Án mạng và những số phận bên lề vụ án – Phần 1

I – Tai biến bất thường của một người bệnh!
“Ông Cường, đúng là ông Phan Tiến Cường rồi… Nhưng sao mới đấy mà trông ông hốc hác, tiều tụy và thần sắc nhợt nhạt đến thế”… Ông Thanh, một người bạn già hưu trí của ông một người bạn già hưu trí của ông Cường, khi đang dạo chơi ngang qua cửa nhà số 7, đường Nguyễn Chánh, thành phố Nha Trang (Khánh Hòa), nhà của ông Cường, đột nhiên đứng lặng người và thầm nghĩ vậy; rồi ông rủ ông Nguyễn Lân, tổ trưởng tổ dân phố số 31, Khóm 9 – tổ dân phố của ông Cường, cùng vào nhà ông Cường thăm bạn. Tuy đang bị một cơn đau buồn xé gan xé ruột, nhưng gặp được bạn già tâm đắc, ông Cường cũng cố gắng ngồi được khá lâu để nói về số phận, về những điều bất hạnh của cuộc đời mình… Giọng của ông nhiều lúc trầm xuống, lạc hẳn đi và thều thào đứt quãng khiến người nghe cũng nghẹn ngào, uất ức nhói đau như người kể.
Ông Cường năm nay bước vào tuổi 65, quê quán tại xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang. Cuộc đời ông cơ cực, vất vả, long đong cho đến già và có nhiều chặng buồn. Ông có ba anh chị em, ông là em út, cha mẹ chết sớm, nên cảnh đời mồ côi vùi dập mất niềm vui của tuổi nhỏ. Anh cả của ông là ông Phan Văn Chánh, một thương binh dũng cảm, được tặng thưởng Huân chương. Còn chị gái là bà Phan Thị Nghê, một nữ du kích bị địch bắt đến bảy lần vẫn không xa rời đội ngũ và có chồng là liệt sĩ – Noi gương sáng của anh chị, năm 14 tuổi, ông Cường đã tình nguyện vào du kích, tham gia chiến đấu được 12 trận thì 2 bị bị bọn lính đồn Xuân Lạc, đồn Đồng Dài bắt nhốt tù đến 3 năm rưỡi, mới trốn thoát được lên chiến khu để vào bộ đội. Cuối năm 1954, ông Cường cùng đơn vị là Tiểu đoàn 88 – Khánh Hòa tập kết ra Bắc và được sung và Trung đoàn 90, Sư đoàn 324. Năm 1957, ông được trên cho đi học lái xe kéo pháo và sau khi ra trường được thuyên chyển về Trung đoàn pháo binh 45, đóng tại Sơn Tây – chính ở đây, năm 1959, ông được kết nạp Đảng và sau đó theo chủ trương của Chính phủ chuyển 8 vạn quân sang lao động xây dựng kinh tế, đất nước ông được chuyển về làm công nhân lái xe của Mỏ Hà Tu, Quảng Ninh. Là đội trưởng lái xe, Bí thư chi bộ, thư ký công đoàn mỏ, nhiều năm liền ông Cường được bầu là chiến sĩ thi đua, nhưng đến năm 1970 thì ông gặp một điều không may rất buồn. Lúc này, ông đã có 4 đứa con còn nhỏ và đều là gái. Lương thợ mỏ làm sao trang trải đủ ăn cho cả nhà, nên ngày nghỉ và đêm ông lại phải tranh thủ phát rẫy tăng gia, kiếm thêm nguồn lương thực nuôi con. Và rồi, vào một đêm tối trời, không may ngọn lửa đốt rẫy bị trở gió cháy lẹm sang rừng thông, suýt nữa ông Cường bị xét xử phạt tù.
Thoát họa, cuối năm 1972 ông Cường vui vẻ tình nguyện xin trở về quê hương miền Nam chiến đấu, lái xe cho Văn phòng Khu ủy Khu 5. Chính vào thời điểm này, ông có thêm đứa con thứ 5, đứa con trai đầu tiên sinh vào năm 1973, được vợ ông là bà Phạm Thị An, đặt tên là Phan Tiến Sang, mà về sau này ông mới biết và mới hưởng được niềm vui lớn “Nhất nam viết hữu”… Đến mùa xuân 1975, sau ngày miền Nam, giải phóng thì ông Cường được chuyển về công tác ở Văn Phòng Tỉnh ủy Khánh Hòa và cũng được cử làm đội trưởng đội xe, Bí thư chi bộ, Thư ký công đoàn cơ sở nhiều năm liền và cho đến năm 1991 thì ông được nghỉ hưu theo chế độ.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nước uống có clo với bệnh ung thư đại tràng

Đó là câu hỏi được nêu lên trong một cuộc điều tra tiến hành ở lowa (Mỹ). Qua thăm hỏi gần 30.000 phụ nữ mãn kinh, các nhà nghiên cứu nhận thấy nguy cơ mắc ung thư đại tràng cao nếu uống có độ clo càng mạnh. Sau khi loại bỏ các yếu tố có thể làm sai lệch nhận xét trên, người ta đã ghi nhận nguy cơ mắc bệnh tăng lên 68% khi nước có độ tập trung clo từ 14 đến 287 microgram trong 1 lít nước.
Bạn hãy thử xem
Việc xoa ấn các huyệt trên cơ thể nhằm mục đích dưỡng sinh, duy trì và tăng trường sức khỏe. Làm cho con người luôn giữ sự cân bằng hài hòa và kinh nghiệm lâu đời của nước phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc.
3 huyệt vị quan trọng của con người bách hội ở đỉnh đầu dũng truyền ở bàn chân và khí hải ở vùng rốn. 3 huyệt vị này nếu được kích thích thường xuyên sẽ làm cho mạch toàn thân nối thông suốt, máu lưu thông, khí huyết trao đổi đầy đủ dẫn đến toàn thân được cân bằng hài hòa, trao đổi chất tốt, đều hơn. Cách làm như sau:
Sáng dạy: dùng các ngón của bàn tay được làm chải đầu nhẹ nhàng đều dần từ sau đỉnh đầu ra trước. Số lần trải 108 lần.
Trước khi ngủ: dùng gan bàn tay hoặc các ngón tay khép chặt xoa bụng theo chiều kim đồng hồ 54 lần, xoa ngược lại chiều kim đồng hồ 54 lần nữa, tổng cộng 108 lần cả hai chiều xoa. Xoa nhẹ nhàng đều, không ấn quá mạnh. Thường xoa vòng quanh và rốn là được.
Xoa gan bàn chân: dùng đầu ngón tay hay gan bàn tay xoa. Dùng tay phải xoa ấn lòng bàn chân trái 54 lần, dùng gan bàn tay cái xoa ấn lòng bàn chân phải 54 lần. Dùng sức ấn xoa đều và nhẹ nhàng. Có thể xoa đến khi thấy nóng bàn chân, cảm thấy dễ chịu là được. Xoa gan bàn chân thường dùng trước khi đi ngủ, nhưng có thể thực hiện vào bất cứ lúc nào trong ngày cũng được nhưng làm vào buổi tối tốt hơn. Cũng có thể làm vào sáng sớm.
Thời gian cho các lần xoa 3 huyệt vị này thường chừng 10 phút là được.
Tác dụng: Theo kinh nghiệm dân gian, nếu làm thường xuyên sẽ làm cho con người có tinh thần thoải mái, dễ chịu, phòng được một số chứng như uể oải, ăn khó tiêu, đi táo, thần kinh quá căng thẳng. Cũng có người cần nói chữa được cả chứng tóc bạc, đau dạ dày nữa…
Xin giới thiệu để các bạn tham khảo và thử xem.
Hồng Phan –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Mang thai và làm mẹ

Khi người phụ nữ bắt đầu mang thai là đã nhận một trách nhiệm thiêng liêng là phải tạo mọi điều kiện để bào thai tượng hình và phát triển đầy đủ. Trong 3 tháng đầu kể từ khi tắt kinh, bào thai từng giờ từng phút hình thành các bộ phận trong cơ thể. Từ móng tay, sợi tóc đến các bộ phận quan trọng như não, tim, gan, bộ máy sinh dục đều phải được tượng hình đúng lúc, nếu có tác nhân không thuận lợi sẽ bị khiếm khuyết.
Thời gian 3 tháng đầu mang thai tuy ngắn (chỉ có 90 ngày) nhưng rất quan trọng đối với cả cuộc đời của trẻ. Nếu vì lý do gì, sự tạo hình bị rối loạn thì mẹ có thể sảy thai hoặc con sinh ra dị dạng.
Bất cứ bệnh gì ở mẹ cũng trực tiếp ảnh hưởng đến thai như sốt rét, nhiễm vi rút, bệnh lao, bệnh thận, v.v…
Bất cứ thuốc gì dùng cho mẹ ít nhiều đều ảnh hưởng đến sự tạo hình của thai. Vì vậy nếu không cần thì không nên uống thuốc kể cả thuốc bổ.
Các loại thuốc gây nghiện như rượu, thuốc lá, ma túy… đều ảnh hưởng trực tiếp đến bào thai. Nếu mẹ nghiện ma túy con đẻ ra thường thiếu cân dễ bị dị tật và ngu đần cũng như thiếu chất I ốt.
Muốn thai tạo hình đầy đủ và sau này thông minh thì khi mang thai người mẹ cần ăn đủ – “ăn cho cả hai người”. Ngoài chất bột nên có rau, hoa quả, thị cá trứng dầu mỡ. Có thể nói một cuộc sống ổn định, tâm hồn thanh thản, trong sáng của người mẹ có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của thai.
Sau 3 tháng bào thai đã tượng hình xong, hình thành trai hay gái. Từ tháng thứ 4 đến khi thai đủ 9 tháng, thai cần được cung cấp đủ chất dinh dưỡng từ mẹ để thai dài được 48 – 50 cm và nặng trung bình từ 2.800 – 3.000. Thức ăn của mẹ cần có lượng vitamin D gấp 3 lần ngày thường. Vitamin D cung cấp cho mẹ phần nhiều qua da dưới tác dụng của ánh nắng buổi sáng. Vì vậy người phụ nữ khi có thai cần ra ngoài trời, tắm nắng, để sau khi đẻ đỡ bị sâu răng hoặc đau lưng, nhức xương do thiếu vitamin D. Trong quá trình mang thai người mẹ tăng cân dần dần, từ 5 tháng trở đi tăng cân nhanh, từ khi mang thai đến trước khi đẻ tăng từ 9 đến 12 kg.
Tóm lại, việc chăm sóc bảo vệ trẻ em từ khi còn là bào thai rất quan trọng và cần thiết để tránh tình trạng sẩy thai, đẻ non, thai chết hoặc suy dinh dưỡng trong bụng mẹ, hạn chế ra đời, những trẻ ốm yếu. Người mẹ còn cần bồi dưỡng tốt để con khỏe, mẹ có đủ sức khỏe để “vượt cạn” sau này”.
BS. Lương Thị Bích – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Hội thảo quốc gia về phòng chống các bệnh giun sán

Các bệnh giun sán ở Việt Nam có tỷ lệ nhiễm rất cao, đặc biệt là các bệnh giun đường ruột. Tỷ lệ phối hợp từ 2 đến 3 loại giun ở miền Bắc có thể tới trên 60% dân số. Toàn quốc ước tính có khoảng 60 triệu người bị nhiễm giun đũa, 40 triệu người bị nhiễm giun móc, 40 triệu người bị nhiễm giun tóc. Khoảng hơn 6 triệu người bị nhiễm giun chỉ, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Khoảng 5 triệu người nhiễm sán lá gan nhỏ tập trung ở các tỉnh đồng bằng miền Bắc và miền Trung, khoảng 5 nghìn người bị nhiễm sán lá phổi tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Trước tình hình đó Bộ y tế đã có quyết định 288/1998/QĐ – BYT ngày 11/2/1998 đưa công tác phòng chống giun sán thành dự án cấp Bộ. Mục tiêu dự án là giảm cường độ nhiễm, hạn chế tác hại của bệnh đối với sức khỏe trẻ em và nhân dân; giảm tỷ lệ nhiễm các bệnh giun sán nói chung và tiến tới khống chế bệnh giun chỉ và một số bệnh sán có tính chất khu trú ở một số địa phương. Tại hội thảo quốc gia về phòng chống các bệnh giun sán (tổ chức ngày 7 và 8/7/1998) đã có hơn 20 báo cáo và tham luận tập trung chủ yếu vào các vấn đề: tình hình bệnh giun sán hiện nay ở Việt Nam và phương hướng kế hoạch phòng chống các bệnh giun sán 1998 – 2000 và đến 2005.
Tổng công ty dược Việt Nam
Phấn đấu cơ bản đạt GMP vào năm 2000 – 2001
5 tháng đầu năm nay, Tổng công ty dược Việt Nam đã đạt giá trị sản xuất gần 236 tỷ đồng, bằng 40,3% kế hoạch năm, tăng 30,6% so với cùng kỳ năm trước. Về các mặt như: kim ngạch xuất nhập khẩu, doanh số cũng điều tăng từ 30% trở lên so với cùng kỳ năm trước. Ông Nguyễn Trọng Đề – Tổng giám đốc Tổng công ty dược Việt Nam cho biết: Hiện nay Tổng công ty đang cải tạo, xây dựng nâng cấp từ 2 đến 3 đơn vị GMP; đặc biệt chú trọng tới các dây chuyền thuốc viên, tiêm, mỡ. Điều quan trọng là từ nay đến năm 2000 – 2001 cố gắng đạt cơ bản GMP trong toàn Tổng công ty.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Sức sống của một dự án

Dự án kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) Việt Nam giai đoạn mở rộng (từ tháng 11 – 1996 đến tháng 8 – 1998 do Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hiệp hội Kế hoạch hóa gia đình Australia, AusAIDS và PDI phối hợp thực hiện đã thực sự góp phần nâng cao hiểu biết, khuyến khích phụ nữ và nhân dân thực hiện Kế hoạch hóa gia đình, nâng cao sức khỏe và đời sống ở cộng đồng.
Tạo 10 xã mới của 5 huyện cũ thuộc các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình và Thái Nguyên, so với trước dự án, tỷ lệ phụ nữ mong muốn có 4 con trở lên đã giảm từ 15,5% xuống 14,5% tỷ lệ có 4 con trở lên giảm 25,1% xuống 18,3%; tỷ lệ phụ nữ có thai đi khám thai đủ 3 lần tăng 21,3% lên 34,4%, số khám 1 lần trong suốt thời kỳ thai nghén giảm từ 37,4% xuống 21%; tỷ lệ phụ nữ đẻ ở nhà giảm từ 21,4% xuống còn 10%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại trạm y tế có nữ hộ sinh đỡ từ 78,6% twang 90%; tỷ lệ nạo hút thai 2 lần giảm từ 22,4% xuống 18,1%, nạo hút thai 3 lần trở lên giảm từ 5,6% xuống 4,3%; tỷ lệ phụ nữ hiểu biết về vòng kinh và biện pháp tránh thai (BPTT) tăng (đặc biệt việc dùng viên thuốc tránh thai, bao cao su, đình sản); tỷ lệ dùng Biện pháp tránh thai tăng rõ rệt: các cặp vợ chồng tự lựa chọn Biện pháp tránh thai phù hợp với hoàn cảnh của mình. Chị em được hỏi đã biết được đối tượng nào mắc, vì sao mắc và cách phòng tránh các bệnh phụ khoa thông thường, các bệnh lây theo đường sinh dục kể cả HIV/ AIDS, các bệnh nhiễm trùng đường ruột, biết xử lý vệ sinh nước, phân bắc; biết sử dụng phân ủ cho cây trồng, biết sử dụng các nguồn nước hợp vệ sinh. Có được kết quả đó phải kể đến vai trò của các nhóm phụ nữ tiết kiệm (PNTK) trong hoạt động giáo dục truyền thông ở cộng đồng: Thông qua vay vốn, hướng dẫn kỹ thuật (trồng trọt, chăn nuôi, làm vườn) chị em có điều kiện tiếp cận với các thông tin về Kế hoạch hóa gia đình, về sức khỏe, vệ sinh môi trường; cùng chia sẻ những suy tư, bàn bạc, lựa chọn Biện pháp tránh thai, phù hợp, tham gia phân phối phương tiện tránh thai. Rõ ràng cuộc vận động không thuần túy ở mục tiêu Kế hoạch hóa gia đình mà là một dự án lòng ghép vấn đề Sức khỏe sinh sản và các vấn đề xã hội, kinh tế, văn hóa; lồng ghép dân số với cộng đồng, với phát triển; dân số với việc chuyển giao kiến thức làm ăn, vay vốn làm kinh tế gia đình. Thành công của dự án không dừng lại ở việc giảm sinh, mà đời sống của phụ nữ, của gia đình họ cũng được nâng lên.
Dự án đã kết thúc, chấm dứt sự nỗ lực từ phía quốc tế, song bằng nội lực của chị em và cộng đồng chắc chắn rằng mô hình Kế hoạch hóa gia đình – chăm sóc sức khỏe – nâng cao mức sống của phụ nữ sẽ tiếp tục được mở rộng, tiếp tục khẳng định sức sống bền vững của nó trong đời sống cộng đồng.
T. H –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Quyền sinh sản và sự tự do lựa chọn

Theo cách định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO), thì “Sức khỏe sinh sản (SKSS) là một trạng thái khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thống sinh sản”.
Sức khỏe sinh sản hàm ý là con người ta có thể có một cuộc sống tình dục thỏa mãn, an toàn và có khả năng sinh sản; được tự do quyết định khi nào và thường xuyên như thế nào trong việc này, hàm ý trong điều kiện cuối cùng này là quyền của nam giới và phụ nữ được thông tin, tiếp cận các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, đủ khả năng và chấp nhận được, họ được tự do lựa chọn việc điều hòa mức sinh không trái với luật pháp; và quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp cho người phụ nữ được an toàn từ lúc mang thai đến khi sinh nở, và cuối cùng là để đem lại cho các cặp vợ chồng điều may mắn nhất là có đứa con khỏe mạnh.
Cũng theo định nghĩa về Sức khỏe sinh sản, chăm sóc Sức khỏe sinh sản nhằm phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về Sức khỏe sinh sản. Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục thông qua việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần vào Sức khỏe sinh sản với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, chứ không phải chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển (ICPD) Cairo, 1994 cũng khuyến nghị là việc chăm sóc Sức khỏe sinh sản trong khung cảnh chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm các lĩnh vực: Thông tin – giáo dục – truyền thông (TGT), tư vấn, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ); giáo dục và các dịch vụ về chăm sóc trước khi sinh, sinh nở an toàn, chăm sóc sau sinh, đặc biệt là nuôi con bằng sữa mẹ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em; phòng ngừa và điều trị thích hợp vô sinh; phòng ngừa nạo phá thai và quản lý những hậu quả của nạo phá thai; điều trị nhiễm khuẩn sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục (kể cả HIV/AIDS) và tình trạng Sức khỏe sinh sản khác; thông tin, giáo dục và tư vấn thích hợp về bản năng tình dục của con người, sức khỏe sinh sản và trách nhiệm làm cha mẹ.
Một nguyên tắc quan trọng để hành động là sự tự do lựa chọn của các cá nhân thông qua việc cung cấp các dịch vụ Sức khỏe sinh sản có chất lượng cao nhằm làm giảm gánh nặng của việc có thai ngoài ý muốn, không theo kế hoạch, giảm các tỷ lệ mắc và tỷ lệ chết liên quan.
Các quyền sinh sản bao gồm một số quyền con người cơ bản đã được công nhận trong các văn bản luật pháp quốc gia và quốc tế, bao gồm:
Quyền cơ bản của tất cả các cặp vợ chồng và các cá nhân được tự do quyết định và chịu trách nhiệm về số con và khoảng cách giữa các lần sinh của họ và quyền có được thông tin, giáo dục và phương tiện để làm việc đó;
Quyền để đạt được tiểu chuẩn cao nhất về Sức khỏe sinh sản và tình dục:
Quyền được quyết định liên quan đến sinh sản mà không có sự phân biệt, cưỡng ép hoặc bạo lực:
Rõ ràng là, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, cần tập trung giải quyết các nhu cầu về Sức khỏe sinh sản phụ nữ, mặt khác cần có các cố gắng đặc biệt để khuyến khích nam giới chịu trách nhiệm về Kế hoạch hóa gia đình và Sức khỏe sinh sản đã đạt tới sự thay đổi về hành vi tình dục của nam giới. Điều này không chỉ phòng ngừa sự nhiễm bệnh mà còn giải quyết được các vấn đề ở Sức khỏe sinh sản.
BVN – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nhân ngày dân số thế giới (11 – 7)

Dân số và việc làm ở Trung Quốc
Trong mọi quốc gia trên thế giới, dân số – lao động – việc làm có quan hệ mật thiết với nhau. Cái này vừa là nguyên nhân, động lực vừa là hệ quả của cái kia và ngược lại. Trung Quốc, một quốc gia đông dân, nhất thế giới, mối quan hệ nhân quả càng biểu hiện rõ. Hơn thế, nó còn tác động khá nhiều đến tình hình dân số và kinh tế thế giới.
Theo số liệu điều tra Chính phủ Trung Quốc đến hết năm 1993, dân số của nước này là 1,185 tỷ người. Theo dự đoán, sức ép dân số vẫn tiếp tục gia tăng vào những năm đầu của thế kỷ XXI. Trung bình hàng năm số dân tăng 14,5 triệu người cho dù Chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp kế hoạch hóa dân số rất kiên quyết để hạ tỷ lệ tăng dân số vào năm 1995 là 1,4%. Các chuyên gia dự đoán đến năm 2000, dân số sẽ là 1.287 tỷ người, so với 7 năm trước tăng 102 triệu người (tăng thêm gấp 1,5 lần dân số hiện nay của Việt Nam). Tuy nhiên 33 năm sau, năm 2033 dân số nước này chỉ tăng lên đến 1,5 tỷ người và sẽ giảm dần vào những năm giữa thế kỷ XXI.
Về chất lượng dân số, tuy trình độ văn hóa chung của người dân Trung Quốc có được nâng lên khá rõ, song hiện vẫn là một nước có trình độ văn hóa ở mức trung bình thấp so với trình độ chung của các nước trên thế giới. Số người mù chữ bắt đầu vào tuổi lao động
(15 tuổi) là 182 triệu người, chiếm 16,1% tổng dân số dân. Tỷ lệ này là quá cao so với các nước phát triển như Nhật Bản 1%, Mỹ 2%, Cộng hòa liên bang Đức 1,5%… Trong khi đó, người có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm 1,4% tổng số dân. Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đang bằng mọi cách giảm tỷ lệ người mù chữ vào đầu thế kỷ sau xuống còn 6,7%.
Một vấn đề đau đầu là trong khi dân số vẫn tăng, đời sống kinh tế khá hơn, các điều kiện đảm bảo đời sống và sức khỏe cho người cao tuổi tốt hơn, thì số lượng người già trên 65 tuổi cũng tăng lên. Theo dự đoán thì năm 2000 nước này có khoảng 88 triệu người trên 65 tuổi, chiếm 6,8% tổng số dân, so với 10 năm về trước (1990) số người già trên 65 tuổi là 64,18 triệu, mới chiếm 5,6% tổng số dân. Năm 2004 là 7% năm 2023 là 14,5%.
Vấn đề việc làm ở Trung Quốc cũng đang là vấn đề hết sức cấp bách. Năm 1990, Trung Quốc có 681 triệu người trong độ tuổi lao động (từ 16 – 59 đối với nam, và 16 – 54 đối với nữ). Đến năm 2000, con số này sẽ tăng lên 774 triệu năm 2010 là 885 triệu, năm 2020 là 893 triệu, nhưng đến năm 2030 giảm xuống 840 triệu. Như vậy, 30 năm đầu của thế kỷ XXI, số lượng lao động ở Trung Quốc xấp xỉ một tỷ người. Bình quân mỗi năm ở nước này có thêm 9 triệu người bước vào tuổi lao động. Trong vòng 20 năm tới, số lượng này gia tăng khoảng 180 triệu, lực lượng lao động càng tăng thì sức ép về việc làm càng lớn.
Sự biến đổi về dân số ở Trung Quốc đã tác động mạnh đến vấn đề việc làm, mặt khác, nó còn làm thay đổi khả năng và thực tế bố trí lao động theo ngành nghề.
Theo số liệu điều tra, năm 1993 với 605,9 triệu việc làm trên toàn quốc thì nông nghiệp chiếm 57,4%, công nghiệp chiếm 22,4% trong tổng số việc làm. Qua đó chúng ta thấy vào những năm 1993 – 1994, lực lượng lao động của Trung Quốc vẫn chủ yếu nằm ở khu vực sản xuất nông nghiệp và nông thôn, trong khi đó GDP lại chủ yếu được tạo ra ở khu vực sản xuất công nghiệp, ở các trung tâm công nghiệp và các thành phố lớn. Với 57,4% lực lượng lao động sản xuất nông nghiệp tạo ra chỉ chiếm 21,2% GDP. Công nghiệp với 22,4% lực lượng lao động nhưng lại chiếm tới 52,8% GDP. Vậy là, việc làm ở Trung Quốc đang là một vấn đề kép, vừa bảo đảm tăng năng suất lao động, vừa phải nâng cao trình độ người lao động; lại vừa phải đều chỉnh tình trạng bất hợp lý giữa việc làm của cư dân nông thôn và cư dân thành thị và các khu công nghiệp lớn. Vấn đề dân số – việc làm đang là bài toán đau đầu của Chính phủ Trung Quốc trước thêm của thiên niên kỷ mới.
Đỗ Ngọc Yên –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nhà cửa và cây cối – số 27

Ông già lại kể tiếp: “Ông đã về làng tôi rồi, ông có thấy hiếm có một làng nào cây cối lại tốt tươi như thế không. Nói để ông biết, bây giờ người ta đã chểnh mảng việc chăm nom vườn tược cây cối rồi. Chỉ còn mấy ông già, cánh trẻ đều tấp tểnh mắt trước mắt sau là chui vào thành phố. Ở thành phố, cây thì trong chậu, nhà thì xi măng, nói thật tôi không ở thế được. Các cụ tôi ngày xưa đã từ quan là đều về làng, chơi với cây cối chăm nom vườn tược. Các cụ rất cẩn thận trong cách đối xử với cây cối. Tôi kể ông nghe chuyện này: Cụ tôi khi từ quan là vào tuổi bảy mươi. Nhưng cụ tôi còn khỏe vì ông già võ nghệ khá, tính lại vui. Về nghỉ ông đem theo về một xe cây giống lấy từ trong Phú Xuân ra. Thế rồi thời gian nghỉ hưu ông chăm nom vườn tược cây cối và rồi thì du khách thăm thú danh lam thắng cảnh. Đến đâu có dân oan khuất đưa đơn cho ông, ông già đều nhận và sau đó gửi về kinh cho đến trực tiếp nhà vua. Đi đâu về ông già đều đem về theo một vài giống cây. Về đến nhà, chưa cởi quần áo vội ông già hô gia nhân ra trồng rồi tự tay cầm bình nước tưới cho cây. Thế rồi, các ông tôi mới hỏi cụ tôi, cớ làm sao mà ông phải tự cầm bình nước tưới lấy gáo múc đổ xuống gốc cây mới trồng, thì cụ tôi bảo: “Cho cây nó thấm vía của chủ, nó mới tươi tốt được”. Trong vườn cụ tôi cấm không cho gia nhân, con cháu tự động ra chặt cây, chặt cành. Ai muốn gì với cây cối của ông đều phải hỏi. Một hôm, nàng dâu thứ tư, vô tâm tính ra vườn tiện tay bẻ về mấy cành nhãn, vải cũng là cành nhỏ thôi, để cho trẻ con nó chơi. Lập tức các bà xanh mắt nhắc lại lời cụ tôi và rồi đem cành cây quăng xuống ao. Chiều cụ tôi đi chơi về xuống cầu ao rửa chân, mới trông thấy mấy cành cây lá nổi lềnh bềnh. Cụ tôi nghiêm mặt hỏi ngay ai tự tiện bẻ. Nàng dâu sợ quá đành phải quỳ thưa nhận tôi. Cụ tôi phất tay cho đứng dậy và ôn tồn: “Hắn là từ nay chị phải nhớ cho đến già chứ? Bận sau chị cần phải hỏi, ta sẽ chỉ cho cây nào cành nào chặt được”. Theo như ý cụ tôi thì đã là vật sống dẫu là cây hay là con thì cũng đều có linh, người ta gọi sinh linh là như cây. Các ông bác tôi, kể rằng có những ngày ông đi tỉa cành, cụ tôi không tỉa cành mùa xuân, và mùa đông, chỉ tỉa vào mùa hè bắt đầu có mưa. Cụ tôi bảo: tỉa cây vào những tháng mưa, nó ít bị đau mà cây mau hồi, vì có mưa nhuần tưới. Mỗi lần giơ con dao lên chặt một cành nào đấy, thì cụ tôi phải xem xét một lát, rồi trước khi hạ lưỡi con dao sắc vào chỗ định chặt thì cụ tôi lại nói như dỗ dành: “Nào, cho ta xin cành này, để rồi mày lại trổ năm mười cành khác nhé”. À, tôi lại chợt nhớ ra chuyện này vẫn nàng dâu thứ tư đó, một lần làm thịt gà, cắt tiết con gà, cụ bà tôi trông thấy, khi cô nàng làm con gà xong, cụ bà tôi mới bảo: “Bận sau, con cắt tiết gà thì phải nhớ nói câu này: “Thôi, tao xin hóa kiếp cho mày…”. Nói xong thì hãy cắt, thế đấy. Tôi nhớ một hôm, ông có hỏi tôi vì sao quanh khu nghĩa địa làng tôi có nhiều cây duối to đến thế. Bây giờ tôi xin trả lời ông. Người bảo dân làng và gia nhân đi trồng những cây duối ấy cũng là cụ tôi. Người trong dòng tôi kể rằng: Một đêm cụ tôi đi dạo. Tính cụ tôi chẳng là hay đi dạo mà, bất kể đêm hay ngày, nếu cụ tôi muốn. Đi về cụ tôi nói với người trong nhà “Đêm qua đi dạo mà ta thấy nhiều ma về hội quanh nghĩa địa quá thể. Thương lắm… Ta phải lo thôi. Thế là cụ tôi cho gọi lý trưởng lên, bảo đi sưu tầm giống cây duối về và đem trồng như chỗ mà cụ tôi thấy ma hiện, cụ tôi bảo: Cứ thấy nó bằng quả ối mà xanh như đom đóm, đấy là hồn của thập loại chúng sinh, chết đầu đường xó chợ, đói khát, không chốn nương thân”. Thế là mấy ngày liền dân lực điền đi trồng cây duối. Sau hỏi ra, đó là cụ tôi biết ma – nhưng vong hồn lạc loài ấy chỉ đậu ở cây duối chờ cho tới khi cây duối lớn, thân cây rỗng ruột thì lũ ma chui vào mà ở. Vì cây duối cao to có tàn có tán thân cây thấy đều rỗng ruột, là chỗ tốt nhất cho hồn ma trú ngụ.
Cây cối và thú vật trong nhà cụ tôi đều cư xử tử tế, cụ tôi không bao giờ cầm roi đánh chó. Mặc dù các ông con giai của cụ ăn đòn đều đều đấy. Cụ tôi nuôi một con rất khôn, cụ tôi cứ sắp đi đâu, là nó chạy càm cây gậy đem ra cho cụ tôi, và sau đó bao giờ nó cũng lẽo đẽo theo sau. Cụ tôi vào nhà ai thì nó ngồi đợi ngoài cổng, thấy cụ tôi ra, nó lại sát bên chân. Còn ở nhà, con chó chỉ nó nằm dưới gầm sập chỗ cụ tôi ngủ, không nằm bất cứ chỗ nào.
Hôm cụ về chầu giời, con chó bỏ ra nằm bên một cụ tôi đúng 49 ngày mới trở về nhà. Trong thời gian 49 ngày, cứ ăn xong hai bữa là nó lại ra chỉ quẩn quanh bên mộ cụ tôi thôi.
Bùi Bình Thi – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Bạch đàn

Bạch đàn (Eucalyptus spp.) thuộc họ Sim (Myrtaceae), tên khác là khuynh diệp, có nhiều loài: Bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora Hook. f.), bạch đàn lá liễu (E. escserta F.V.Muell.), bạch đàn xanh (E. Globulus Labill.), bạch đàn đỏ hay bạch đàn láy dày (E. robusta Sm.), bạch đàn trắng (E. camaldulensis Dehnhardt), bạch đàn lá nhỏ (E. tereticomis Sm.), khuynh diệp sả (E. resinifera Sm.).
Về hình thái, các loài bạch đàn rất đa dạng, đều có những đặc điểm chung như sau: Cây gỗ to, luôn xanh, cao 20-25m. Lá mọc so le, nghiêng hình lưỡi liềm, đầu thuôn nhọn, phiến lá có những chấm mờ (tức túi tinh dầu), nên khi vò lá thấy có mùi thơm. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, hoa màu trắng, rất nhiều nhị. Quả nang chứa nhiều hạt nhỏ.
Mỗi loài lại có đặc điểm riêng dễ phân biệt như bạch đàn chanh có lá thơm như mùi chanh, bạch đàn đỏ có phiến lá to và dày, bạch đàn liễu và bạch đàn lá nhỏ có phiến lá hẹp và dài, bạch đàn xanh có hoa mọc đơn độc.
Chú ý: Cây bạch đàn hương (Santalum album L.) không thuộc nhóm bạch đàn nêu trên.
Bạch đàn có nguồn gốc ở Châu Đại Dương, được nhập trồng vào nước ta từ lâu đời. Cây có khả năng hút nước trong đất rất mạnh, nên thường được trồng ở những vùng đầm lầy ẩm thấp để cải tạo đất và trừ muỗi, làm giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt rét.
Các loài bạch đàn đều được dùng làm thuốc chữa bệnh. Bộ phận chủ yếu là lá và tinh dầu. Hàm lượng tinh dầu thay đổi tùy theo loài: bạch đàn lá liễu chứa 0,65%, bạch đàn chanh 1,3%, bạch đàn xanh 2%… Thành phần hoạt chất chính trong tinh dầu là kineol và citronelal.
Lá bạch đàn để tươi cùng với những lá thơm khác như bưởi, chanh, sả, hương nhu… nấu nước sông cho ra mồ hôi để chữa cảm, cúm, sốt ớn lạnh. Lá bạch đàn (50g) nấu với nước cho thật đặc, dùng gội rửa chữa chốc đầu, viêm da. Lá bạch đàn phơi khô (10g) rửa sạch, thái nhỏ, cho vào 150ml nước, đun sôi nhỏ lửa trong 4 giờ. Gạn lọc lấy nước trong, thêm đường cho đủ ngọt, uống làm 2 lần trong ngày chữa ho, viêm phế quản.
Tinh dầu bạch đàn là một thành phần của các thuốc diệt khuẩn và tẩy uế. Nếu các chế phẩm này có thêm một lượng nhỏ tinh dầu bạch đàn chanh sẽ trở lên dễ chịu hơn. Vài giọt tinh dầu bạch đàn cùng với ít menthol hoặc 2-10ml cồn bạch đàn 1/5 trong cốc nước sôi, rồi xông hít để chữa viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản. Tinh dầu bạch đàn dùng bôi và xoa ngoài như tinh dầu tràm trong bệnh đau nhức, tê thấp, pha với dầu lạc trung bình với tỷ lệ 20% làm thuốc nhỏ mũi chống cúm.
Tinh dầu bạch đàn chanh cùng với đường và tá dược làm kẹp ngậm chống viêm họng, chứng hôi miệng. Tinh dầu bạch đàn xanh có trong thành phần dầu Cửu Long cùng với tinh dầu hương nhu và bạc hà, trong cao Sao Vàng với tinh dầu long não, đinh hương và menthol.
Theo tài liệu nước ngoài, tinh dầu bạch đàn xanh được dùng làm thuốc giảm sốt, tẩy giun và kháng khuẩn; tinh dầu bạch đàn lá nhỏ có tác dụng gây tê nhẹ, sát khuẩn (dùng ngoài), kích thích, giảm ho (dùng trong). Tinh dầu bạch đàn trắng chữa lỵ mạn tính. Tinh dầu bạch đàn xanh được sử dụng làm chất diệt muỗi, chấy, rận, rệp, bọ chét.
Chất gôm chích từ thân cây bạch đàn trắng đôi khi được dùng chữa tiêu chảy, làm chất săn trong nha khoa và điều trị vết thương.
Hữu Bảo – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 41 (749) – Năm thứ 36 – 1997

Họa sĩ Phan Kế An đỡ đẻ

Hồi Phan Kế An học ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương ở Hà Nội, ngoài các môn học chính ông rất thích môn cơ thể học. Khi đó bác sĩ Huard và bác sĩ Đỗ Xuân Hợp phụ trách môn học này, các sinh viên phải học tại Viện Giải phẫu trên xác người. Riêng về khoa sản, An chỉ được cụ Ngọc là một hộ sinh giỏi tại bệnh viện hướng dẫn qua loa và được xem cụ đỡ đẻ vài lần chứ chưa được tự tay làm lần nào.
Trong kháng chiến chống Pháp ở trong rừng Việt Bắc, họa sĩ Phan Kế An, ngoài công tác chuyên môn vẽ tranh đã kích chính trị trên báo Sự Thật, còn làm thầy thuốc nghiệp dư tại các cơ quan Trung ương Đảng vì chưa có y xá, chỉ có một cậu y tá trẻ phụ trách tất cả các cơ quan phải di chuyển địa điểm đi khá xa, đêm nghỉ tại một bản gần Võ Nhai, bỗng Phan Kế An được đồng chí Trường Chính gọi, cho biết có một phụ nữ địa phương đẻ khó, anh phải đến giúp ngay. Họa sĩ lo lắng vì chưa đỡ đẻ lần nào, huống chi là đẻ khó. Nhưng vẫn phải theo đồng chí công tác đội đi ngay. Đến nơi thì ở cửa nhà sàn đó đã có treo các cành lá, tức là không ai được vào, mà ở trong thì có tiếng thầy mo đang cúng lễ. Khó khăn lắm đồng chí công tác đội mới thuyết phục được cán bộ địa phương và gia đình cho họa sĩ lên nhà. Lại một cuộc thuyết phục cực kỳ khó khăn nữa mới được khám sản phụ. May sao là may, họa sĩ đã thấy đầu đứa bé lấp ló mấy sợi tóc thưa ở cửa mình đã mở được khoảng 5 cm, chứ nếu là thấy một cái tay hay một cái chân thì thật là tai họa. Nhưng người mẹ đã quát mệt không rặn được nữa. Sau khi động viên sản phụ, bôi thuốc đỏ (chỉ có thế), dùng mấy ngón tay rửa rượu 90 độ lót dưới, họa sĩ dùng chiếc kéo đã đốt lửa cắt ngang một nhát, sản phụ đem sức còn lại rặn một lần nữa, thế là cháu bé lọt ra được, mà lại còn khóc oe oe nữa, không phải cấp cứu. Thầy mo đã đi khỏi nhà, họa sĩ mừng không tả xiết. Nhưng chỉ đành đưa cho sản phụ một lọ thuốc đỏ để tiếp tục bôi chứ không thể khâu vá gì được trong hoàn cảnh ấy.
Một nhiệm vụ đặc biệt, một nhiệm vụ ngoài dự kiến và chuyên môn, nhưng được hoàn thành mỹ mãn trong một hoàn cảnh thực trớ trêu nhưng phù hợp với tinh thần kháng chiến và chủ nghĩa nhân đạo.
Vương Anh –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998