Những cuộc chiến tranh tình báo mới – Phần 1

Theo cơ quan tình báo An ninh Canada (CSIS) hiện nay có tới 24 nước tham gia hoạt động tình báo tại Canada, chính phủ của các nước đó tài trợ. Đấy là chưa kể các tổ chức tình báo tư nhân của các công ty đa quốc gia đặt tại nước này để theo dõi lẫn nhau, chủ yếu là những bí mật trong hoạt động kinh tế và thương mại. Giới báo chí cho rằng Nga, Trung Quốc và Nhật Bản là ba nước tham chiến lớn nhất, rồi tiếp đến là Đài Loan, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Bra – zill, Israel và thậm chí là cả Cuba nữa.
Riêng Mỹ thì thú nhận rằng hàng năm họ phải chi phí khoảng 135 tỷ USD để chống lại việc ăn cấp công nghệ và những thông tin độc quyền. Tuy nhiên, những nỗ lực của Mỹ chưa làm giảm bớt tính căng thẳng của những cuộc chiến tranh tình báo mới, thậm chí còn gia tăng nhiều hơn. Cụ thể sau khi kết thúc “chiến tranh lạnh” (1991) một công trình khảo sát về 325 công ty của Mỹ được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan An ninh Công nghiệp nước này cho thấy từ năm 1992 – 1995 số lượng các vụ ăn cắp thông tin tăng gấp 3 lần. Canada, một ông bạn láng giềng trong nhóm G7, là một trong số các nước bị mất nhiều bí mật nhất. Điều đó chỉ làm cho người Mỹ lo ngại rằng chính Canada là nơi chủ yếu để các gián điệp công ty của nhiều nước khác thâm nhập vào các công ty đa quốc gia của Mỹ. Chính giám đốc Cục điều tra liên Bang (FBI) Louis Freech đã nói với thượng nghị viện rằng: hiện cơ quan của ông đang điều tra trên 800 vụ gián điệp kinh tế ở Mỹ có dính líu tới 23 quốc gia khác nhau trong đó có các cá nhân người Canada. Theo ông các hoạt động tình báo kinh tế Mỹ – Canada chủ yếu là các công ty làm gián điệp lẫn nhau. Còn trong một báo cáo mới đây về hoạt động tình báo kinh tế ở Mỹ do Chính phủ các nước chỉ đạo, cơ quan tình báo trung ương Mỹ (ICA) đã nói rằng Pháp, Israel, Nga và Trung Quốc là những kẻ trùm sò chứ không phải là Canada và Nhật Bản.
Từ khi đối thủ chính của các nước phương Tây là Liên Xô tan rã thì những điệu múa ngoại giao tế nhị mang tên là hợp tác đã chuyển thành cạnh tranh. Trước đây các nước đồng minh vẫn quen giải quyết các vụ việc xảy ra giữa họ như là chuyện trong nhà thì ông Lee, một nghị sĩ có tên tuổi trong Thượng nghị viện Canada đã nói rằng: thân mật kiểu gì lại đi ăn trộm những bí mật công nghiệp của nhau. Hình như những khuôn mẫn của thời trước (thời kỳ chiến tranh lạnh) đã thay đổi đến mức chúng tôi không còn ý thức được cái gì đúng, cái gì sai, ai tốt, ai xấu. Hiện nay, chúng tôi buộc phải bắt đầu xác định hình ảnh tốt xấu, đúng sai trên cơ sở quyền lợi của Canada.
Trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán mậu dịch tự do song phương Mỹ – Canada hồi cuối những thập niên 80, bản thân những đại diện Canada là Simon Riesman và Gordon Ritchie đã cảnh giác khả năng tình báo Mỹ sẽ theo dõi và ăn cấp thông tin bí mật, nên họ chỉ bàn bạc với nhau trong căn phòng mà họ cảm thấy thật sự “an toàn”.
Trần Đại – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

35 năm – một chặng đường – Phần 2

Tổ chức phun diệt muỗi cho diện tích 7.679.910 mét vuông bảo vệ được 771.187 người.
Công tác kiểm dịch.
Tiến hành giám sát dịch tễ học các bệnh dịch theo điều lệ kiểm dịch của nước ta và WHO.
Được phép của WHO, tiến hành cấp giấy chứng nhận diệt chuột và miễn diệt chuột cho các tầu nước ngoài nhập cảng Hải Phòng.
Trong 5 năm (1993 – 1997) đã kiểm dịch 19.771 tàu và khử trùng diệt chuột 68 tàu.
Từ năm 1996, do triển khai tốt TT26 liên bộ YT – TC về công tác kiểm dịch và diệt chuột tàu biển nên đã nộp ngân sách nhà nước 2 tỷ đồng.
Công tác phòng chống dịch:
Trong những năm giặc Mỹ ném bom miền Bắc (1964 – 1972) luôn chuẩn bị sẵn sàng phương án phòng chống chiến tranh vi trùng hóa học.
Năm 1969 chỉ đạo dập tắt dịch sốt xuất huyết, tiếp đó các dịch ly trực khuẩn, bạch hầu, ho gà, sởi ở các Kiến Quốc (Kiến Thụy), Quốc Tuấn (An Hải), Cao Minh và Tam Đa (Vĩnh Bảo).
Từ 1976 – 1996 chỉ đạo chống dịch (9 lần tả, 3 lần dịch hạch) xâm nhập vào qua cảng Hải Phòng).
Đã đề các biện pháp giám sát dịch tễ học và vi sinh học, nên kịp thời phát hiện và hạn chế các dịch vụ lớn xảy ra ở Hải Phòng.
Các chương trình y tế:
Giữ vững thành tích 100% trẻ dưới 5 tuổi được uống vacxin phòng bại liệt và vitamin A; 90% phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván. Suốt từ năm 1985 đến nay không để xảy ra các vụ dịch trong 6 bệnh hay mắc ở trẻ nhỏ.
Chương trình CDD thực hiện có hiệu quả nên làm giảm hẳn tỷ lệ trẻ mắc bệnh. Tỷ lệ tiêm truyền và dùng kháng sinh để điều trị tiêu chảy cũng giảm hẳn.
Đã làm xét nghiệm phát hiện HIV/AIDS 61.818 mẫu máu, trong đó phát hiện 288 trường hợp dương tính.
Đã chỉ đạo hỗ trợ các trường hợp và các xã ngoại thành xây dựng hố xí Sulahb và công trình vệ sinh.
Từ 1994 – 1996 là một trong 4 tỉnh được chọn làm điểm về công tác sức khỏe – môi trường do WHO tài trợ. Đã được trang bị thêm cho labo khoa y học lao động hơn nửa tỷ đồng trang thiết bị.
Công tác đào tạo – nghiên cứu khoa học.
Được Phân hiệu Đại học y Hải Phòng đặt bộ môn dịch tễ tại Trung tâm để đào tạo phó tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa I về vệ sinh phòng dịch.
Từ năm 1971 đã mở 14 Hội nghị khoa học, đồng thời có nhiều công trình khoa học được duyệt báo cáo trong các hội nghị khoa học toàn quốc của Hội YHDP tại nước ta.
… và những phần thưởng xứng đáng.
Năm 1973 Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng 3;
Năm 1985 Huân chương lao động hạng 3 lần thứ nhất;
Năm 1992 Huân chương lao động hạng 3 lần thứ hai;
Năm 1993, Ủy ban nhân dân thành phố tặng bằng khen và bức trướng kỷ niệm 30 năm.
Năm 1994, Bộ y tế tặng bằng khen; Ủy ban nhân dân thành phố tặng bằng khen, Sở y tế tặng cờ, Quân khu III tặng bằng khen.
Năm 1995 Sở y tế và Ủy ban nhân dân thành phố tặng cờ thi đua xuất sắc.
Năm 1995 Nhà nước tặng danh hiệu Thầy thuốc ưu tú cho 2 cán bộ.
Năm 1996, Bộ y tế tặng 2 bằng khen, Ủy ban nhân dân thành phố tặng 2 bằng khen, Sở y tế tặng 2 cờ thi đua xuất sắc.
Năm 1997, Bộ y tế tặng 2 cờ bằng khen (về TCMR và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ), Sở y tế tặng cờ thi đua xuất sắc…
Năm 1998, Huân chương lao động hạng nhì.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

35 năm – một chặng đường – Phần 1

Du trong hoàn cảnh nào – những năm tháng ác liệt của chiến tranh, hay thời bình Trung tâm y tế dự phòng Hải Phòng luôn là một pháo đài kiên cố ngăn chặn không cho dịch bệnh xâm nhập, tạo một môi trường trong sạch, một lối sống lành mạnh cho người dân thành phố. Nhân dịp Trung tâm kỷ niệm 35 năm ngày thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng II, chúng tôi xin giới thiệu đôi nét về Trung tâm.
Dấu mốc thời gian…
Tháng 4/1963 Trạm vệ sinh phòng dịch (VSPD) Hải Phòng thành lập, thực hiện chức năng kiểm dịch và phòng chống sốt rét (SR).
Năm 1979 Trạm vệ sinh phòng dịch tách thành 3 trạm sốt rét, Kiếm dịch và vệ sinh phòng dịch.
Đến 1/47/1985 Trung tâm vệ sinh dịch tế Hải Phòng được thành lập trên cơ sở sát nhập 3 trạm: sốt rét, Kiểm dịch và vệ sinh phòng dịch.
Đến 1/7/1985 Trung tâm vệ sinh dịch tế Hải Phòng được thành lập trên cơ sở sát nhập 3 trạm trên.
Từ năm 1997 Trung tâm mang tên mới “Trung tâm y tế dự phòng”.
… những con số biết nói…
Tuyến cơ sở:
Tất cả các quận, huyện đều có đội vệ sinh phòng dịch – sốt rét với biến chế 10 – 15 y, bác sĩ, kỹ thuật viên.
Trong những năm đánh Mỹ, các đội vệ sinh phòng dịch – sốt rét vận động nhân dân xây dựng 3 công trình vệ sinh, phòng chống dịch ở cơ sở, tổng vệ sinh, thực hiện ăn chín, uống chín và tham gia công tác 3 diệt.
Năm 1973 – 1974 đội vệ sinh phòng dịch – sốt rét Thủy Nguyên chỉ đạo xây dựng xã Lập lễ thành xã điển hình về đạt 5 dứt điểm của cả nước.
Y sĩ Đình Thành Vân là trạm trưởng đầu tiên ở Hải Phòng được tăng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”
Trong 35 năm qua 15/12 đội vệ sinh phòng dịch – sốt rét được thành phố tặng bằng khen. Đội vệ sinh phòng dịch – sốt rét quận Ngô Quyền được báo cáo điển hình toàn quốc. Trung tâm y tế An Hải là đơn vị điển hình toàn diện, được nhận cờ thi đua của Bộ. Đồng chí phó giám đốc Trung tâm y tế Ngô Quyền và giám đốc Trung tâm y tế An Hải được tặng bằng khen của Chính phủ.
Các công tác vệ sinh (VS)
Năm 1963 – 1970 chỉ đạo xây dựng 3 công trình vệ sinh (hố xí, giếng nước, nhà tắm); tham gia khử trùng tẩy uế môi trường những nơi giặc Mỹ bắn phá.
Năm 1975, Trung tâm xuất bản cuốn “Quy tắc vệ sinh thành phố” quy định các điều lệ về vệ sinh xã hội, tổ chức đo độc chất công nghiệp, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp (bụi phổi, nhiễm độc chì, ben zen, phóng xạ, đo điếc) và triển khai Thông tư 13/BYT cho tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Về vệ sinh an toàn thực phẩm: Kiểm tra trọng trách về vệ sinh an toàn thành phố, đã thẩm định 120 cơ sở sản xuất chế biến bia, nước giải khát, bánh kẹo, lương thực, thực phẩm, xử lý những cơ sở không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh.
Kiểm tra vệ sinh học đường qua các quận nội ngoại thành.
Công tác phòng chống sốt rét.
Không để dịch xảy ra và không có tử vong do sốt rét.
Trong vòng 10 năm (1973 – 1984) đã xác định được các vùng có sốt rét; đã xét nghiệm 664.188 lam máu, quản lý 114.728 bệnh nhân, điều trị cắt cơn cho 114.728 bệnh nhân; điều trị chống tái phát cho 71.468 người bệnh. Mỗi năm 1 lần tổ chức điều trị dự phòng và tiệt căn cho các bệnh nhân có tiền sử sốt rét hoặc mang ký sinh trùng.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Baygon – thuốc diệt côn trùng

Thuốc xịt muỗi Baygon tiêu diệt triệt để các loại muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết hiện đang có nhiều hướng phát triển mạnh trong mùa mưa.
Sau hơn mười năm nghiên cứu, hãng dược phẩm hàng đầu Bayer của (Đức) đã chính thức đưa ra thị trường loại thuốc xịt muỗi mới Baygon có chứa hoạt chất Transfluthrin và Cfluthrin. Đây là các hoạt chất có tác dụng mạnh trên các loại côn trùng hay như muỗi, ruồi và các côn trùng bò như gián, kiến một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, nhờ vào sự tổng hợp đặc trưng các hoạt chất Propoxur, thuốc xịt muỗi Baygon có thể kéo dài hiệu quả trong nhiều ngày.
Một trong những đặc điểm nổi bật của Baygon là việc ứng dụng hoạt chất Transfluthrin không gây hại cho người sử dụng.
Được biết các sản phẩm Baygon đã được đăng ký chính thức ở Việt Nam và cũng là sản phẩm tại Việt Nam đã đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn của Bộ y tế và Bộ nông nghiệp về tính hiệu quả đối với muỗi, gián, ruỗi, v.v… và sự an toàn cho người sử dụng cũng như người thân xung quanh.
Theo thống kê tính đến ngày 20/5/1998 có 22.334 ca mắc bệnh sốt xuất huyết trong đó 72 trường hợp tử vong. Ông Brown Smiley – Trưởng bộ phận hàng tiêu dùng – Công ty Bayer Việt Nam cho biết: “Đây là sự quan tâm của các gia đình, cũng như hãng Bayer trong việc tìm ra các giải pháp ngăn chặn các chứng sốt xuất huyết này. Chúng tôi muốn giới thiệu Baygon nhằm góp một công cụ hữu hiệu để ngăn chặn căn bệnh này”.
Cà phê gây tăng huyết áp
Tiến sĩ James Lance và nhóm nghiên cứu tại Trường đại học Duke đã tiến hành nghiên cứu 19 người có thói quen uống cà phê và đưa ra kết luận: nếu uống 4 đén 5 cốc cà phê mỗi ngày sẽ làm tăng huyết áp. Ngoài ra, lượng cafein ở cà phê sẽ tác động trực tiếp vào máu gây căng thẳng thần kinh, nhịp tim đập nhanh, có nguy cơ dứt mạch máu não, nghẽn động mạch vành.
Misoprotol có thể sinh con khuyết tật
Tiến sĩ Gonzaler và đồng nghiệp ở Sao Paulo (Brazil) đã tiến hành kiểm tra 42 đứa trẻ khuyết tật do mẹ chúng trước đây đã dùng Misoprotol để phá thai. Hầu hết những khuyết tật này là thiếu hoặc không có ngón tay, ngón chân, thần kinh bị ảnh hưởng, tràn dịch màng bào… Misoprotol không có tác dụng phá thai, ngược lại nó sẽ phá hủy tử cung, làm gián đoạn sự cung cấp máu len não bào thai. Tuy nhiên, phụ nữ Brazil rất hay dùng thuốc này để tự phá thai.
Hoàng Châm –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Góp phần nâng cao nội lực của ngành

Trường kỹ thuật thiết bị y tế là một trường dạy nghề duy nhất của Bộ y tế được thành lập từ từ năm 1973 với chức năng đào tạo công đoàn quản lý, sử dụng, bảo dưỡng các thiết bị y tế trong cả nước, đào tạo lại kỹ thuật viên trang thiết bị (TTB) cho ngành.
Những ngày đầu cơ sở, vật chất của trường còn nhiều khó khăn: nhà cấp 4, trang thiết bị, máy móc cũ kỹ chủ yếu là xin thanh lsy của các bệnh viện về giảng dạy cho học sinh, đội ngũ giáo viên hầu hết chuyển từ xí nghiệp sang… nhưng bằng sự cố gắng nỗ lực của cán bộ và nhân viên trong trường vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ đến nay cơ sở, vật chất của trường hiện đại, khang trang hơn. Trường đã trang bị được một phòng thí nghiệm điện, điện tử số hiện đại, phòng học ngoại ngữ, vi tính, thư viện và học trăm đầu máy mới, cũ phục vụ cho học sinh thực tập. Bên cạnh đó năm 1997 – 1998 trường còn kết hợp với Trường đại học Bách Khoa mở lớp cao đẳng điện tử y tế là khóa học đầu tiên của ngành TTBYT. Nếu tốt nghiệp ra trường đây sẽ là lực lượng chủ chốt, nắm các kiến thức kỹ thuật cao cấp mà ngành TTBYT đang cần như các máy X quang cao tần, điện tim nhiều cần, siêu âm chẩn đoán…
Mặc dù liên tục trong 25 năm trường đào tạo các khóa học: đào tạo chính quy theo chỉ tiêu: đào tạo lại, bổ túc kỹ thuật TBYT và mới đây đào tạo theo dự án hỗ trợ y tế quốc gia nhưng lực lượng này vẫn còn rất mỏng chưa đáp ứng được với thực tế của ngành.
Qua điều tra ở 12 tỉnh trong cả nước cho thấy số lượng kỹ thuật viên ở đây chỉ có 50 người, trình độ cao đẳng 3 người và kỹ sư có 6 người, nhưng số này cũng chưa được đào tạo về vận hành và bảo dưỡng TBYT theo lớp chính quy, mà chỉ được đào tạo theo dạng kèm cặp, vì vậy không khai thác hết được tính năng hiện có của trang thiết bị.
Y, dược, TTBYT là ba yếu tố cấu thành của ngành y tế. Người bệnh rất cần những thầy thuốc giỏi, cần thuốc tốt nhưng cũng rất cần những trang bị y tế hiện đại. Y và dược đã có rất nhiều trường đào tạo và được hình thành từ lâu, nhưng ngành TBYT tuy đã phát triển song duy nhất chỉ có một trường đào tạo trong khi nhu cầu nhân lực của ngành rất lớn. Chúng ta có hàng trăm bệnh viện đa khoa, gần ngàn bệnh viện huyện và ngành. Được biết nếu chính sách quốc gia về TTBYT được công bố trong thời gian tới thì mục tiêu cụ thể đến năm 2005 phải đảm bảo đủ TBYT thiết yếu cho các tuyến từ cơ sở đến trung ương thì nhân lực kỹ thuật để sử dụng có hiệu quả những TTBYT này phải được đào tạo cơ bản không những đủ về số lượng mà phải cả về chất lượng. Hơn nữa ngày nay với các TBYT ngày càng hiện đại thì việc đào tạo người biết sử dụng, bảo dưỡng nó lại cần hơn bao giờ hết. Vì vậy theo hiệu trưởng Bùi Đình Kiên thì việc đầu tư về con người như đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên đủ mạnh về số lượng và chất lượng, đầu tư về cơ sở vật chất hiện đại để xứng với tầm của một trường quốc gia là vấn đề cấp thiết để trường có thể thực hiện tốt hơn nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho như: thực hiện một trong năm nhóm chương trình của Bộ y tế đề ra đến năm 2000 đó là nhóm chương trình kỹ thuật y tế đưa kỹ thuật y tế xuống tuyến trước… và thực hiện các chỉ tiêu cụ thể của trường.
Thu Hương –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Án mạng và những số phận bên lề vụ án – Phần 3

9 giờ sáng ngày 4/7/1998, có cơ quan chức năng dự, cơ quan cảnh sát điều tra mời đại diện gia đình nạn nhân đến trụ sở công an tỉnh để sơ bộ thông báo kết quả giám định pháp y thi thể nạn nhân rằng: “nạn nhân vô tội” – có nhiều vết thương ở môi trái, cổ, sườn trái, 2 đầu gối, não phù nề xuất huyết, tim, phổi xuất huyết và pháp y có lấy các mẫu phẩm gồm não, tim, gan, phổi, dạ dày”…
Đến 6 giờ chiều 13/7/1998, phó trưởng phòng cảnh sát bảo vệ (PC22) Công an tỉnh Khánh Hòa là Trần Hùng, đến nhà gặp bố mẹ nạn nhân xin phép cho bố mẹ của Huỳnh Văn Thái, một trong 2 cảnh sát đánh chết Phan Tiến Sang, được đến thắp nhang lên bàn thờ Sang. Và đến 8 giờ sáng hôm sau – 14/7/1998, bố mẹ của Thái đã nói: “Mong bà nguôi ngoai nỗi buồn đau vì cháu Sang đã chết rồi”…
Tóm lược trình tự diễn biến của vụ án chỉ có vậy nhưng bên lề của vụ án hình sự này, lại là hàng loạt số phận con người rất đáng quan tâm. Cha, mẹ, chị, em, bạn hữu… của người bị cảnh sát đánh chết oan là Phan Tiến Sang. Ông bà cha mẹ, anh chị em và bản thân Vũ Khánh Phương, sinh năm 1972, công nhân chi nhánh Tổng công ty vận tải biển, thường trú tại số 61 – Yết Kiêu – Nha Trang người bị cảnh sát đánh bầm tím mặt, mũi, cằm, dập môi, gãy răng, toác chân mày, thâm đùi, xước da bàn tay bàn chân, đau buốt lồng ngực, thái dương (theo giấy chứng thương của bệnh viện tỉnh) và suýt chết. Số phận của họ sẽ ra sao khi họ mất hẳn “trụ cột kinh tế của gia đình”, khi các vết thương do bị đánh tái phát, di chứng, dẫn đến ốm đau, tật nguyền, tử vong… Và còn nhiều người khác nữa như ông đạp xích lô, chị bán chảo gà, anh đội viên dân phố, các y bác sĩ, những ông già hưu trí, cựu chiến binh, những bà mẹ có con bị đánh chết oan lâu nay chưa được làm rõ… đã trực tiếp chứng kiến hoặc nghe kể lại vụ án mạng hình sự này đều có chung một “hội chứng phẫn nộ, lo lắng” – Sao cái sự giết oan một con người lại diễn ra công khai, dễ dàng mau lẹ đến thế và có phải đâu đây chỉ là lần đầu, nạn nhân đầu tiên. Và rồi con người ta bị đánh chết oan hết lần này lượt khác mà kẻ phạm tội vẫn chưa bị pháp luật trừng trị thích đáng, nay mai không may, điều ác ập đến với con mình thì sẽ ra sao đây…
Từ hôm anh Phan Tiến Sang, con trai trưởng của ông Phan Tiến Cường bị cảnh sát đánh chết một cách oan uổng, ông nằm liệt, lặng im trên chiếc ghế phô – tơi cũ kỹ như một cái bóng không hồn. Vậy cái dạng bệnh “đột quỵ khác biệt” này sẽ được ai cứu chữa và cứu chữa bằng cách nào đây cho dứt được. Còn đối với bà Phạm Thị An, mẹ của Phan Tiến Sang, từ hôm đến góc sân kho lưu trữ hồ sơ do cảnh sát bảo vệ trong cổng số 4 Phan Chu Trinh, nơi con bà bị đánh chết oan, để làm lễ cầu hồn cho con trai sau 7 ngày, đấng linh thiêng nào giúp bà tìm thấy lại được con mình khi chiếc đồng hồ SEIKO của con trai bị dừng hẳn vào thời điểm 22 giờ 20 phút đêm ngày 2/7/1998, đến nay bà bị suy sụp nặng về tâm thần. Lại một dạng “đột quỵ đặc biệt” nữa rất khó chạy chữa. Cầu mong trời Phật phù hộ làm sao cho các ca bệnh “đột quỵ” này đừng xuất hiện thêm nữa.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Án mạng và những số phận bên lề vụ án – Phần 2

Cùng lúc đó thì Phan Tiến Sang (công nhân Nhà máy bia Rồng Vàng) đi chiếc xe Dream II mang biển số 79 – 312G ngang qua trước cổng số 4 Phan Chu Trinh thấy có đám đông tụ tập, nghe dân nói cảnh sát đang đánh người, Sang liền dắt xe máy lên vỉa hè, khóa cổ xe lại, rồi đi ngay vào sát phía cổng số 4 – Phan Chu Trinh. Sau khi quan sát rõ cảnh nhiều cảnh sát đang xúm vào đánh một người nằm sóng soài trên mặt sân, gần cổng, Phan Tiến Sang phẫn uất can thiệp bằng một câu nói mà nhiều người dân có mặt quanh đấy đều nghe: “Chuyện đâu còn có đó, sao cảnh sát lại đánh người dữ vậy”, thì liền bị 2 cảnh sát là Huỳnh Văn Thái và Nguyễn Thành Thái xông ra khóa ngoặt tay, lôi Sang vào trong, khép cổng lại và xúm đến dùng binh khí chuyên ngành đánh chết Sang trong òng vài ba phút ngay trên nền sân của điểm mục tiêu bảo vệ. Lúc này vào khoảng hơn 22 giờ đến 2/7/1998.
Ngay sau khi Sang đổ gục xuống, nhiều công an của phường Xương Huân, thành phố Nha Trang và Phòng cảnh sát bảo vệ (PC22) Công an tỉnh kéo tới số 4 Phan Chu Trinh, tiếp đến, người ta điều đến đây 2 tiểu đội dân phòng khoảng 20 đội viên do Ngô Tảo, đội trưởng an ninh phường chỉ huy. Nhưng chẳng hiểu vì sao công an, dân phòng có mặt khá đông như vậy, và nơi đây cách bệnh viện tỉnh chẳng bao xa, mà mãi đến khoảng 22 giờ 30 phút người ta mới cử một anh dân phòng tên là Võ Ngọc Dũng gọi xe xích lô chở nạn nhân đến Bệnh viện trung tâm tỉnh Khánh Hòa vào lúc 22 giờ 40 phút ngày 2/7/1998. Tại khoa cấp cứu bệnh viện tỉnh, phiếu nhập viện (số 1) do bác sĩ trực Huỳnh Văn Thưởng ký, ghi: họ và tên nạn nhân: chưa rõ; chết ngoài viện (theo tự vệ phường báo cáo lại do bị người khác đánh); hiện tại: nạn nhân ngừng tim, ngừng thở, đồng tử dãn to 5 ly không đáp ứng ánh sáng; nghi do bị đánh; kính chuyển vào Nhà Đại thể…
Đến 1 giờ sáng ngày 3/7/1998, một cảnh sát giao thông của Công an thành phố Nha Trang đến khoa cấp cứu bệnh viện tỉnh xin ký nhận 3 chiếc chìa khóa xe máy tìm thấy từ túi quần nạn nhân đang mặc, để đến mở khóa cổ chiếc xe Dream II mang biển số 79 – 312G của nạn nhân dựng trên vỉa hè gần cổng số 4 – Phan Chu Trinh, đưa xe về nơi tạm giữ, sau khi đã xác nhận rõ tên chủ nhân xe. Đến 9 giờ sáng ngày 3/7/1998, mổ tử thi (chưa rõ tên) tại Nhà Đại thể bệnh viện tỉnh để giám định pháp y – theo Quyết định trưng cầu giám định pháp y số 77 của CSĐT Công an tỉnh Khánh Hòa, do đại úy Nguyễn Viết Định, trưởng phòng, ký ngày 3/7/1998.
15 giờ chiều 3/7/1998 một cảnh sát điều tra đến nhà ông Phan Tiến Cường (cha của nạn nhân) gọi người đại diện đến trụ sở Công an tỉnh để nhận dạng bộ quần áo nạn nhân mặc khi bị đánh chết (đã giặt sạch, là khô, không có vết máu); và đến tiếp phòng đông lạnh Nhà Đại thể để nhận dạng thi thể nạn nhân (đã bị mổ xẻ và khâu lại nhiều vết, không có máu, miệng không ngậm được và khâu khóe môi có dịch màu hồng).
17 giờ ngày 3/7/1998, Công an đến báo lại cho khoa cấp cứu bệnh viện tỉnh biết; họ à tên nạn nhân đưa tới nhập viện lúc 22 giờ 40 đêm ngày 2/7/1998 là Phan Tiến Sang, sinh năm 1973 nghề nghiệp: công nhân nhà máy bia Rồng Vàng, địa chỉ: số 7 Nguyễn Chánh, thành phố Nha Trang. Trưởng khoa cấp cứu là bác sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã ghi lại phiếu nhập viện (số 1 – chưa rõ tên nạn nhân). Nhưng sao chẳng hiểu vì sao hiện nay ở phòng hành chính bệnh viện tỉnh chỉ còn lưu độc nhất một cuống phiếu nhập viện (số 1 – chưa rõ tên nạn nhân).?
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Án mạng và những số phận bên lề vụ án – Phần 1

Ca “đột quỵ” này cứu chữa sao đây?
Lá đơn kêu cứu khẩn cấp của ông Phan Tiến Cường và bà Phạm Thị An, cha mẹ của nạn nhân Phan Tiến Sang, gửi đến cấp lãnh đạo cao nhất, các ngành pháp luật, các ngành hữu quan và các cơ quan truyền thống, từ thành phố Nha Trang ngày 8/7/1998, tòa soạn báo Sức khỏe và Đời sống nhận được ngày 12/7/1998. Nhóm phóng iên xã hội của báo được phân công tìm hiểu kỹ tình tiết của vụ việc này để khi cần thiết có thể phản ánh lên mặt báo một cách sát hợp – đang triển khai công việc nghiệp vụ thì đã có một vài tờ báo của trung ương đưa tin nhanh ban đầu về vụ này và đến ngày 19/7/1998, báo Khánh Hòa, số 28/98 (trang 1) đã đưa tin lược thuật “Về vụ án đêm 2/7 tại đường Phan Chu Trinh – Nha Trang”, có đoạn cho biết… Theo lời khai của Huỳnh Văn Thái với cơ quan điều tra thì Huỳnh Văn Thái và Nguyễn Thành Thái (cả hai đều là cảnh sát thuộc Phòng cảnh sát bảo vệ – PC22 – Công an tỉnh Khánh Hòa) đánh Sang ngã xuống ngất xỉu tại chỗ, sau đó tử vong… Ngày 3/7/1998, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và bắt giam 2 cảnh sát là Huỳnh Văn Thái à Nguyễn Thanh Thái và điều tra, xử lý theo pháp luật”…
Như vậy là ụ án hình sự này đã được khởi tố, các can phạm đã bị bắt giam để điều tra làm rõ tội trạng và đưa ra xét xử… còn “những người ben lề vụ án”, nhóm phóng viên muốn tiếp xúc rộng rãi với những đầu mối, tình tiết có liên quan đến vụ án, đặc biệt là các đầu mối thuộc quyền ngành y tế quản lý như các khâu nhập viện, cấp cứu, khám và chứng thương, bảo quản thi thể nạn nhân (khi cần), giám định pháp y tử thi… để có thể hiểu rõ sự thật diễn biến của vụ án và bản chất sự thật của mọi tình thiết, chứng cứ.
Kết quả của hàng loạt cuộc tiếp xúc có thể được tóm tắt lại như sau: Đang trong mùa World Cup – France 98, ở khu vực Bãi Dương sát biển dọc đường Trần Phú – Thành phố Nha Trang thường có dòng người, nhiều xe xuôi ngược vào ban đêm. Vào khoảng 21 giờ tối 2/7/1998, tại đây đã xảy ra một vụ va quẹt xe máy và dẫn đến cãi vã, xô xát sơ sơ giữa mấy thanh niên – một bên là Huỳnh Thanh Trà, đi chiếc xe loại Wane và bên kia là Vũ Khánh Phương, Nguyễn Hữu Toàn và Lê Minh Quý đi 2 chiếc xe máy loại Dream II. Liền sau đó, Phương, Toàn Quý cùng đi về hướng Ngã 6 Lê Lợi – Hàn Thuyên – Phan Chu Trinh để ăn quà đêm – Còn Trà thì đến ngay trụ sở Công an tỉnh Khánh Hòa ở số 78 đường Trần Phú tìm gặp anh ruột là Huỳnh Văn Thái, cảnh sát, thuộc Phòng cảnh sát bảo vệ (PC22) để nhờ cậy can thiệp chuyện đụng độ vừa xảy ra, nhưng được một đồng đội của anh mình là được một đồng đội của anh mình là Nguyễn Thế Vinh cho biết Thái đã chuyển về làm công tác bảo vệ thuộc tiểu đội cảnh sát bảo vệ kho lưu trữ hồ sơ của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ở số 4 đường Phan Chu Trinh, nên Trà liền nhờ anh Vinh chở đến đây tìm gặp được Thái. Đáp ứng yêu cầu của em ruột mình, Huỳnh Văn Thái đã rủ thêm 2 đồng đội và Nguyễn Thành Thái và Đào Xuân Dũng cùng xông ra đường sục tìm tốp thanh niên kia, tình cờ lúc đến gần Ngã 6, 3 cảnh sát này gặp họ, liền chặn lại ngay, nhưng Toàn, Quý đã chạy trón được còn Phương thì bị bắt giữ, tốp cảnh sát này dùng võ thuật vặn tay Phượng trói ngoặt về phía sau lưng rồi dẫn vội vào trong cổng số 4 đường Phan Chu Trinh, xúm nhau đánh tới tấp vào đầu, mặt, thái dương và các chỗ hiểm khác trên người Phương cho đến ngất xỉu.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Phấn đấu để hạ thấy bền vững tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em – Phần 3

Tập trung các hoạt động vào khoảng thời gian có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao nhất cụ thẻ là 2 năm đầu tiên. Đó là thời gian trẻ phát triển nhanh, nhiều thay đổi về ăn uống (từ bú mẹ thuần túy chuyển sang ăn bổ sung), cơ thể đáp ứng kém với các tác nhân có hại của môi trường nên dễ mắc bệnh đặc biệt là ỉa chảy rồi suy dinh dưỡng.
Thực hiện tích cực một nhóm các hoạt động chăm sóc tối thiểu tại hộ gia đình cho các đối tượng bà mẹ có thai và cho con bú, trẻ em dưới 2 tuổi (nuôi con bằng sữa mẹ, uống Vitamin A, viên sắt và axit folic, tô máu bát bột, xử lý đúng đắn các bệnh thường gặp ở trẻ em, theo dõi biểu đồ tăng trưởng…).
Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thông nhằm nâng cao nhận thức chung của cộng đồng về vấn đề quan trọng này đồng thời với việc hướng dẫn các hành vi cụ thể thích hợp với các đối tượng, các vùng sinh thái khác nhau. Phòng chống suy dinh dưỡng là ưu tiên hàng đầu nhưng cũng cần cảnh báo kịp thời hiện tượng “thừa cân” ở trẻ em đang có khuynh hướng tăng nhanh ở một số vùng đô thị.
Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng đòi hỏi phải được xã hội hóa cao. Thuận lợi lớn của ngành y tế là có đội ngũ cán bộ chuyên môn mạnh, mạng lưới rộng khắp nhưng như vậy chưa đủ. Sự tham gia tích cực của các ngành các đoàn thể nhất là hội phụ nữ dưới sự quan tâm phụ trách, chỉ đạo của các cấp đảng, chính quyền là đòi hỏi cần thiết: kinh nghiệm nhiều nước cho thấy thu nhập bình quân không liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em bằng tỷ lệ biết chữ của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, vai trò của họ ở gia đình. Các hoạt động của chương trình phòng chống suy dinh dưỡng cần được phủ dều toàn quốc nhưng đối với các vùng khó khăn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao cần có các giải pháp ưu tiên và được chỉ đạo chặt chẽ hơn.
Củng cố mạng lưới giám sát dinh dưỡng ở các cấp, coi các chỉ tiêu về tình trạng dinh dưỡng trẻ em nằm trong yếu tố các chỉ tiêu cơ bản về phát triển kinh tế xã hội.
Sự ra đời của Kế hoạch hành động quốc gia về dinh dưỡng 1995 – 2000 và chương trình mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng chứng tỏ Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến nhiệm vụ cải thiện và nâng cao chất lượng thế hệ tương lai nhưng để đạt mục tiêu hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em tới 30% vào năm 2000 và 15% vào năm 2020 sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền các cấp và việc lựa chọn đúng, thực hiện nghiêm túc các giải pháp thích hợp có ý nghĩa quyết định.
GS. TS. Hà Huy Khôi – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Phấn đấu để hạ thấy bền vững tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em – Phần 2

Ở nước ta trong 10 năm qua, thành tựu to lớn là đã giảm hẳn được tỷ lệ mắc các thể suy dinh dưỡng nặng như suy dinh dưỡng thể phù, thể teo đét, bệnh khô mắt do thiếu vitamin A gây mù lòa… Các thể suy dinh dưỡng vừa và nhẹ (thấp bé nhẹ cân) cũng giảm rõ rệt: năm 1985 tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi là 51,5% hiện nay là 40%. Như vậy trong hơn 10 năm chúng ta giảm được 11% số trẻ suy dinh dưỡng, so với các nước tiên tiến như Thái Lan, Trung Quốc thì không bằng nhưng so với nhiều nước Nam Á (mà Ấn Độ, Băng la đét là chính) thì ta khá hơn, (các nước này trong thời gian đó chỉ giảm được 4%). WHO đã nhận định Việt Nam nằm trong số các nước có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em đang giảm nhanh, nhưng vì điểm xuất phát của chúng ta thấp (51,5%) nên hiện nay tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vẫn còn cao.
Phấn đấu để hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em là một việc làm cần thiết và cấp bách vì con người là động lực của sự phát triển, trẻ em là tài sản quý giá nhất của tương lai. Từ năm 1994, Nhà nước ta đã cho triển khai chương trình mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em do Ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em chủ trì triển khai và từ năm nay (1998) giao sang Bộ y tế. Hoạt động của chương trình đã có một số thành tựu nhất định, nhưng so với mốc 30% ở năm 2000 hãy còn một khoảng cách khá xa đòi hỏi những nỗ lực rất lớn. Suy dinh dưỡng trẻ em gắn liền với nghèo đói và lạc hậu, nhưng không phải chỉ đủ gạo ăn là khắc phục được mà phải thay đổi hành vi của cộng đồng về chăm sóc người mẹ, cách nuôi con, cách xử trí các bệnh thường gặp ở trẻ em. Các chương trình dinh dưỡng dựa vào phân phối thực phẩm (thức ăn bổ sung) chỉ thích hợp trong các thời kỳ khan hiếm thực phẩm hoặc ở các vùng nghèo, khó khăn còn chủ yếu vẫn phải đẩy mạnh nâng ca kiến thức của cộng đồng về dinh dưỡng hợp lý cho trẻ em và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe lồng ghép cho lứa tuổi này.
Đầu tư thích đáng cho chương trình và bền bỉ thực hiện là cần thiết nhưng trong điều kiện kinh phí còn hạn chế, chúng tôi kiến nghị nên tập trung vào các giải pháp chính sau đây:
Thực hiện phương châm bảo đảm trẻ em sinh ra khỏe mạnh, đủ cân được chăm sóc để không bị suy dinh dưỡng là chính. Với phương châm này, các hoạt động cần tập trung vào chăm sóc người mẹ có thai để giảm nguy cơ trẻ sinh ra bị thiếu cân, thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý. Cách ăn bổ sung tùy thuộc theo tập quán. Ở Việt Nam cho ăn bổ sung quá sớm và không hợp lý là nguyên nhân quan trọng của suy dinh dưỡng trong khi đó như ở Ấn Độ nguyên nhân suy dinh dưỡng lại là cho ăn bổ sung quá muộn! Đối với những trẻ đã bị suy dinh dưỡng cần tìm nguyên nhân để lựa chọn can thiệp thích hợp, tích cực.
GS. TS. Hà Huy Khôi – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998