Ấm áp

Họ đã li dị nhau được một năm. Mỗi người nuôi giữ một đứa con, ở hai nhà riêng biệt cách xa nhau hơn năm cây số. Anh biết, anh đã đối xử tồi tệ với chị, nhưng chị cũng có lỗi không ít, hai người đã chia tay sau nhiều năm chịu đựng nhau, hai người đã chia tay sau nhiều năm chịu đựng nhau, không thể chung sống, và cũng không còn cách nào để hàn gắn. Thỉnh thoảng, anh đến trường thăm con gái, chị đến trường hôn con trai. Cuối tháng thì cho hai anh em chúng gặp nhau, chơi chung với nhau nơi vườn chơi thiếu nhi, trong khi anh ngồi trên ghế đá đầu này, chị ngồi ghế đá đầu kia…
Từ ngày sống riêng, anh lập bàn thờ trong nhà, đã không bày chân dung mẹ của chị nữa, anh cho rằng đã không còn quan hệ với người con thì cũng cắt đứt tình nghĩa với người mẹ. Không thờ mẹ vợ cũ, cũng chẳng ai thắc mắc để ý hay trách cứ gì, nên anh không hề thấy áy náy băn khoăn một chút nào.
… Vào một ngày nóng bức, nghe tin con gái bệnh rất nặng, nằm liệt giường, anh đã xin phép chịu được đến nhà thăm con. Chị đồng ý miễn cưỡng. Khi anh dắt con trai đến nhà, chị lẳng lặng bỏ đi qua nhà hàng xóm, để cho “cha con, anh em chúng nó tự nhiên gặp gỡ”. Anh thăm hỏi, hôn con gái xong, đi tìm chị khắp nhà. Bất chợt, anh rợn người, sững sờ đứng chôn chân trước bàn thờ nhà chị, nước mắt rưng rưng, rưng rưng… Trên bàn thờ, bàn thờ nhà riêng của chị, vẫn còn đó hình ảnh của cha mẹ anh. Anh nhìn thấy qua nước mắt nhập nhòa, dường như cha mẹ anh đang nhìn anh với ánh mắt đầy ắp trách móc. Anh quỳ sụp xuống trường bàn thờ, quỳ cho đến khi chị trở về đỡ anh dậy bằng đôi cánh tay trần run rây, và ấp áp hơn bao giờ hết.
Dư âm “10 năm sân khấu trong tôi”
Đó là một triển lãm ảnh đã trưng bầy qua các tỉnh Huế, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh và bây giờ là Hà Nội, người yêu nghệ thuật có dịp gặp gỡ những nghệ sĩ mà họ yêu quý qua ống kính Hồng Nga, phóng viên ảnh của báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh. Người phụ nữ ấy đã có những tháng ngày đeo đuổi miệt mài với sân khấu, chớp được những khoảnh khắc thoáng qua của các vai diễn. Những khoảnh khắc ấy khi lọt vào ống kính tài hoa của của chị có lúc thật lãng mạn, có lúc xuất thần lột tả những tâm trạng bi hài của những cảnh đời, số phận trên sàn diễn. Tinh tế và nhạy cảm để lột tả được “thần” của mỗi nghệ sĩ diễn xuất, chắc hẳn do Hồng Nga đã gắn bó với sân khấu như một mối tơ duyên (Chị đã qua lớp đào tạo diễn sân khấu).
Mỗi bức ảnh của Hồng Nga là một tác phẩm nghệ thuật: những chuyển động của vũ điệu hình thể trong Vũ điệu Di gan của nghệ sĩ múa Hương Giang; nghệ sĩ Phú Quang say đắm trong Phút thăng hoa, ca sĩ Siu Black bốc lửa, điệu múa công như một khát vọng tự do của Thanh Mai… Để có được một triển lãm ảnh như vậy (rút từ album ảnh với hơn 400 bức) là những buổi kiên trì theo sát những đêm diễn, chị là người nắm chắc lịch diễn của sân khấu thành phố Hồ Chí Minh hơn ai hết. Chị đã từng có những giải thưởng lớn: Giải ACCO cho Bức tranh quê ngoại, giải ASASHIBVN VỚI Hồn nhiên, giải nhì ảnh nghệ thuật đất nước con người Việt Nam, giải B giải thưởng ảnh xuất sắc quốc gia 1995…
Vượt qua nỗi buồn đau riêng lúc tuổi đời còn rất trẻ, chị đã can đảm gắn bó với cái đẹp của nhiếp ảnh, của nghệ thuật sân khấu. Đến với nhiếp ảnh như một định mệnh mà trong đó có vai trò người chồng, anh Hồ Hữu Thuận đã hướng cho chị và giúp đỡ chị rất nhiều.
“10 năm sân khấu trong tôi” một quãng thời gian của một người phụ nữ tài hoa đóng góp cho sân khấu và nhiếp ảnh những “khoảnh khắc” đẹp. Nếu như ở triển lãm này, Hồng Nga (nên chăng) có thêm những bức ảnh về các nghệ sĩ khi ở ngoài đời, ống kính của chị hướng vào những trăn trở, bộn bề trong đời sống thường nhật của họ thì người xem sẽ có một cảm giác đầy đủ hơn về đời sống người nghệ sĩ: Sân khấu và cuộc đời.
Đặng Lê – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Khai trương Trung tâm tư vấn, phòng ngừa và điều trị ma túy

Vừa qua, Bộ Lao động thương binh – xã hội đã khai trương Trung tâm tư vấn, phòng ngừa và điều trị cho người nghiện ma túy. Trung tâm có nhiệm vụ: cung cấp những thông tin cần thiết có liên quan đến nghiện ma túy để hỗ trợ phòng ngừa, phát hiện người nghiện; tư vấn về kinh nghiệm, biện pháp giáo dục tại gia đình và xã hội, để phòng ngừa, hỗ trợ chống tái nghiện; tư vấn về hình thức, biện pháp điều trị chăm sóc, quản lý tại gia đình, cộng đồng đối với nghiện sau khi cai… Bộ trưởng Bộ Lao động thương binh – xã hội Nguyễn Thị Hằng nhấn mạnh:… Việc điều trị cho người nghiện ma túy không chỉ đơn thuần là vấn đề y học mà còn là chuẩn mực về nhân cách, hành vi, lối sống… Trung tâm tư vấn là một trung tâm hoạt động xã hội phi lợi nhuận, lấy mục tiêu cứu người là chính.
Hội thảo “An ninh lương thực Việt Nam – ASEAN”
Hội thảo “An ninh lương thực Việt Nam – ASEAN” do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ủy ban quốc gia về an ninh lương thực (ANLT) và Tạp chí Việt Nam – Đông Nam Á ngày nay tổ chức sẽ diễn ra từ ngày 3 – 6/11/1998.
Tham gia hội thảo có các nhà hoạch định chính sách của các nước ASEAN, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học và doanh nghiệp… Hội thảo đề cập đến các vấn đề: vai trò khoa học công nghệ đối với an toàn lao động; giải pháp xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam; chiến lược dân số; vấn đề giới trong an ninh lương thực; an ninh lương thực với phát triển bền vững môi trường sinh thái… nhằm tìm hướng phát triển nền nông nghiệp Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn tới; đồng thời xóa bỏ những bất ổn trong xã hội và kinh tế của khu vực trên nền tảng ổn định an ninh lương thực.
Tin vắn
Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở Bắc Cạn hiện là 64%. 14/22 xã trọng điểm triển khai chương trình phòng chống suy dinh dưỡng đã giảm số trẻ suy dinh dưỡng xuống còn 28%. Ở vùng cao, vùng sâu, số trẻ bị suy dinh dưỡng chiếm tỉ lệ rất cao (100%).
Tình trạng thiếu I ốt đã gây bướu cổ và Basedow cho nhiều người ở Sơn La. Ngành y té tỉnh đã khám, điều trị cho 5.328 người mắc bướu cổ và hơn 2000 người mắc bệnh Basedow, chữa tuyến giáp cho 2.535 lượt người.
Trong dịp Tết trung thu vừa qua, Hà Nội Medicare đã tổ chức khám và tặng quà các cháu tàn tật có hoàn cảnh khó khăn với tổng trị giá 793.000 đồng. Dự tính sắp tới, phòng khám sẽ tổ chức khám, chữa bệnh cho người cao tuổi nghèo và phụ nữ nghèo.
Thành phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) có 415 người tàn tật được đưa vào chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (trong đó 75% là trẻ em). Trên 50% có tiến triển rõ rệt, 83 người lớn tàn tật hòa nhập xã hội, 92 trẻ em phục hồi được đi học.
Vũ Huê –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Y học cổ truyền với bệnh sốt xuất huyết

Hiện nay cả y học hiện đại (YHHĐ) và y học cổ truyền (YHCT) đều chưa có thuốc đặc hiệu chữa bệnh sốt xuất huyết (SXH). Tất cả các loại thuốc là để điều trị triệu chứng (hạ sốt, chống xuất huyết, chống chảy máu niêm mạc, chống mất nước, chống nôn, nâng cao thể trạng). Một trong những nguyên tắc điều trị là không nên hạ sốt quá nhanh để tránh xảy ra biến chứng trụy tim mạch, sốc. Tuyệt đối không dùng aspirin, APC, seda, v.v… để hạ sốt vì dễ gây toan máu và xuất huyết.
Thế mạnh của Y học cổ truyền là điều trị các triệu chứng và nâng cao sức chống đỡ của cơ thể đối với bệnh tật. Đối với bệnh sốt xuất huyết để hạ sốt, chống chảy máu chủ yếu dùng thuốc Y học cổ truyền như phác đồ điều trị bệnh sốt xuất huyết bằng Y học cổ truyền được Bộ y tế ban hành 22 – 7 – 1998 (báo sức khỏe và đời sống đăng trang 12 số báo ra ngày 5 – 8 – 1998). Vấn đề này đã được chứng minh ở vụ dịch sốt xuất huyết tại miền Bắc năm 1969, Hội Y học cổ truyền các cấp, các bệnh viện, các khoa Y học cổ truyền, Viện Y học cổ truyền, kể cả các bệnh viện y học hiện đại đều dùng thuốc Y học cổ truyền để chữa bệnh ở thể nhẹ và vừa và kết hợ chữa thể nặng. Theo báo cáo NCKH của giáo sư Trần Văn Kỳ (1969) trong 100 bệnh nhi bị sốt xuất huyết điều trị khỏi 100%, trong đó 67 cháu điều trị bằng Y học cổ truyền và 33 cháu điều trị kết hợp. Báo cáo của Bác sĩ Đặng Phương Kiệt điều trị nội trú 683 bệnh nhân Sốt xuất huyết trong đó có 40,7% thể nhẹ, 33,6% thể nặng, 22,6% rất nặng. Dùng bài “tiểu sài hồ thang” cho 91,3% tổng số người bệnh (dùng đơn thuần 51,3%, kết hợp 39%) kết quả khỏi ra viện cả 683.
Với các trường hợp Sốt xuất huyết ở thể nhẹ và vừa (độ 1 và độ 2), cho điều trị tại gia đình của tuyến y tế cơ sở (xã, phường, trung tâm y tế).
Chú ý: – Người phải được theo dõi nhiệt độ, mạch, huyết áp thường xuyên.
Chỉ định điều trị Sốt xuất huyết bằng Y học cổ truyền ở độ 1 và độ 2.
Bệnh nhân Sốt xuất huyết đang có sốt cao không được dùng nhân sâm và các chế phẩm có nhân sâm.
Khi thấy người bệnh:
Da đỏ ửng nhưng chân tay lạnh, vật vã, bồn chồn;
Sốt không giảm sau 2 tới 3 ngày (khó kiểm soát);
Đau bụng;
Số lượng nước tiểu giảm;
Xét nghiệm: số lượng tiểu cầu giảm xuống nhanh, dung tích hồng cầu (hematorit) tăng cao tức là những dấu hiệu tiền sốc (theo TCYTTG 1980) phải chuyển sang điều trị bằng Y học cổ truyền (có thể dùng bài thuốc cổ truyền để điều trị phối hợp).
Tiết tả
Tiết tả (tiêu chảy) là đi ngoài phân lỏng, có thể toàn nước, số lần đi ngoài nhiều hơn bình thường. Thường do các nguyên nhân: Tiêu chảy do phong hàn, do hàn thấp, do thấp nhiệt, do tỳ vị hư hàn, v.v… liên quan tới bệnh lý ở tỳ, vị, tiểu đường, đại trường.
Tiêu chảy do phong hàn: Người bệnh đau bụng, tiêu chảy nóng rét, nhức đầu, rêu lưỡi trắng, mạch nhu hoãn, thích nóng, không khát.
Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: Củ gấu (giã giập, sao vàng) 20 gam, búp ổi (sao vàng) 20 gam, cú sả (sao vàng) 12 gam, vỏ quýt (sao thơm) 12 gam, gừng tươi 8 gam.
Cách dùng: cho các vị vào ấm, đổ 400 ml nước, sắc lấy 50 ml uống, sắc làm 3 lần, uống trong ngày.
Bài 2: Củ riềng (thái mỏng, sao vàng) 40 gam, vỏ ổi giộp (sao) 80 gam).
Cách dùng: tán nhỏ cả hai vị, rây mịn, bỏ vào lọ nút kín dùng dần.
Người lớn mỗi lần uống 6 – 8 gam (hãm như hãm chè), bỏ cạn, ngày uống 3 lần.
Tiêu chảy do thấp nhiệt: Bệnh thường phát về mùa hè – thu; hễ đau bụng là đi ngoài ngay, phân sắc vàng, mùi khắm, giang môn nóng, tiểu tiện ít và đỏ, khát nước, rêu lưỡi vàng nhạt, mạch hoạt sác.
Phép chữa: thanh nhiệt, lợi thấp, chỉ tả:
Bài 1: Củ sắn dây 30 gam, hoàng bá 10 gam, lá vàng bông mã đề 20 gam, rau má cả củ 40 gam, cam thảo dây 12 gam.
Cách dùng: Đem các vị rửa sạch, giã giập, cho vào ấm, đỏ 400 ml nước, sắc lấy 200 ml. Người lớn chia 2 lần uống, trẻ em tùy tuổi chia 3 – 4 lần uống.
Bài 2: Cát căn 15 gam, hoàng cầm 10 gam, cam thảo 6 gam, hoàng liên 10 gam, thược dược 12 gam. Tất cả các vị làm thành một thang sắc uống.
Ngọc Hưng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Vì sao phải quan tâm đến sức khỏe sinh sản vị thành niên

Không riêng gì ở nước ta mà ở nhiều nước trong khu vực trên thế giới, những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản (SKSS) vị thành niên (VTN) đang nổi lên như là những quan tâm lớn của cộng đồng vì hai lý do sau:
Trước hết, vì bối cảnh xã hội hiện đại có nhiều nguy cơ đe dọa Sức khỏe sinh sản của vị thành niên, nhất là ở những nước đang phát triển, nhiều hoàn cảnh cám dỗ và tiêu cực có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của vị thành niên (đua đòi, lối sống hưởng thụ, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc…) – Sự đe dọa thường trực của nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS mà vị thành niên chưa ý thức được đầy đủ – Sự cần thiết phải khống chế sự gia tăng dân số mà vị thành niên cần phải được giáo dục để có thể nhập cuộc có hiệu quả – Những nỗ lực của xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ nòi giống và xây dựng nếp sống có văn hóa càng đòi hỏi phải quan tâm đến vị thành niên.
Những điều tra, khảo sát ở nước ta trong những năm gần đây về hành vi tình dục vị thành niên đã cung cấp những thông tin đáng lo ngại: quan hệ tình dục tình dục sớm dẫn đến hậu quả là gia tăng tỷ lệ nạo thai, mang thai ngoài ý muốn, sinh đẻ và những biến chứng tức thì và lâu dài của những động thái này. Nếu vị thành niên hành động theo bản năng thô thiển, không phù hợp với những giá trị văn hóa, đạo đức thì sẽ ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống như sức khỏe và đạo đức – phong tục tập quán – chất lượng nòi giống – kiểm soát dân số và mối quan hệ nam nữ lành mạnh và có trách nhiệm.
Nạo hút thai, nhất là phá thai muộn ở vị thành niên, đẻ con rồi bỏ con hoặc phải bỏ nhà ra đi, phải nuôi con trong điều kiện thiếu thốn có thể tiềm ẩn những hậu quả và biến chứng xa rất nghiêm trọng đến sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và sức khỏe tinh thần của các em, ấy là chưa nói đến những tai biến tức thời đã cướp đi nhiều sinh mạng do bị nhiễm khuẩn nặng, thủng tử cung, chảy máu… Rất nhiều bi kịch đã xảy đến với những cô gái lầm lỡ và cả những đứa con mà họ sinh ra trong điều kiện không mong muốn, nhiều người đã tìm đến cái chết hoặc bị xô đẩy vào cuộc sống buông thả nghiệm hút hoặc phải sống bằng cách buôn bán trên thân xác mình, còn những đứa trẻ thì lớn lên và phát triển trong hoàn cảnh thiếu dinh dưỡng, thiếu tình thương, sự âu yếm, chăm sóc cho nên đã không thể hình thành được một nhân cách như xã hội mong muốn (tự tin, tự trọng, biết yêu thương, có niềm tin, có hoài bão, có trách nhiệm đối với bản thân và xã hội…).
Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển họp ở Cairo (1994) cũng đã cảnh báo về nguy cơ của hành vi tình dục sớm ở vị thành niên.
“Việc trở thành người mẹ ở tuổi quá trẻ là nguyên nhân làm tăng nguy cơ tử vong mẹ và con của những người mẹ trẻ này. Có thai sớm tiếp tục gây trở ngại cho việc cải thiện vị thế xã hội, kinh tế và học vấn của phụ nữ ở mọi nơi trên thế giới. Với tất cả phụ nữ trẻ, kết hôn sớm và làm mẹ sớm có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cơ hội học hành và kiếm việc làm, và có thể có tác động xấu về lâu dài đến chất lượng cuộc sống của chính họ và con cái họ”.
Vì giáo dục sức khỏe sinh sản vừa đem lại lợi ích vừa phát huy được tiềm năng của chính vị thành niên. Lợi ích trước tiên đối với vị thành niên là nhận thức được giá trị nhân bản của khái niệm sức khỏe vị thành niên: Vị thành niên là lớp người trẻ tuổi, số đông đã sẵn có một vốn kiến thức cơ bản về tự nhiên và xã hội nên nhạy cảm với cái mới, có nhu cầu cao về hiểu biết dễ tiếp thụ những cái được coi là tiến bộ và hiện đại.
Vị thành niên một khi đã ý thức được nội dung và yêu cầu của sức khỏe đời sống có thể trở thành những tuyên truyền viên những hạt nhân của cuộc vận động dân số – Kế hoạch hóa gia đình và phòng chống AIDS một cách tích cực nhất.
Vị thành niên cũng sẽ là những người tiêu biểu nhất, gương mẫu nhất của mô hình văn hóa mới về bình đẳng nam nữ trong đời sống và trong mọi vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản.
Vị thành niên chuẩn bị bước vào cuộc sống xã hội và gia đình, phải trực tiếp đối diện với những vấn đề nghĩa vụ – bổn phận – trách nhiệm – đời sống vợ chồng – vì vậy trong hành trang kiến thức cần có những kiến thức về sức khỏe sinh sản – một nội dung quan trọng trong việc chuẩn bị để trở thành con người phát triển toàn diện.
Vì những lý do nói trên, quan tâm giáo dục và bảo vệ sức khỏe sinh sản vị thành niên đã trở nên một vấn đề cấp bách và không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà của toàn xã hội, thực sự cần thiết trong chiến lược giáo dục toàn diện, kiểm soát dân số và bảo vệ sức khỏe cho vị thành niên.
BS. Đào Xuân Dũng – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Kỷ niệm Ngày sức khỏe tâm thần thế giới

Bộ y tế, Bộ giáo dục và đào tạo, Hội tâm thần học và Hội tâm lý giáo dục đã phối hợp kỷ niệm Ngày sức khỏe tâm thần thế giới lần thứ 7 (10/10/1998). Hiện nay tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần ở nước ta là 15 – 20% dân số. Mới có 2 loại bệnh nặng là tâm thần phân liệt và động kinh được điều trị. Hệ thống điều trị chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân dân. Tại cuộc họp, các đại biểu đề nghị phải có một chương trình quốc gia về sức khỏe tâm thần.
Tin địa phương
Lạng Sơn: Hiện có thêm 119 người nhiễm HIV/AISD, nâng tổng số người nhiễm lên 448 trường hợp, 10/11 huyện thị đã phát hiện người nhiễm HIV/AIDS. Trong tháng 10/98, tỉnh đã tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế khoa sản nhi về các biện pháp phòng chống bệnh lây lan cho bệnh lây lan cho mẹ và con, bệnh lây qua hệ tình dục,… Ủy ban phòng chống AIDS đã chỉ đạo các địa phương nắm chắc đối tượng nhiễm HIV, tư vấn cho họ và người thân, kiểm tra sức khỏe thường kỳ và cấp thuốc điều trị cho người nhiễm HIV.
Sơn La: Đầu tháng 10, ngành y tế tỉnh đã mở lớp tập huấn về xử lý các bệnh thường gặp ở trẻ em cho cán bộ y tế xã thuộc huyện Mai Châu. Các học viên gồm y sĩ, y tá, hộ lý đang công tác ở xã (trong đó có 11 người dân tộc Thái tham dự) đã được bổ sung kiến thức mới trong việc xử lý các bệnh thường gặp ở trẻ em như: viêm phổi, tiêu chảy, sốt rét, suy dinh dưỡng, sởi…
Hòa Bình: Viện dinh dưỡng phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Kim Bôi tổ chức Tuần lễ dinh dưỡng và phát triển tại xã Lạng Sơn. Xã đã thành lập ban chỉ đạo và tổ chức thi kiến thức và thực hành nuôi con, tổ chức bữa ăn hợp lý ở các thôn từ 19/9 – 4/10. Ngày 8/10 đã diễn ra lễ phát động Tuần lễ dinh dưỡng và phát triển tại xã, với các hoạt động: Nói chuyện về ý nghĩa Tuần lễ dinh dưỡng, thi bữa ăn hợp lý, tổ chức cân và theo dõi biểu đồ phát triển của trẻ, tổ chức hội thi kiến thức và thực hành nuôi con; thăm một số gia đình làm VAC; giúp đỡ bữa ăn no cho một gia đình khó khăn,…
Hà Nội: Vừa qua, Bệnh viện Hai Bà Trưng đã tổ chức trọng thế lễ kỷ niệm ngày truyền thống của đơn vị và 44 năm Ngày giải phóng Thủ đô (10 – 10).
Trải qua 14 năm hoạt động, đặc biệt là trong hơn 3 năm gần đây, trên tất cả các mặt hoạt động của Bệnh viện đã đạt được những chuyển biến tích cực, nhiều chỉ tiêu khám chữa bệnh đạt và vượt mức; nhiều ca bệnh hiểm nghèo được cứu sống; một số kỹ thuật được ứng dụng thành công; nhiều đề tài khoa học có giá trị thiết thực phục vụ người bệnh; nhiều điển hình cá nhân và tập thể tốt trong phòng trào thi đua tập thể. Bệnh viện, đã hai năm liền được tặng Cờ quyết thắng…
Nghệ An: Được sự hỗ trợ của dự án phòng chống sốt rét Việt Úc, từ ngày 16.10.1998 đến hết tháng 1 năm 1999, Trung tâm y tế huyện Tương Dương (huyện vùng cao) tổ chức 7 lớp tập huấn kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) cho 175 cán bộ y tế thôn bản; mỗi lớp kéo dài 12 ngày, với những nội dung cơ bản: Phòng chống sốt rét, tiêu chảy, chăm sóc bà mẹ trẻ em, sinh đẻ có kế hoạch v.v… Kết thúc khóa đào tạo tại huyện Tương Dương thì tiếp đến là huyện Kỳ Sơn, 100% y tế thôn bản cũng sẽ được tập huấn kiến thức, kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe.
Đà Nẵng: Hội chữ thập đỏ (CTĐ) Đà Nẵng hơn 1 năm qua đã vận động quyên góp hơn 4 tỷ đồng; Hiệp hội chữ thập đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế và Trung ương Hội cũng giúp 50 tấn gạo và nhiều dụng cụ gia đình, thuốc chữa bệnh trị giá hàng trăm triệu đồng, cho những gia đình khó khăn hoạn nạn. Ngoài ra, thành hội còn phối hợp với Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em tổ chức cho 130 trẻ mồ côi, gia đình đặc biệt khó khăn học văn hóa, học nghề miễn phí tại trung tâm hướng nghiệp của hội; tổ chức 71 lớp huấn luyện sơ cấp cứu cho hơn 3.000 hội viên, nhằm tạo lực lượng tại chỗ hỗ trợ ngành y tế thực hiện các chương trình y tế quốc gia.
Lam Giang –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Giá thuốc “nỗi băn khoăn của nhiều người”

Phải thừa nhận rằng thị trường thuốc hiện nay hết sức sôi động; phong phú về chủng loại, mặt hàng… Ngoài các công ty, xí nghiệp dược phẩm trong nước sản xuất thì các hãng nước ngoài cũng đau nhau nhảy vào chiếm thị phần dược phẩm ở nước ta. Với gần 8000 loại thuốc được lưu hành chính thức trên thị trường đã đáp ứng được nhu cầu thuốc cho dân song còn giá thuốc thì sao? Đây đang là nỗi băn khoăn của mọi người.
Người ta có thể mặc cả mớ rau, cân thịt… chứ có ai đi mặc cả khi mua thuốc bao giờ. Trong thực tế, giá thuốc đang hết sức lộn xộn, một loại thuốc có rất nhiều loại giá: giá của quốc doanh khác, giá của các cửa hàng thuốc tư khác, giá của bệnh viện khác… Đặc biệt với những mặt hàng thuốc độc quyền (các biệt dược ngoại) thì mỗi nơi lại một giá, mỗi thời gian lại một giá khác nhau. Khi cần cạnh tranh nhất là các mặt hàng trùng nhau thì họ lại thi nhau hạ giá, có khi bán dưới cả giá thành. Qua khảo sát thị trường của Tổng công ty dược cho thấy: giá thành của một viên ampicillin nội trên dưới 300 đồng trong khi đó giá bán buôn tháng 6/1997 là 200 đồng/ viên, tháng 2/1998 chỉ có 184 đồng/ viên. Tại Hà Nội nang ampicillin 0,5 gam bán lẻ có nơi bán 650 đồng/ viên, 500 đồng/ viên, 550 đồng/ viên, ở một số bệnh viện: 800 đồng/ viên.
Mặt hàng gentaycin 80 mg (tiêm): 650 đồng/ ống thì có nhà thuốc bán 2500 đồng/ ống; 2000 đồng/ ống. Tại thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua dấu hiệu về những cơn sốt giá đầu tiên là mặt hàng kháng sinh thông dụng sau đó đến dịch truyền, thuốc bổ, cảm cúm… Giá có thể nhích từ vài trăm đồng tới vài ngàn đồng (chủ yếu đối với các mặt hàng thuốc nhập ngoại). Ví dụ: erycin 500 mg (Canada) tăng 130 đồng/ viên, gastrostat tăng 3000 đồng/ hộp, becozym tăng 4500 đồng/ hộp, dịch truyền glucose 5% tăng từ 30 – 40%.
Với những nơi vùng sâu, vùng xa thì tùy từng loại thuốc, tùy từng địa phương người ta có thể cộng thêm thăng số song cũng rất khác nhau và không thể dựa trên cơ sở nào. Tại Quảng Trị, giá thuốc ở đây, theo quy định của sở y tế từ bán sỉ sang bán lẻ cộng trừ 10% song trên thực tế họ thường cộng thêm từ 20 – 25%, thậm chí 30% khi lên đến miền núi… Ví dụ: một lọ dextran 5% giá 8 nghìn đồng, có nơi bán 10 – 12 nghìn đồng cuối cùng là người bệnh phải chịu.
Giá thuốc cho bảo hiểm y tế tưởng như ổn định hơn cả nhưng ở mỗi địa phương cung ứng thuốc cho bảo hiểm y tế cũng rất khác nhau. Có nơi còn cộng thêm các chi phí từ 20 – 30 vào giá thuốc.
Nguyên nhân của thực trạng này là gì? Theo ông Nguyễn Trọng Đễ – Tổng giám đốc Tổng công ty dược Việt Nam, hiện nay ở nước ta vẫn chưa có luật chống độc quyền mua, bán, chống phá giá, đặc biệt trong lĩnh vực giá thuốc thì Nhà nước lại chưa có bất cứ dược đang có hình thức khoán trắng cho các quầy thuốc tự kinh doanh, quản lý thuốc. Vì thế mà mạnh ai người nấy tăng giá, họ cộng tất cả các chi phí vào trong giá thuốc và sao cho phải có lãi nữa. Với các thuốc nhập ngoại người mua thuốc còn phải chịu cả tiền tiếp thị, quảng cáo trong giá thuốc mà mình mua; lại thêm tình trạng nhà thuốc móc nối với bác sĩ kê đơn để bán được nhiều thuốc, và dĩ nhiên là giá thuốc cũng phải tăng lên vì phải cộng thêm tiền “hoa hồng” cho bác sĩ… Có rất nhiều lý do để cho giá thuốc tăng cao làm cho hầu hết người bệnh khi mua thuốc phải chịu giá rất đắt so với giá thực của thuốc.
Vậy phải làm thế nào trước thực trạng giá thuốc bị thả nổi như vậy?
Vẫn chưa có giải pháp khả thi, song theo ông Nguyễn Trọng Đễ thì Nhà nước nên sớm có văn bản pháp quy về quản lý một số loại giá thuốc; với các loại thuốc ngoại phải có giá trần, các hãng nước ngoài khi đăng ký thuốc nên kèm theo đăng ký giá. Đối với thuốc sản xuất trong nước nên có một khung giá, các cơ sở bán thuốc phải niêm yết giá công khai trước cửa hiệu của mình và phải có sự kiểm tra về giá đột xuất, thường xuyên… Có như vậy phần nào mới hạn chế được tình trạng tăng giá tùy tiện, để người bệnh được mua thuốc chữa bệnh với giá cả hợp lý.
Thu Hương ––Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Bất hợp lý trong cơ cấu nhập khẩu thuốc chữa bệnh

Việc thuốc tân dược nhập khẩu chiếm lĩnh thị trường đang là vấn đề bức xúc không chỉ riêng đối với cán bộ công nhân viên ngành được mà của toàn xã hội. Tương tự như vậy, sự bất hợp lý không chỉ xảy ra với một mặt hàng PARACETAMOL mà với hầu hết các mặt hàng trong danh mục thuốc thiết yếu như: ampicillin, một số vitamin. Trong số 410 triệu đô la tiền thuốc cho cả nước năm 1997 thì có đến 380 triệu là nhập khẩu. Riêng mặt hàng ampicilin dùng để uống thì hiện nay thị trường có khoảng trên 100 loại nhập khẩu, paracetamol cũng có hàng trăm loại của nước ngoài v.v… Điều đáng nói ở đây không phải là số lượng phong phú các biệt dược có cùng hoạt chất mà là việc hầu hết các xí nghiệp dược phẩm trong nước đã sản xuất được các mặt hàng này với chất lượng đạt tiêu chuẩn Việt Nam thậm chí tiêu chuẩn quốc tế với giá thành phù hợp. Ngược lại các thuốc chuyên khoa, đặc trị các chứng nan y vẫn còn quá thiếu. Người dân chúng tôi thật sự khó hiểu là tại sao trong khi mà ở các vùng kinh tế khó khăn, việc cung ứng thuốc còn hạn chế, đối với những người dân nghèo (chiếm gần 80% dân số) có được viên thuốc chữa các bệnh thông thường cần phải cố gắng rất lớn thì Bộ y tế lại cho nhập khẩu rất nhiều các thuốc bổ đắt tiền như các vitamin, Plussz, viên sủi, viên đạm, viêm sâm… Phải chăng việc đáp ứng nhu cầu của thiểu số người dân có thu nhập cao trong xã hội quan trọng hơn sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho toàn dân? Một điều cần nói nữa chắc chắn là số ngoại tệ để nhập những loại này rất lớn so với số ngoại tệ để nhập khẩu thuốc chuyên khoa, hóa chất cần thiết cho sản xuất nội địa. Có thể coi đây là sự lãng phí được hay không? Sự nhập siêu so với xuất về thuốc ngày càng gia tăng, tỷ lệ giá trị nhập nguyên liệu so với tổng giá trị nhập thuốc nói chung lại giảm rõ rệt. Nếu năm 1991 tỷ lệ này là 34,9% thì năm 1996 còn 19,47% và năm 1997 còn thấp hơn thế nữa. Những cơ quan có thẩm quyền trong việc này có băn khoăn gì không khi mà sự bất hợp lý, mất cân đối trong cơ cấu nhập khẩu thuốc chữa bệnh rõ ràng đến như vậy. Chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước là đúng đắn cũng như việc nhập khẩu tân dược là cần thiết, tạo điều kiện kích thích sản xuất trong nước, đảm bảo cung ứng đủ thuốc cho nhân dân. Nhưng đến thời điểm hiện nay mà còn nhập với số lượng ồ ạt, chủng loại không chọn lựa chắc chắn không phải nhằm mục đích cao cả của ngành y tế nói chung là chăm sóc sức khỏe toàn dân và của ngành dược nói riêng là bảo hộ sản xuất dược trong nước mà vì những lý do nào khác. Câu trả lời còn nằm ở cơ quan chức năng của ngành dược thuộc Bộ Y tế.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Những bài tập có kết hợp bấm huyệt

Kinh thiếu dương tam tiêu phần chỉ định chữa bệnh có ghi: liệt dây thần kinh số VII, đau răng. Đau các khớp vai, khuỷu, cổ tay, bàn tay, đau vai gáy, liệt chi trên – Chữa nhức đau nửa bên đầu, ù tai, điếc tai…
Huyệt ty trúc không: vị trí ở hõm đầu ngoài cùng lông mày.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái, đặt ngón tay giữa của tay cùng bên các tác động lên huyệt làm thao tác day có kết hợp rung – tần số rung tăng dần – phản xạ dẫn truyền thúc mạnh xuống gáy và huyệt thiên liêu theo đường đi của kinh. Thời gian thao tác 1 phút. Tác dụng với đau đầu vùng thái dương cùng bên, hoa mắt; mi mắt nháy, giật (đau dây thần kinh ố V). Kết hợp với các huyệt khác phục hồi liệt ở đầu dây thần kinh VII.
Các huyệt – liên huyệt, hòa liên, nhĩ môn.
Hòa liên: ở phía trước và trên huyệt nhĩ môn ngang trước chân vành tai.
Nhĩ môn: ở lõm phía trước trên nắp đậy tai, ngay trên lối cầu của ngành lên xương hàm dưới.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái, đặt ngón tay trở và ngón giữa hoặc ngón giữa và ngón nhẫn lên 2 huyệt hòa liên và nhĩ môn làm thao tác day có kết hợp rung. Có cảm giác dẫn truyền xuống lồng ngực cùng bên. Thời gian thao tác 1 phút. Tác dụng với đau đầu cùng bên ù tai, buốt tai, có tiếng kêu trong tai, nháy giật cơ mắt. Kết hợp với các huyệt khác phục hồi liệt thần kinh VII.
Huyệt giác tôn: vị trí: ở đầu chót vành tai khhi gấp vành tai và ấn sát vào chân tóc.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái, đặt ngang đầu ngón tay giữa của bàn tay cùng bên với bên cần tác động, theo tư thế đầu ngón tay chỉ ra sau làm thao tác day. Có cảm giác dẫn truyền xuống lồng ngực cùng bên. Thời gian thao tác 1 – 2 phút. Tác dụng tốt với đau đầu nửa bên. Kết hợp với các huyệt khác phục hồi vận động trong liệt dây thần kinh VII.
Huyệt ế phong: vị trí ở sau dái tai, chỗ lõm giữa xương hàm dưới và mỏm trâm xương chũm.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái trước một chiếc bàn làm việc, khuỷu tay cùng bên tỳ lên bàn, đặt đầu ngón cái theo tư thế chống ngược vào huyệt làm thao tác day có kết hợp rung. Phản xạ dẫn truyền vào họng. Thời gian thao tác 1 phút. Tác dụng với: ù tai, điếc tai, có tiếng kêu trong tai, viêm họng. Thoái hóa cột sống cổ thiểu năng tuần hoàn não. Khắc phục tình trạng chảy nước dãi trong liệt. Kết hợp với các huyệt khác phục hồi vận động trong liệt dây thần kinh VII. Vẹo cổ cấp.
Huyệt nhu hội: ở trên đường nối giữa mỏm quạ xương trụ với huyệt kiên liêu, ngay bờ sau cơ delta. Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái tay cần tác động buông xuôi với bàn tay đối diện ngang vai, đặt ngón tay giữa lên huyệt làm thao tác day. Cảm giác dẫn truyền xuống quá khuỷu tay. Thời gian thao tác 1 phút. Tác dụng với đau cánh tay, kết hợp với các huyệt khác chữa viêm quanh khớp vai, liệt chi trên.
Huyệt liên huyệt: Thanh lãnh uyên – Thiên tỉnh – Thanh lãnh uyên: vị trí: tứ huyệt thiên tỉnh đo lên 1 thốn.
Thiên tỉnh: vị trí ở chỗ lõm mỏ khuỷu xương trụ khi gấp cẳng tay lại, huyệt ở gân tam đầu cánh tay.
Phương pháp tập: người tập ngồi thoải mái, tay bên cần tác động hơi co lại đặt ngửa trên đùi. Tay bên kia nắm lấy khuỷu tay của tay cần tác động đặt ngón cái vào huyệt Thanh lãnh uyên làm thao tác day ngang. Thời gian thao tác 1 phút (sau đó tiếp tục đưa ngón cái xuống huyệt Thiên tỉnh làm thao tác day ngang, lưu ý ở huyệt này hơi ép mạnh đầu ngón tay. Thời gian thao tác 1 phút). Cảm giác trĩu nặng vai. Tác dụng: đau vai gáy, đau cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay, phục hồi vận động cánh tay trong liệt chi trên. Vẹo cổ.
Liên huyệt: Tứ độc – Tam dương lạc – Hội tông Chi câu – Ngoại quan – Dương trì.
Tứ độc: vị trí ở trước mỏm khuỷu 5 thốn, ở giữa khe xương quay và xương trụ.
Tam dương lạc: vị trí dưới huyệt tứ độc 2 thốn giữa khe xương quay và xương trụ.
Hội tông: vị trí từ huyệt chi câu đo vào phía ngoài 1 khoát ngón tay về phía xương trụ.
Chi câu: vị trí trên huyệt ngoại quan 1 thón ở giữa khe xương trụ và xương quay, phía ngoài cơ duỗi chung các ngón tay.
Ngoại quan: vị trí từ cổ tay (Dương trì đo lên 2 thốn) về phía mua tay.
Dương trì: vị trí chỗ trũng ở nếp lằn mu cổ tay, phía ngoài gân cơ ruỗi chung.
Phương pháp tập, người tập ngồi thoải mái trước 1 chiếc bàn làm việc tay cần tác động đặt ngang trên mặt bàn theo tư thế sấp. Đặt ngón giữa của bàn tay bên lên huyệt Tứ độc, rồi Tam dương lạc, rồi Chi câu, rồi hội tông; làm thao tác day – xoay. Tiếp đến ngoại quan ấn mạnh đầu ngón tay và rung cảm giác xuyên thấu sang nội quan. Tiếp đến Dương trì làm thao tác day rung – hơi nặng tay. Tất cả những thao tác này đều dẫn đến truyền phản xạ xuống các ngón. Mỗi huyệt thời gian thao tác là 15 phút. Tác dụng phục hồi vận động của cổ tay, bàn tay, ngón tay trong liệt. Đai cẳng tay, cổ tay. Tê, bại, nhức mởi cẳng tay, cổ tay, ngón tay. Giúp phục hồi các khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay trong viêm da khớp đang thấp.
Trần Ngọc Trường –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Tăng trưởng kinh tế “nguyên nhân và thành công” – Phần 2

Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng từ 19,4 tỷ USD năm 1992 lên tới 80,8 tỷ USD vào năm 1995 và hiện nay (9.1998) lên tới 140,6 tỷ USD so với 139,9 tỷ USD năm 1997, chỉ xếp sau Nhật Bản.
Trong 10 năm tới, kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, toàn diện, với tốc độ tăng GDP bình quân từ 5 đến 7%. Đến năm 1997, Trung Quốc có sức mạnh kinh tế gấp 4 lần Trung Quốc năm 1980.
4 nhân tố chủ yếu tạo nên sự tăng trưởng kinh tế cao của Trung Quốc.
Hệ thống kinh tế được cải cách và tự do hóa. Trước năm 1978, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chỉ chiếm chưa đầy 15% tổng sản lượng công nghiệp. Đến nay, khu vực này (kể cả các chủ đầu tư nước ngoài và các hợp doanh) đã chiếm trên 50% tổng sản lượng công nghiệp. Các hộ gia đình tư nhân hiện sản xuất trên 80% sản lượng nông nghiệp.
Sau Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc, việc xây dựng các công ty quốc doanh hiện đại và chuyển đổi hình thức sở hữu hàng loạt doanh nghiệp Nhà nước khác có những bước tiến mạnh mẽ. Một trong những nội dung đáng quan tâm trong kế hoạch 5 năm lần thứ 9 (1996 – 2000) là Nhà nước nắm giữ và hiện đại hóa 1.000 doanh nghiệp chủ công của Nhà nước do Trung ương lựa chọn. Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân được xác định không tùy thuộc vào số lượng thậm chí cũng không quyết định bởi tỷ trọng giá trị sản xuất trong GDP (tổng sản phẩm quốc dân), mà tùy thuộc vào khả năng kiểm soát và tác động tới toàn bộ nền kinh tế. Đây là một sáng tạo mới về lý luận kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, tạo tiền đề cho tiến trình cải cách và cơ cấu lại một cách mạnh mẽ khu vực kinh tế Nhà nước.
Các lực lượng thị trường đã quyết định hầu hết việc sản xuất và các luồng đầu tư. Hệ thống kinh tế đã được phi tập trung hóa. Việc tự do giá cả đã cơ bản hoàn thành với hơn 90% giá cả được tự do hóa. Thị trường lao động mới được xây dựng. Hơn 20% nhân viên Nhà nước làm việc theo hợp đồng ngắn hạn. Sự di đọng việc làm khá cao kể cả các vùng nông nghiệp lẫn đô thị.
Tỷ lệ tiết kiệm cao, trung bình 19 năm qua là trên dưới 33%, trong đó năm 1993 – 1994 đạt trên 35%,
Sự ổn định về chính trị và tiền tệ đã thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài và kỹ năng quản lý đã tăng lên nhanh chóng. Trên 250 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã được thực hiện, cùng với kỹ thuật hiện đại, các phương tiện quản lý và các quan hệ thị trường và giữ vai trò lớn hỗ trợ cho sự tăng trưởng kinh tế.
Xuất khẩu tăng bình quân hàng năm hơn 18%. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân: Hệ thống kinh tế của Trung Quốc đã được tự do hóa nhanh chóng và chất lượng sản phẩm đã được cải thiện, chi phí sản xuất thấp xa so với chi phí của tất cả các quốc gia thuộc OECD và hầu hết các nước đang phát triển ở châu Á.
Chỉ trong vòng hai thập kỷ, Trung Quốc đã được những thành tựu to lớn, sẽ bước đi vững chắc vào thế kỷ 21. Vào khoảng giữa thế kỷ 21, Trungn Quốc có thể trở thành cường quốc kinh tế với tổng GDP đứng đầu thế giới.
Nguyễn Xuyến –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Tăng trưởng kinh tế “nguyên nhân và thành công” – Phần 1

Hai mươi năm qua, kể từ khi cải cách, Trung Quốc (TQ) đã thành công về tăng trưởng kinh tế.
Công cuộc cải cách và mở cửa của kinh tế Trung Quốc được Đại hội XI Đảng Cộng sản Trung Quốc khởi xướng (tháng 12 – 1978) và được Đại hội XII sau đó cụ thể hóa với mục tiêu tăng 4 lần tổng giá trị sản lượng công, nông nghiệp, từ 710 tỷ nhân dân tệ (85,23 tỷ USD) năm 1980 lên 2.800 tỷ nhân dân tệ (336,13 tỷ USD) vào năm 2000.
Trong 18 năm phát triển kinh tế (1980 – 1997), với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 9% năm, tức tăng gấp đôi trong vòng 10 năm (1980 – 1990). (Nước Anh phải mất 58 năm (1780 – 1838), Mỹ 47 năm (1839 – 1886) và Nhật Bản 34 năm (1885 – 1919). Thu nhập bình quân đầu người tăng 6,7% lần. Trước năm 1978, sản lượng nông nghiệp chiếm hơn 30% tổng sản phẩm nội địa, nay chỉ còn chưa đầy 25%, hơn 70% lực lượng lao động cả nước làm việc trong khu vực nông nghiệp thì nay chỉ còn dưới 50%.
Năm 1998, mặc dù bị lũ lụt nặng và trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực, Trung Quốc vẫn có thể đạt mức tăng trưởng GDP 8%.
Sự phát triển mạnh mẽ công nghiệp, nông nghiệp, ngoại thương và thu hút vốn đầu tư nước ngoài… là những thành tựu kinh tế nổi bật nhất của Trung Quốc. Các sản phẩm nông nghiệp tăng với tốc độ cao, đặc biệt là sản lượng sợi hóa học và ti vi từ vị trí thứ 7 và thứ 8 trên thế giới vào năm 1978 đã vọt lên chiếm vị trí thứ 2 và thứ nhất tương ứng với năm 1995. Hiện nay, nhiều mặt hàng như lương thực, bông, thịt lợn, thịt bò, thịt dê… chiếm vị trí hàng đầu thế giới về sản lượng.
Nền kinh tế Trung Quốc đã hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Năm 1977, tổng kim ngạch ngoại thương chỉ chiếm 6% tổng sản phẩm quốc dân, nay đã lên tới trên 40%. Ngoại thương tăng trung bình 18% năm, tạo ra hàng triệu việc làm và mang lại những khoản thu ngoại lệ khổng lồ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ 20,64 tỷ USD năm 1978 đã tăng lên gần 300 tỷ USD năm 1996.
Thắng lợi quan trọng nhất của Trung Quốc trong hai thập kỷ qua, theo cách đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) là các nhà lãnh đạo đất nước 1,2 tỷ dân này đã kết hợp được những nỗ lực chính trị, nâng cao uy tín trên trường quốc tế với tài năng quản lý vĩ mô, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài để phát triển các tỉnh ven biển. Chỉ tính từ năm 1979 đến tháng 11 – 1997, Trung Quốc đã phê duyệt hơn 302.400 dự án có vốn đầu tư nước ngoài tới 513,42 tỷ USD, trong đó vốn đã thực hiện là 216,6 tỷ USD. 20 năm qua, đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan chiếm 65,89% tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc. Đầu tư từ Mỹ, Nhật Bản, các nước châu u, Hàn Quốc và Singapore đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế song phương với Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đã có 339 thành phố và vùng kinh tế mở cửa với tổng diện tích trên 500.000 km vuông.
Sự phát triển rất năng động của miền duyên hải cùng với việc phát triển giao thông vận tải, thông tin liên lạc đã tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển thị trường và buôn bán nội địa, kể cả thị trường lao động và thị trường tài chính.
Nguyễn Xuyến –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998