểm nghiệm dược phẩm bị ngập nặng trên 1 mét nước. Số người mất tích và tử vong với 11 sở y tế đã chuyển 30 phao cứu sinh và 50 nghìn viên chloramin đến các vùng trước khi lũ lụt, hiện sở đang triển khai cứu nạn và cấp cứu cho nhân dân trong tỉnh. Hiện nước sông Thạch Hãn vẫn đang lên ngày 2 tháng 11 vỡ đê bờ Nam đe dọa nghiêm trọng với 22 nghìn dân cư sống ở khu vực này. Bộ y tế đã cấp khẩn cấp 30 cơ số thuốc. Thừa Thiên Huế là tỉnh bị ngập nặng nề nhất trong cả nước. Thành phố Huế và toàn bộ các huyện, thị đều bị ngập có nơi ngập sâu hơn 6 mét nước. Bệnh viện trung ương Huế bị ngập toàn bộ tầng một, kho dược, phòng chụp Xquang, CT scaner cũng bị ngập. Toàn bộ bệnh nhân và một phần thuốc men, trang thiết bị nhẹ đã được chuyển lên tầng 2 an toàn. Số 30 phao cứu sinh và 100 nghìn viên chloramin với Bộ cấp đã chuyển kịch thời đến các vùng trọng điểm trước khi lũ lụt. Tin ban đầu 40 người tử vong và mất tích. Hiện chưa có thông tin thiệt hại về y tế do hệ thống liên lạc hữu tuyến bị cắt đắt. Bộ y tế đã khẩn cấp 40 cơ số thuốc
Đà Nẵng lũ quét trong hai ngày 2 và ngày 3 tháng 11 đã gây ngập lụt trên địa bàn toàn thành phố ở mức là 0,5 mm nước. Riêng hai huyện Hòa Vang và Ngũ Hành Sơn ngập sâu là 2,5 mét nước, 17 trạm y tế của hai huyện bị ngập sâu hơn 2 mét nên việc vận chuyển các nạn nhân và sản phụ vô cùng khó khăn nhân dân trong vùng lụt không có ca nô. Đặc biệt ở Trung tâm y tế Hòa Vang hiện có 176 bệnh nhân và toàn bộ các nhân viên y tế bị kẹt, không có lương thực. Tin đầu tiên, tử vong là 10 người, bị thương 23 người trong đó có 3 trẻ em. Ngày y tế đang tích cực triển khai công tác cứu nạn và cấp cứu cho nhân dân ở các vùng ngập nặng. Mưa vẫn lớn và nước sông tiếp tục lên. 30 áo phao cứu sinh, 50 nghìn sinh viên choloramin thuộc Bộ y tế đã được đưa về các vùng trọng điểm trước khi lũ lụt. Bộ y tế đã cấp khẩn cấp cho 30 cơ số thuốc.
Quảng Nam: Ngập nước thị xã Tam Kỳ và 3 huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên. Các trung tâm y tế của 3 huyện bị ngập hết tầng 1, số bệnh nhân ở lại trên 200 người đã được chuyển lên tầng 2 an toàn. Tin ban đầu tử vong 14 người. Hiện chưa có thêm số liệu về sự thiệt hại người và của. Sở y tế đã chuyển số áo phao cứu sinh với 30 cái áo thun và 50 nghìn viên chloramin đến các vùng trọng điểm trước khi lũ lụt xảy ra. Bộ y tế đã cấp ngày 30 cơ số thuốc cho tỉnh.
Bình Định: Một phần thành phố Quy Nhơn và các huyện Tuy Phước, An Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát bị ngập. Tin ban đầu tử vong 4 người. Ngay ngày 3 và ngày 4 tháng 11 năm 1999, đồng chí Phạm Mạnh Hùng, thứ trưởng thường trực Bộ y tế và đoàn cán bộ thuộc ban chỉ đạo phòng chống thảm họa Bộ y tế đã có mặt ở Đà Nẵng để nắm tình hình, và chỉ đạo khắc phục hậu quả lũ lụt kịp thời. Bộ y tế cũng đã chỉ đạo ngay cho các công ty dược, cơ sở y tế của trung ương đóng trên địa bàn các tỉnh miền Trung có trách nhiệm cấp phát, vận chuyển các cơ số thuốc đến Sở y tế để phát không cho nhân dân vùng bị thiên tai, và yêu cầu không được thanh toán bất cứ khoản chi phí nào. Chưa thể thống kê thiệt hại về tài sản song chắc chắn rằng đây là một thảm họa lớn. Không chỉ riêng ngành y tế cả nước lo lắng, đau thương cùng miền Trung và tập trung mọi khả năng, nguồn lực và kinh phí cứu trợ, khắc phục hậu quả cho nhân dân vùng lũ lụt. Những thông tin mới chúng tôi sẽ chuyển đến các bạn trong các số báo tới.
PV-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 62(874)1999

Văn hóa dưỡng sinh nguyễn khắc viện

Mùa thu năm nay, tôi được mời đến dự buổi ra mắt của Trung tâm văn hóa dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện, một tổ chức xã hội nhân đạo và tự nguyện, nhằm đào tạo và bồi dưỡng những hướng dẫn viên nòng cốt của phong trào dưỡng sinh theo phương pháp Nguyễn Khắc Viện. Phương pháp này kết hợp Đông – Tây, cổ truyền với hiện đại mang tính nhân văn cao. Sự kiện đáng vui này lại khiến tôi đôi chút bùi ngùi đọc lại bức thư anh Nguyễn Khắc Viện viết tay vẫn nét chữ minh bạch, rắn rỏi mà duyên dáng gửi vào câu lạc bộ dưỡng sinh nhà văn hóa lao động Thành phố Hồ Chí Minh. Anh xin lỗi không vào Nam mấy tháng mùa đông tránh rét và tham gia dạy dưỡng sinh như mấy năm trước vì anh đã 84 tuổi, bệnh liên miên. Bức thư viết ngày 10 tháng 11 năm 1996, 7 tháng trước khi anh mất. Anh tả bệnh tình như sau: Thực ra từ ngày 15 tháng 8, cứ mỗi lần đất nước chịu cơn bão là tôi phải chịu một trận viêm phế quản, cho đến tháng 11 là bảy trận liên tục. Mỗi lần lên cơn ho đến ngạt thở, mấy lần tưởng là đi luôn. Cuộc vật lộn với thần chết kéo dài từ năm 1992 đến nay xem chừng sắp kết thúc, và thần có ý nhắn nhủ là không đùa dai mãi đâu! Viêm phế quản chưa qua, thần giáng thêm một chưởng, là dạ dày và tá tràng đâm dở chứng đau liên miên kiểu loét, bắt buộc uống thuốc chống loét. Thuốc này lại xung khắc với thuốc viêm phế quản, làm suy giảm nặng chức năng gan thận. Chưa hết còn sinh ra đau nhức nơi vết mổ ngày xưa suốt ngày chân lạnh buốt, đầu và ngực toát vã mồ hôi. Nằm dài không ngồi dạy đi lại được ba bước, cháo sữa lắt nhắc suốt ngày và cả đêm nữa, sống thêm ngày nào cho khốn khổ vợ con. Cơ thể trước kia mình điều khiển nhẹ nhàng, nay cảm nhận ông chủ đã yếu ta không chịu tuân lệnh nữa. Đành vậy, không thể và không nên cưỡng mãi luật tự nhiên. Thế mới biết: Hết vận sư thầy cũng bó tay. Nhưng vẫn bình thản. Không hổn hển, cau có, gần nghẹn thở vẫn thở nhẹ, chậm. Bác sĩ ngồi bên cạnh cũng không thấy được ngay có thể có tử vong trước mắt. Biết rõ là tí phổi còn lại teo dần không đủ cung cấp oxy để sống nữa. Nhưng nhờ hệ cơ hoành vẫn quen hoạt động, cho nên giữ được bề ngoài. Muốn theo dõi các anh chị xem báo hàng ngày, có khi chỉ ngày một ngày hai là có tin buồn và xem báo sức khỏe Đời sống từ 15 tháng 8 đến nay, lâu lâu tôi vẫn có bài. Còn cẩm nang tập luyện nhờ anh chị Trao đến tận tay thế hệ sau. Những dòng trên đây viết giữa những cơn đau của người chờ chết, viết trên giường, mình tựa vào chăn, thể hiện tính cách Nguyễn Khắc Viện, can đảm nhìn thẳng vào cái chết, nghị lực đấu tranh với bệnh, bình tĩnh tỉnh táo vẫn giữ được nhân tính hài hước trong cơn đau, nghĩ đến nhiệm vụ đối với mọi người và hậu thế cho đến hơi thở cuối cùng. Trường hợp Nguyễn Khắc Viện khiến tôi nghĩ đến “Những ngày thứ ba với thầy Mori, một tập kỷ sự kiện nổi tiếng ở Mỹ tác giả Mitch Albom kể lại những buổi gặp thầy cũ Mori vào thứ ba, trong hơn mười tuần lễ trước khi thầy chết. Thầy Mori đã ngoài bảy chục tuổi, bị một bệnh quái ác, cảm thấy từng mảng sống rồi bỏ cơ thể mình ra đi, nhưng vẫn bình thản truyền lại những bài học bản thân về ý nghĩa cuộc đời ứng xử với cái chết, bệnh tật, bạn bè, gia đình, nhân loại. Nguyễn Khắc Viện đã tìm thấy ý nghĩa cuộc đời ứng xử với cái chết, bệnh tật, bạn bè gia đình, nhân loại. Nguyễn Khắc Viện đã tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong phục vụ dân tộc. Trong nhiều lĩnh vực phục vụ anh đặc biệt đi sâu vào hai vấn đề cơ bản: tâm lý trẻ em và dưỡng sinh giữ sức khỏe cho mọi lứa tuổi, đặc biệt người cao tuổi những cơ sở thiết yếu cho dân tộc tồn tại và phát triển. Chúc Trung tâm văn hóa dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện trụ sở ở nhà xuất bản thế giới thành công. Và ngày càng hoàn thiện về mọi mặt.
Hữu Ngọc-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 62(874)1999

Dược chất phóng xạ

Khi nói tới các chất phóng xạ người ta thường nghĩ tới những vụ nổ hạt nhân và những cảnh chết chóc, đổ nát hoặc những hậu quả nặng nề như căn bệnh máu trắng, các bệnh ung thư… Đó chỉ là những mặt trái của chất phóng xạ đã bị các kẻ cuồng chiến lợi dụng. Thực ra, chất phóng xạ còn được dùng làm thuốc để điều trị nhiều căn bệnh khác nhau. Dược chất phóng xạ còn được ứng dụng rất nhiều để chẩn đoán xác định bệnh như các căn bệnh về tuyến giáp trạng, các di căn vào xương của nhiều căn bệnh ung thư. Chất phóng xạ đầu tiên được ứng dụng trong y học đã được nhà nữ bác học Marie Curie, người đã hai lần được tặng thưởng giải Nobel về phát hiện và điều chế ra là chất radium đã cách đây gần một thế kỷ ngày 22 tháng 10 năm 1994. Sau khi phát hiện ra tác dụng hủy hoại các tế bào sống của các loại bức xạ anpha, beta, gamma do radium phát ra, người ta đã ứng dụng chất này trong điều trị ung thư đều có mang chứng chỉ do chính bà Marie Curie ký tên vào năm 1923. Đây là cái mốc đầu tiên đánh dấu việc sử dụng chất phóng xạ trong y học ở nước ta. Lò phản ứng hạt nhân nguyên tử Đà Lạt của nước ta cũng là một trong những nơi sản xuất được các dược chất phóng xạ. Dược chất phóng xạ phải do chính các thầy thuốc chuyên khoa về y học hạt nhân chỉ định, trực tiếp điều trị và theo dõi sát sao liều lượng. Hiện nay trên địa bàn cả nước đã có tới 21 trung tâm có sử dụng các chất phóng xạ vào mục đích chuẩn đoán và điều trị bệnh. Một chuyên ngành đã và đang trên đà phát triển ở Việt Nam, đó là ngành y học hạt nhân. Các trung tâm lớn như khoa y học hạt nhân bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện K Hà Nội, bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện 108, Bệnh viện 103 đã được trang bị nhiều máy móc hiện đại và có đội ngũ các giáo sư, bác sĩ và kỹ thuật viên chuyên khoa để chuẩn đoán và điều trị nhiều căn bệnh hiểm nghèo bằng các chất phóng xạ. Theo như định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới về thuốc là những chất có tác dụng chuẩn đoán, phòng bệnh, điều trị hoặc làm thay đổi một chức năng của cơ thể thì chất phóng xạ được sử dụng trong y học đạt cả hai mục đích chuẩn đoán và điều trị bệnh. Như vậy so với các dược chất khác đa phần chỉ có được một trong số các tác dụng nói trên thì dược chất phóng xạ được xếp vào loại đa năng.
Các ứng dụng trong chuẩn đoán: Kỹ thuật miễn dịch phóng xạ gọi tắt là RIA hay kỹ thuật IRMA thường được dùng để định lượng một số hormone đặc biệt như calcitonin, prolactin và các hợp chất sinh học như osteocalcin, thyroglubolin với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Vì các chất này có hàm lượng rất thấp trong máu, nếu định lượng bằng các phương pháp xét nghiệm khác thì thường không phát hiện được hoặc thiếu độ chính xác. Kỹ thuật này còn được ứng dụng để đánh giá và tiên lượng nhiều căn bệnh khác như định lượng chất TNF anpha trong bệnh sốt rét ác tính, phát hiện các khối ung thư tuyến giáp trạng, ung thư dạ dày, đánh giá chức năng gan trong bệnh viện gan virus thông qua các chất chỉ điểm khối u bằng các chất đồng vị phóng xạ đánh dấu. Xạ hình xương để chuẩn đoán ung thư di căn vào xương. Trong kỹ thuật này, người ta tiêm một hợp chất có hoạt tính phóng xạ vào tĩnh mạch, chúng nhanh chóng bị lọc khỏi huyết tương để đến tập trung tại xương và sẽ hiện rõ lên khi chụp. Nó có khả năng phát hiện các ung thư di căn vào xương sớm hơn 6 tháng nếu so với phương pháp chụp X quang thông thường. Chụp hình tươi máu cơ tim bằng kỹ thuật SPECT có một giá trị chuẩn đoán rất rõ trong các bệnh hẹp động mạch vành tim. Ở Việt Nam, kỹ thuật này lần đầu được thực hiện tại bệnh viện 108. Ngoài xác định chính xác vị trí chỗ hẹp, kỹ thuật SPECT còn cung cấp các thông tin về chức năng tim rất có giá trị cho các thầy thuốc khi quyết định phương pháp điều trị thích hợp. Chuẩn đoán chức năng tuyến giáp trạng bằng các phương pháp ghi hình như xạ lý mạch tuyến giáp, xạ ký vạch thẳng, xạ hình gamma camera, SPECT.
Dược chất phóng xạ áp dùng trong điều trị
Từ ngày phát hiện ra các chất đồng vị phóng xạ thì các chất phóng xạ tự nhiên như radium vừa đắt tiền, vừa không an toàn đã dần dần được thay thế. Các máy gia tốc hạt nhân hiện đại đã bắn phá nhiều nguyên tố hóa học để tạo ra các chất đồng vị phóng xạ, có thời gian bán rã vật lý ngắn ngày đã được dùng làm các dược chất phóng xạ để điều trị nhiều căn bệnh. Ưu điểm của các dược chất phóng xạ nhân tạo này là có thể đưa vào cơ thể theo các con đường khác nhau và chúng sẽ tập trung tại các vị trí cảm nhiễm của từng mô bệnh lý mà phát huy tác dụng. Chẳng hạn như chất đồng vị phóng xạ lod 131 rất cảm ứng với tuyến giáp nên thường được dùng để điều trị bệnh cường tuyến giáp hoặc bệnh ung thư tuyến giáp trạng. Khoa y học hạt nhân bệnh viện Bạch Mai trong vòng 20 năm qua đã sử dụng lod 131 để điều trị bệnh cường giáp còn gọi là bệnh Basedow cho trên 700 bệnh nhân với kết quả rất là khả quan với 85 phần trăm các trường hợp đều thấy hết triệu chứng lâm sàng sau khi điều trị từ 3 tháng đến 5 tháng, 90 phần trăm bệnh nhân đã có bướu tuyến giáp nhỏ rõ rêt. Dược chất này cũng được dùng khá rộng rãi tại các bệnh viện khác để điều trị các bệnh về tuyến giáp, một căn bệnh khác phổ biến ở nước ta như bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, bệnh viện Đà Nẵng… Các dược chất phóng xạ như phospho 32, sắt, cobal cùng được sử dụng để điều trị nhiều căn bệnh hiểm nghèo như các bệnh ung thư và được gọi là phương pháp xạ trị. Dược chất phóng xạ là một loại thuốc đặc biệt, chúng thường được ít giới thiệu trong các sách hướng dẫn sử dụng thuốc thông thường. Lá thuốc nhưng lại không được bày bán và kê đơn như các loại thuốc khác, đó là vì chúng phát ra các tia bức xạ nguy hiểm tới môi trường sống. Kênh cung cấp các dược chất phóng xạ ở nước ta chủ yếu là từ nước ngoài và được chuyên chở một cách an toàn theo quy định về an toàn hạt nhân. Lò phản ứng hạt nhân nguyên tử Đà Lạt của nước ta cũng là một trong những nơi sản xuất được các dược chất phóng xạ. Dược chất phóng xạ phải do chính các thầy thuốc chuyên khoa về y học hạt nhân chỉ định, trực tiếp điều trị và theo dõi sát sao liều lượng. Sự hợp tác quốc tế của ngành y học hạt nhân nước ta với cộng hòa Pháp trong các năm gần đây đã mở ra triển vọng ứng dụng các dược chất phóng xạ trong các lĩnh vực chuẩn đoán và điều trị nhiều căn bệnh nan y ở nước ta.
PTS. Kiều Khắc Đôn-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 62(874)1999