1997, 10 sự kiện lớn của ngành y tế

1.Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa X, GS Đỗ Nguyễn Phương – Ủy viên trung ương Đảng đã được tái cử giữ chức Bộ trưởng Bộ y tế. PTS Trần Thị Trung Chiến – Ủy viên trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ y tế được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng – Chủ nhiệm Ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình.
2. Tại cuộc gặp mặt giao lưu truyền thống các thế hệ thầy thuốc Việt Nam nhân ngày 27/2: Lần đầu tiên hơn 400 gương mặt thầy thuốc tiêu biểu thuộc quân y, dân y, bác sĩ, dược sĩ từ mọi miền đất nước, sau nhiều năm lặn lội vượt qua mọi khó khăn thực hiện sứ mệnh cao cả: Chăm sóc sức khỏe nhân dân đã hội tụ về thủ đô Hà Nội để khơi dậy và làm sáng tỏ giá trị nhân văn của các thế hệ thầy thuốc trong quá trình xây dựng ngành y tế và nền y học cổ truyền Việt Nam, biểu dương công lao, tôn vinh phẩm cách, bày tỏ lòng biết ơn đối với các thế hệ thầy thuốc đã có nhiều cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
3.Năm nay nhiều đoàn đại biểu y tế sang thăm và làm việc tại nước ta, trong đó có nhiều đoàn do Bộ trưởng Bộ y tế dẫn đầu như đoàn đại biểu Anggola, đoàn đại biểu y tế nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, đoàn đại biểu y tế và xã hội Hoa kỳ… đặc biệt là đoàn Tổ chức y tế thế giới khu vực do TS. S. T Hans – giám đốc WHO, khu vực châu Á Thái Bình Dương dẫn đầu.
4.Bốn Vacxin: vacxin viêm gan virut B, vacxin viêm não Nhật Bản, vacxin thương hàn, vacxin tả được chính thức đưa vào dự án tiêm chủng mở rộng (TCMR), sẽ được triển khai từng bước, tại những vùng trọng điểm trong năm 1997 và mở rộng ra toàn quốc vào năm 2000. Như vậy, bắt đầu từ năm nay, ngoài 6 loại bệnh đã có vacxin phòng, trẻ em nước ta sẽ được tiêm phòng thêm 4 loại bệnh nguy hiểm nữa. Ảnh 4: Máy đóng ống vacxin Sabin phục vụ tiêm chủng mở rộng phòng bại liệt cho trẻ em vừa lắp đặt ở trung tâm sản xuất vacxin Sabin (Bộ y tế).
5.Ngày 6/6/1997, Cục quản lý Dược Việt Nam đã cấp giấy chứng nhận cho Công ty dược phẩm Đồng Tháp – công ty dược phẩm quốc doanh đầu tiên ở nước ta đạt yêu cầu về thực hành tốt trong việc sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc của khu vực ASEAN cho các dạng bào chế: viên nén, viên nang, viên bao và vi nang.
6.Những ca thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên ở Việt Nam do nhóm giáo sư, chuyên viên kỹ thuật bệnh viện phụ sản Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh với sự giúp đỡ của các chuyên gia Pháp đã thực hiện thành công.Tháng 8/1997, 76 ca đầu tiên đã được cấy phôi vào tử cung.
7.Ủy ban Kovalevskaia của Việt Nam đã trao giải thưởng này cho GS. TS. Nguyễn Thị Kê – Viện trưởng viện vacxin và các chế phẩm sinh học Nha Trang do những cống hiến của chị trong công tác nghiêm cứu khoa học, đặc biệt là công trình “Nghiên cứu sản xuất vacxin DPT, cung cấp cho chương trình Tiêm chủng mở rộng”.
8.Bệnh viện ATK (Tuyên Quang) là một công trình y tế được xây dựng mới gồm 30 giường, được trang bị phương tiện chuẩn đoán và phục vụ tương đối tốt bằng sự hỗ trợ kinh phí của Bộ y tế và ngân sách của tỉnh. Bệnh viện sẽ là nơi phục vụ sức khỏe cho nhân dân các dân tộc thuộc 7 xã khu vực ATK, nơi nhiều năm trước cách mạng và trong hai cuộc kháng chiến đặt căn cứ các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước ta, cũng như của ngành y tế.
9.Cơn bão số 5 đổ bộ vào 9 tỉnh phía Nam đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản, riêng hệ thống y tế đã có 40 trạm y tế bị sập đổ hoàn toàn, hơn 285 trạm bị tốc mái, hư hỏng nặng, thiệt hại của ngành y tế lên đến 8 tỷ đồng. Ngay trong và sau khi bão tan, cán bộ y tế đã nhanh chóng tổ chức cấp cứu, cứu chữa người bị nạn, tẩy uế môi trường nên không có dịch xảy ra. Vòng I chiến dịch tiêm chủng toàn quốc vẫn được thực hiện tốt ở đây. Cán bộ trong toàn ngành đã tổ chức quyên góp tiền, của kịp thời chi viện cho đồng bào vùng lũ lụt.
10.Người phụ nữ Việt Nam đầu tiên hiến xác cho y học là chị Trần Hồ Quang Ngọc Cúc Phượng, 39 tuổi, làm nghề người mẫu thời trang ở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là người Việt Nam thứ hai (sau anh Nguyễn Đức Minh tháng 7/1996) đã vượt qua tập tục phương Đông, để cái chết của mình vẫn còn có ích cho cuộc sống.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Thư tình thời cổ

Tình yêu được chấp nối bằng những lá thư. Vậy thời trung cổ loài người đã viết thư tình như thế nào, khi mà thời ấy thư từ còn phải theo những quy tắc rất nghiêm ngặt. Vào thế kỷ thứ 9 đã có những chuyên luận về nghệ thuật tu từ trong thể loại thư tín. Những tập sách đầu tiên thuộc loại này do người Ý soạn thảo. Các tác phẩm này bao gồm những bài văn mẫu: những lá thư hành chính và cả những lá thư đạo diễn những tình huống cảm xúc khác nhau. Nguyên tắc lá thư đầu tiên của người đàn ông tìm cách quyến rũ một phụ nữ như sau: Sau công thức chào hỏi thông thường là lời ca tụng người đàn bà, mô tả sắc đẹp của nàng, tiếp đó sự bộc lộ nỗi niềm đau khổ của một người mong muốn nàng chiếu cố đến, bởi sắc đẹp mỹ lệ của nàng đã hớp mất hồn tác giả bức thư và cuối cùng là muốn gợi lên lòng thương hại của người đàn bà, bày tỏ mong muốn hồi âm và hứa hẹn một tình yêu bất diệt. Vào năm 1215, bậc thầy về ngữ pháp người Ý Boncom-pagnoda Signa đã cho xuất bản một tác phẩm ngắn có nhan đề “Bánh xe của thần Vệ nữ”. Đây là sách duy nhất vào thời đó nói về nghệ thuật thư tín tập trung vào thể văn tình yêu như là một thể loại riêng biệt. Qua những mẫu thư tình, tác giả cung cấp nghệ thuật (có phần khá trơ tráo) quyến rũ phụ nữ, cách “bỏ bùa” đàn ông và cách “cắm sừng” ông xã! Người tra đã tìm thấy trong thư viện thành phố Troyes 160 lá thư (từ dài đến ngắn) được sao chép lại ở tu viện Clairvaux. Tất cả đều do hai nhân vật vô danh viết ra: người đàn ông là một trí thức tài ba, còn người đàn bà là một học trò của anh ta. Các nhà cổ học nêu lên giả thuyết đó là Hi’loise và Abe’lard – đôi tình nhân nổi tiếng vào thời trung cổ. Cả hai đều có một nền học vấn cổ điển vững vàng nên nghệ thuật viết thư của họ rất điêu luyện. Người đàn bà giải bày kiểu cách hơn người đàn ông và viết bằng một thứ văn xuôi hợp vần, điều mà người đàn ông không bao giờ làm. Những tình cảm được bày tỏ nêu bật tình cảm một tình yêu mạnh mẽ. Tuy nhiên có những bức thư đã làm cho các nhà khảo cổ phải nghi ngờ. Ví dụ như những lá thư của tu sĩ Baudri, về sau là tổng giám mục ở Dolde Bretagne, Baudri đã đem lòng yêu mến bà sơ Constance. Nàng Constance đã hết sức vui mừng đón nhận tình yêu của Baudri “Tôi đã đặt lá thư lên ngực trái của tôi vì người ta nói rằng đó là nơi gần quả tim nhất”. Nhưng khi không thấy Baudri đến với nàng như đã hứa, nàng đã viết thư trả lời trong tình cảm ghen tuông lẫn nỗi chờ đợi: “Anh sẽ phạm tội tày trời nếu anh không nuôi người đói khát, nếu anh không thỏa mãn lời cầu xin của em”. Họ đã cho rằng, những lời mạnh mẽ này không lẽ là của đàn ông? Nhưng chác chắn không phải là của một phụ nữ đang yêu. Như thế, những lá thư tín thời trung cổ vẫn còn nhiều sự ngờ vực. Tấm màn bí mật che phủ những tác giả thực sự của những lá thư tình này vẫn chưa được vén lên: đó là lời lẽ của hai người yêu nhau hay chỉ là một người đàn ông hoặc đàn bà tưởng tượng ra để viết thư. Điều bí ẩn vẫn chưa được sáng tỏ. Tuấn Thương – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Y học đến năm 2010

Những tiến bộ y học hiện đại đã đem lại những biến đổi nhanh chóng trong phương pháp chữa trị: việc cấy ghép những bộ phận ngoại lai vào cơ thể người bệnh, việc thụ tinh trong ống nghiệm hay việc ứng dụng công nghệ sinh học trong bào chế thuốc men để trị bệnh trước khi có thể hoàn toàn ứng dụng trị liệu bằng gen. Những biến đổi về công nghệ dẫn tới một thế giới mới về phương diện chăm sóc sức khỏe con người. Điều đó đúng về nhiều mặt: mạng lưới thông tin, trị liệu bằng máy tính, khoa học người máy và các loại thuốc mới đều đóng góp tích cực để làm tăng hiệu quả và mức độ chính xác. Người bệnh sẽ ít bị tổn hại hơn trong quá trình chữa trị và do đó, họ có nhiều tiềm lực hơn để phục hồi. Một số người máy và thuốc men sẽ mang đến cách chữa trị chưa từng có đối với một số bệnh trước đây bị coi là nan y. Số lượng bác sĩ và các nhà giải phẫu sẽ giảm đi rõ rệt vì máy tính và người máy sẽ thực hiện khá nhiều thao tác, còn nhân loại thì ngày một khỏe mạnh thêm. Năm 1990, trung bình mỗi người phải gặp bác sĩ bốn hoặc năm lần mỗi năm. Đến năm 2010, hoặc có thể trước đó, người ta sẽ có thể mời bác sĩ qua máy tính có ngay trong nhà hoặc trao đổi qua hệ thống viễn thông. Người bệnh có thể chữa một số bệnh. Họ có thể mang trên người một chiếc “đồng hồ sức khỏe” họ có thể luôn nắm được tình hình sức khỏe và trạng thái tâm thần của họ. Số liệu sẽ được họ tự đưa vào máy tính. Các số liệu ghi ký về sức khỏe sẽ được lưu giữ trong một ngân hàng dữ liệu có thể tìm được ngay và in trên một tấm các mà mỗi người sẽ mang theo mình. Máy tính và bác sĩ sẽ chẩn bệnh và xác định được ngay phương pháp chữa trị. Nếu cần kê đơn, bác sĩ cũng tiến hành bằng phương tiện điện tử và cho đơn thuốc đến tận nhà bệnh nhân qua bưu điện. Người bệnh cũng có thể nhận được một tấm thẻ lĩnh thuốc tự động chẳng khác gì dùng máy để nhận tiền ở ngân hàng. Nếu cần đến phẫu thuật thì bệnh nhân cũng sẽ không phải nhập viện. Đa số các ca mổ sẽ thực hiện rất nhanh và bệnh nhân phục sức cũng rất nhanh, do đó phần lớn các trường hợp không phải nằm bệnh viện. Thậm chí sẽ còn có những phòng mổ lưu động để có thể đến tận nhà người bệnh mà tiến hành mổ xẻ ngay tại nhà. Nhiều ca mổ chỉ cần có người máy thực hiện với sự trợ giúp của y tá. Tuy nhiên trong trường hợp cấp cứu thì có thể liên lạc ngay với bác sĩ chuyên môn qua hệ thống viễn y. Với hình thức chăm sóc sức khỏe hiện đại như vậy, nhiều bệnh viện sẽ vắng khách, thậm chí nhiều bệnh viện sẽ đóng cửa, một số khác sẽ trở thành những bệnh viện cấp cứu hoặc bệnh viện chuyên phục vụ cho các bệnh mãn tính. Các cá nhân đều sẽ phải tự lo nhiều hơn cho sức khỏe của bản thân. Ngược lại, chất lượng và tính hữu hiệu của sự trợ giúp y tế từ phía các nhà chuyên môn sẽ tăng lên và hữu hiệu hơn trước nhiều.
Còn sau năm 2010 thì sao?
Theo bác sĩ Anderson, nếu các thuốc gen có hiệu quả hiển nhiên như các kháng sinh sau năm 1940, nếu yêu cầu thuốc mới của quần chúng tăng lên rất nhanh thì nhà nước sẽ phải đặc biệt chú ý đẩy mạnh sản xuất. Trước kia, các thuốc kháng sinh đã làm cho những người thập tử nhất sinh được sống lại, thì rồi cũng lại đến lượt các biện pháp trị liệu mới và các phương pháp mổ xẻ không gây đau đớn lại được đòi hỏi cấp thiết hơn vì quần chúng lại càng tin tưởng vào nền y học mới với mọi điều kỳ diệu của nó. Các tiến bộ trong lĩnh vực viễn thông cũng sẽ được khai thác triệt để. Masaaki Terade, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ung thư ở Tokyo, tin rằng trong vòng 20 năm nữa, những tiến bộ về chụp hình điện tử sẽ tốt tới mức người ta sẽ dễ phát hiện sớm các tế bào ung thư trong cơ thể để kịp thời xử lý trước khi di căn. Hiện nay, màn hình còn chưa cho phép thấy rõ những loại tế bào đó, nhưng Terade tin rằng rồi đây y học tiên tiến sẽ giải quyết được khó khăn này. Trên đây mới chỉ là viễn cảnh trong một vài thập niên sắp tới. Còn đến khoảng 2050 thì sao? Người ta cho rằng rất có thể đến lúc đó thì đa số những bệnh nặng đều đã được nhân loại trừ khử trên hành tinh này và con người có thể không phải lo gì đến bệnh tật nữa. Tuổi thọ của con người chắc chắn sẽ tăng lên rõ rệt. Rồi đây, tình hình phát triển cao độ của hệ thống thông tin sẽ đặt lên vai mọi người trách nhiệm nặng nề hơn đối với việc tự chăm lo đến sức khỏe cho mình. Nếu trong tương lai, các bác sĩ không còn trách nhiệm nặng nề đối với đa số người bệnh và họ cũng không còn là người bảo vệ sức khỏe cho quần chúng nói chung nữa thì ai sẽ là người bảo vệ người tiêu dùng trước lợi ích của nền thương mại? Một vướng mắc nữa là ai sẽ gánh chịu những tổn phí lớn cần cho nền y học ngày càng hiện đại. Rồi cả vấn đề con người sẽ dần dần sống đến khoảng 100 tuổi cả thì những chi phí về lương hưu, về an dưỡng cho người già sẽ tăng lên rất nhiều. Dẫu sao thì tương lai của y học vẫn đem lại cho con người nhiều lợi ích cho cuộc sống hơn là những trở ngại mà chắc chắn là người ta cũng sẽ khắc phục được.
QL – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 1+2 (762+763) – 1998

Ngành y tế với việc xây dựng và nhân điển hình tiên tiến – Phần 2

Từ năm 1971 đến tháng 2/1975, Bộ trưởng Bộ y tế Vũ Văn Cẩn đã chỉ đạo các tỉnh xây dựng, tổng kết và nhân các đơn vị y tế tiên tiến huyện, xã phục vụ sản xuất nông nghiệp rồi tiến lên tổng kết trong toàn ngành. Phong trào đã có tác động lớn trong việc củng cố và phát triển hệ thống y tế phổ cập ở miền Bắc sau nhiều năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng thời cung cấp những mô hình và kinh nghiệm tốt cho việc xây dựng hệ thống y tế xã, huyện ở miền Nam sau ngày giải phóng.
Thực hiện chủ trương nhanh chóng xây dựng tổ chức y tế trên toàn quốc sau khi nước nhà được thống nhất, Bộ y tế càng coi trọng việc xây dựng điểm, xây dựng và nhân các điển hình tiên tiến, đặc biệt là ở các tỉnh, thành phố phía Nam. Những hội nghị tổng kết phong trào 5 dứt điểm về công tác y tế ở Tiền Giang, tổng kết phong trào tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa và đơn vị y tế tiên tiến ở Nha Trang đầu những năm 80 đã chứng minh rõ rệt rằng : Muốn xây dựng tốt tổ chức và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị của mình, ngành y tế cần coi trọng việc phát hiện, xây dựng, tổng kết kinh nghiệm và nhân các điển hình tiên tiến ở từng địa phương, từng khu vực và trong cả nước.
Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, ngành y tế nước ta hiện đã có những bước phát triển mới, phong phú và đa dạng, nhưng cũng gặp những khó khăn và thử thách mới. Trong hoàn cảnh đó, từ thành thị đến nông thôn đã nảy nở và nhân lên những mô hình y tế tiên tiến thích nghi với điều kiện mới trên nền một ngành y tế nhân dân có truyền thống của nước ta, kết hợp chuyên sâu với phổ cập, gắn tuyến trên với y tế cơ sở, phục vụ tới người dân, theo hướng y học dự phòng. Bệnh viện tỉnh Đồng Tháp là một thí dụ.
Nhìn lại cả một quá trình thực hiện phương pháp xây dựng và nhân các điển hình tiên tiến của ngành y tế mấy chục năm qua, chúng ta có thể rút ra những kết luận sau đây :
Trong từng địa phương, từng lĩnh vực công tác đến toàn ngành và trong cả nước, thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào, đều luôn luôn xuất hiện những điển hình tiên tiến, những đầu tàu cá nhân và tập thể có sức hấp dẫn và thúc đẩy phong trào, là người lãnh đạo, cần đi sâu, đi sát, phát hiện kịp thời, giúp đỡ, hoàn thiện và phát huy những điển hình đó.
Cần làm tốt việc tổng kết kinh nghiệm của từng loại điển hình và có kế hoạch nhân lên trong từng đơn vị, từng hệ công tác, từng địa phương trong cả nước.
Sử dụng nhiều hình thức và biện pháp tuyên truyền, học tập, tham quan tại chỗ và vận động thi đua nhân các điển hình đó từ hẹp đến rộng, đưa tổ chức và hoạt động của ngành y tế nước ta tiến lên trong tình hình mới.
Đó là một cách thiết thực nhất để kỷ niệm Ngày thầy thuốc Việt Nam 27/2.
Vũ Kiên – Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 8 (769) – Năm thứ 37 – 1998

Ngành y tế với việc xây dựng và nhân điển hình tiên tiến – Phần 1

Một phương pháp công tác hợp quy luật và có hiệu quả cao mà ngành y tế từ lâu đã coi trọng và đang tiếp tục phát huy là phát hiện, xây dựng, tổng kết kinh nghiệm và nhân các điển hình tiên tiến.
Đầu năm 1960, Bệnh viện Vân Đình (Hà Tây) từ một bệnh xá yếu, kém đã phấn đấu vươn lên thành một đơn vị điều trị tiên tiến tuyến huyện. Người bệnh từ lúc vào đến lúc ra viện, được qua 100 khâu phục vụ tận tình và chu đáo. Người bệnh yêu mến bệnh viện, mang các loại cây hoa, cây ăn quả đến trồng ở bệnh viện, còn giúp cả vật lực, nhân lực để xây dựng bệnh viện. Hàng trăm đoàn khách, có cả khách nước ngoài, không chỉ trong ngành y tế đã đến tham quan, khen ngợi và học tập.
Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch rất hài lòng về tinh thần phục vụ và cách tổ chức quản lý ở đó. Ông đòi hỏi bệnh viện Vân Đình phải làm tốt nhiệm vụ chỉ đạo tuyến xã, để có thể phổ biến kinh nghiệm cho toàn ngành. Ông đã cử cán bộ lãnh đạo và chuyên viên Vụ phòng bệnh, chữa bệnh về giúp đỡ. Các mặt công tác của bệnh viện tiến bộ rõ rệt. Cuối năm 1962, Bộ đã công nhận “Bệnh viện Vân Đình là lá cờ đầu của ngành”.
Trong một hội nghị tại chỗ, khảo sát và trao đổi về công tác của bệnh viện, Bộ trưởng đã tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm để phổ biến rộng rãi, nhân lên trong phạm vi cả nước.
Chỉ sau một, hai năm, ở hầu hết các tỉnh đã xây dựng được bệnh viện huyện lá cờ đầu của mình như : Nghệ An có bệnh viện Diễn Châu, Nam Định có bệnh viện Hải Hậu, Hải Dương có bệnh viện Ninh Giang, Quảng Bình có bệnh viện Quảng Trạch, v.v… có tác dụng thúc đẩy và nâng cao chất lượng công tác chữa bệnh trong toàn ngành.
Về xây dựng y tế xã, bảo đảm thực hiện chăm sóc sức khỏe tới người dân, các xã tiên tiến về y tế đầu tiên xuất hiện như : Thạch Giám ở miền núi Nghệ An, Quảng Châu (Thanh Hóa), Nam Chính (Hải Dương), … Bộ đã xem xét và chọn xã Nam Chính để giúp đỡ xây dựng thành xã kiểu mẫu về y tế. Năm 1964, Nam Chính có phong trào vệ sinh phát triển mạnh, có đầy đủ các công trình vệ sinh : hố xí 2 ngăn ủ phân tại chỗ, giếng nước, nhà tắm, chuồng lợn hai bậc, nhà bếp thông khói và hố tiểu. Trạm y tế xã có mạng lưới tới các thôn, làm tốt phong trào vệ sinh phòng bệnh, trồng cây thuốc và bảo vệ bà mẹ, trẻ em, có vườn thuốc Nam tại trạm và làm tốt công tác khám, chữa bệnh, thăm thai, đỡ đẻ, kết hợp Đông – Tây y. Phong trào học tập làm theo xã Nam Chính được phát động mạnh mẽ và hàng trăm xã tiên tiến về y tế xuất hiện ở các tỉnh. Riêng huyện Nam Sách, nơi có xã Nam Chính, nhờ phong trào thi đua “dứt điểm về các công trình vệ sinh” sôi nổi mà đầu năm 1965 đã được Báo Nhân dân biểu dương là huyện “Nam Sách sạch”. Sự kiện Bác Hồ về thăm Vân Đình và Nam Chính đã cổ vũ mạnh mẽ việc nhân rộng các điển hình tiên tiến trong toàn ngành y tế.
Vũ Kiên – Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 8 (769) – Năm thứ 37 – 1998

Rượu và an ninh xã hội

Ở nước ta hiện nay, số người nghiện rượu đang tăng nhanh. Hầu như vùng quê nào cũng có người nấu rượu và người nghiện rượu. Ở nhiều vùng nông thôn, một đám cưới thường phải chuẩn bị từ 100 đến 200 lít rượu tùy theo gia cảnh. Trong các cuộc vui, người ta khích bác nhau, ép nhau uống nhiều – nâng ly rượu hò “trăm phần trăm” cạn chén. Uống như vậy đã có nhiều người nhiễm độc rượu cấp tính, nôn mửa tại trận, thậm chí có trường hợp tử vong. Nhưng không chỉ cuộc vui mà là người ta viện đủ lý do để uống rượu. Đó là chưa nói những con nghiện thì không có lý do gì cả, uống rượu thường ngày.
Một điều khiến nhiều người lo lắng hiện nay là rượu bia đã tràn vào các học đường. Trong tất cả các ký túc xá của các trường đại học không có quán nước, quán cơm nào lại không có bia, rượu để phục vụ học sinh sinh viên.
Rượu là nguyên nhân trực tiếp gây rối loạn trật tự xã hội và án mạng. Đã có hàng trăm vụ uống vì uống rượu say mà loạn luân, đánh đập bố mẹ, giết vợ giết con, giết anh chị em ruột thịt, … Đó là chưa kể đến hàng trăm vụ tai nạn giao thông do lái xe say rượu, bia không làm chủ được tốc độ, gây ra nhiều cái chết thảm khốc.
Rượu say dễ làm mất tình người, trở về bản năng thú vật dã man đến mức như 2 anh em Trần Hồng Thanh 32 tuổi và Trần Hồng Sơn 28 tuổi, sau khi uống hết 1,5 lít rượu, rủ nhau tới nhà chị ruột để đập phá (tại thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, tháng 2/1996). Bố đẻ của Thanh, Sơn vội chạy đến can ngăn thì bị chúng đánh cho gần chết và đẻ ra đòi móc mắt. Vụ Trần Hải, 25 tuổi, ở Buôn Mê Thuột (Đắc Lắc) đã nhẫn tâm giết mẹ để lấy tiền uống rượu. Nhiều trường hợp uống rượu say đã đánh cả chủ quán rượu. Có trường hợp là khách mời đến nhậu nhưng khi say, chủ và khách “rượu vào lời ra” đã đánh cả chủ nhà, thậm chí đâm chết…
Rượu gây ra không ít tác động cho gia đình và xã hội. Ở nước ta chưa có thống kê. Còn ở Pháp mấy năm trước đây, đưa ra bảng thống kê 26% xử tại tòa xảy ra ở người uống rượu.
Rượu là nguyên nhân trực tiếp gây ra phạm pháp và án mạng, do say rượu cấp tính hay nhiễm độc rượu mãn tính trong :
31,1% vụ giết cha mẹ
33,3% vụ hiếp dâm và xúc phạm phụ nữ
29,1% vụ mưu sát
38,5% vụ đánh đập người gây thương tích…
Các chuyên gia Pháp tính toán rằng : Một người có 0,5g rượu trong một lít máu có nguy cơ tự gây thương tích cho mình gấp 2 lần người không uống rượu. Nếu nồng độ rượu đó là 1g (gấp 2 lần) thì nguy cơ đó gấp 23 lần, và nếu chỉ số trên là 2g rượu trong 1 lít máu thì nguy cơ đó gấp 80 lần.
Cũng ở Pháp, cuộc điều tra hỏi 1.000 thanh niên, lý do nào đẩy tới nghiện rượu, câu trả lời như sau :
64% do vui chơi cùng bạn bè, bị lôi cuốn
33% do uống rượu thấy thích
3% do bắt chước người lớn và muốn tỏ ra mình cũng đã lớn.
Cũng số thanh niên đó khi trả lời câu hỏi “Bây giờ nghiện rượu rồi, thấy vui sướng hay khổ buồn hơn lúc chưa biết uống”; Có 28% đáp “Thấy vui hơn”, và 39% trả lời cảm “thấy khổ hơn”. Còn 33% thì im lặng, không trả lời.
Lại hỏi trước khi uống rượu, có ai nói cho anh biết rõ tác hại của rượu hay không ? 30% trả lời : Trước khi uống không hiểu rõ tác hại ra sao, 38% đáp : Có nghe nói nhưng không tin. Và 32% từ chối trả lời.
Nói về rượu, không chỉ dừng lại ở lời khuyên, lời cảnh tỉnh về bệnh tật do nhiễm độc rượu mãn tính (nghiện) gây ra như : xơ gan, suy tim, rối loạn tâm thần, đẻ ra những đứa con tật nguyền, … Mà cần phải lên án tác hại của rượu trong việc gây rối loạn trật tự xã hội. Song, đáng tiếc ở nước ta hiện nay còn có nhiều người nhìn tệ nạn rượu chè lai rai với con mắt khoan dung, thậm chí thờ ơ.
Về vấn đề này, ngày 28/05/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 351/TTg về cấm say rượu. Chỉ thị đã quy định chặt chẽ về nơi uống rượu, đối tượng được uống, nghiêm cấm người vị thành niên uống và cấm các hàng quán không được bán rượu cho người chưa đến 18 tuổi. Mọi người hãy biến chỉ thị này thành hành động, phát hiện những việc làm sai phạm. Cần ngăn cấm con em mình nghiện rượu. Hãy nghiêm khắc lên án những kẻ hay quậy phá do rượu, những người thực thi pháp luật cũng cần mạnh tay với chúng hơn nữa.
BS Vũ Định – Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 8 (769) – Năm thứ 37 – 1998

Qua phòng cấp cứu

Thật là …
Cháu Đặng Thị Nam 5 tuổi ở Vĩnh Quang – Lập Thạch – Vĩnh Phúc vào bệnh viện lúc 16h30 phút ngày 03/02/1998 trong thể trạng sặc sụa, tím tái, khó thở, mệt mỏi, môi tím, … Tại đây các bác sĩ đã tiến hành soi và gắp ra được ½ hạt lạc. Mẹ cháu cho biết, buổi sáng cháu ăn mứt lạc, đang ăn thì bị ngã rồi ho. Vừa bị ngã, vừa bị sặc, chỉ vì sơ sẩy của người lớn, thật là “cái sẩy nảy cái ung”. B.N
Tự làm bác sĩ
Cụ Nguyễn Thị Thơi 65 tuổi ở Phú Xuyên – Hà Tây, được đưa vào cấp cứu tại viện TMH ở tình trạng không nói được, thở yếu dần, co cứng toàn thân… Tìm hiểu rõ nguyên nhân thì được biết cách đây 9 ngày do đau dây thần kinh, cụ đã mua thuốc về tự tiêm (không rõ thuốc gì) mới xảy ra cơ sự. Cũng may gia đình đã đưa cụ đến viện kịp thời nên chỉ sau 3 ngày, sức khỏe của cụ đã hồi phục. N.B
Cẩn thận cháo xương
Cháu Trần Phương Mai 12 tháng tuổi ở thị xã Hòa Bình, được gia đình đưa đến viện TMH, trong tình trạng bỏ ăn… Các bác sĩ đã tiến hành soi và gắp ra một mảnh xương đang vướng ở họng. Thì ra trước đó 2 giờ, cháu ăn cháo nấu với xương lợn, đang ăn thì ho và nôn. Xin lưu ý với các bậc phụ huynh có con nhỏ, khi các cháu ăn cháo không chỉ mắc phải xương mà nhiều khi còn lẫn nhiều thứ khác. B.N
Nghịch lý ngoại tình
Chị Nguyễn Thị T. ở phố Cầu Gỗ – Hà Nội, được đưa đi cấp cứu và thoát khỏi cái chết. Tuy nhiên hiện nay chị không còn được như người bình thường vì đã bị loạn thần kinh, luôn nói lảm nhảm và đi lang thang suốt ngày.
Nguyên do từ lâu biết chồng mình có cặp bồ với một phụ nữ khác, chị đã cố gắng khuyên răng mong anh sớm quay về để vợ chồng sống vui vẻ bên nhau. Song, càng ngày anh ta càng tồi tệ và trắng trợn hơn làm chị không chịu nổi nên quyết định tự tử, nhảy từ tầng 3 xuống để kết thúc đời mình. Nào ngờ… cuộc sống của chị lại khốn khổ như vậy. Riêng ông chồng vẫn nhởn nhơ với tình nhân mà không mảy may có chút tình thương gì với người vợ trước đó đã từng chung chăn gối với mình.
Người thân ai nỡ…
Phòng cấp cứu, bệnh viện Hà Tĩnh tiếp nhận bệnh nhân Xuân Đào (26 tuổi ở Kỳ Anh – Hà Tĩnh), do có mâu thuẫn gia đình, Đào đã đòi chém mọi người trong nhà. Việc không thành, chưa nguôi cơn giận, hắn bèn tra kíp vào thuốc rồi cho nổ. Nhưng thật “không may”, người thân chạy thoát, riêng mình hắn lại bị thương nặng phải nằm viện.
Cùng sống chung một nhà, cùng chung khúc ruột dù có chuyện gì chăng nữa cũng nên “đóng cửa bảo nhau” chớ để xảy ra trường hợp như Đào thì chẳng hay ho gì. H.L.A
Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 8 (769) – Năm thứ 37 – 1998

Một nắm đậu đen… Một mạng sống… Một đời thơ_Phần 4

Riêng tôi, sau điếu thuốc lào, thấy người khỏe hẳn. Tuy còn mệt, nhưng tôi đã nói được những lời cảm ơn với mọi người có mặt, nhất là gương mặt cô Kim lúc đó tươi hồng lên như mặt “nàng Tiên cứu thế”. Còn trong thâm tâm tôi biết rõ bố tôi như vậy là đã sinh ra tôi đến hai lần, nhưng lần thứ hai này không những ông cụ cứu được mạng sống cho đứa con đầu lòng mới 26 tuổi, mà còn cứu được cả một đời sáng tạo thơ của anh con trai thi sĩ mới đi được bước đầu tuy có thành công nhưng còn chập chững trên con đường thi ca đầy gian nan, sóng gió.
Tháng 8/1997
(*) Chính vì chứng bệnh lỵ hiểm nghèo đêm ấy ở Phúc Trìu mà đến nay, vở kịch văn vần “Người con nuôi” 2 hồi đã không còn tăm tích. Tác phẩm “đi” thay người, cũng như “của đi thay người” vậy chăng?
(**) Emétine Clin: một loại thuốc trị kiết lỵ trực trùng nổi tiếng của Pháp trước kia.
Chú thích thêm của người viết bài này:
Mãi sau này, hòa bình đã được lập lại trên miền Bắc theo lời giảng giải của bố tôi và lời bàn của mấy người bạn là bác sĩ ở Hà Nội thì nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho tôi hôm đó là do tôi vừa uống thuốc tẩy giun “huile de ricin quinopoudée”. Trong khi thuốc chưa tiêu hết, tôi đã vội ăn cháo thịt vào quá sớm, ruột đang yếu bèn sinh ra rối loạn tiêu hóa. Đầu tiên phản ứng của gan gây ra ỉa chảy ba lần. Lúc phân đã hết thì chất quinopoude vẫn còn, nên bào vào ruột non. Toàn bộ ruột non rỉ máu và mòn dần, mỏng dần nên cứ dăm phút lại đọng thành một giọt máu tươi. Đến lúc nào thủng ruột thì bệnh nhân tử vong. Vì thực ra đó không phải là chứng lỵ trực trùng, nên các loại thuốc diệt khuẩn của Pháp đều vô hiệu. Sắp đến lúc thủng ruột thì chất đậu rang cháy cung cấp carbon để bịt hết những vị ti huyết quản ở thành ruột. Sách thuốc Đông y có câu: “Huyết kiến hắc tất chỉ” (Máu gặp chất gì đen tất ngừng lại) nên tôi sống lại được là do máu trong ruột đã gặp chất carbon từ đậu đen hàn rịt các đầu mạch nhỏ li ti khắp thành tiểu tràng. Ví dụ: người bị đứt tay, lấy nhọ nồi đắp vào vết đứt, máu cũng không chảy ra nữa. Sách thuốc Nhật Bản cũng ghi: Nhiều khỉ (đặc biệt là ở nông thôn và rừng núi) người ta chết vì một chứng bệnh nào đó ngay bên cạnh một thứ hoa lá hoặc rễ cây, hạt có thể cứu sống mình. Chỉ vì không biết đến những vật rất đơn giản nằm sẵn trong thiên nhiên quanh mình đó thôi.
Gốc y lý phương Tây vào thuyết: Vi trùng rồi đến siêu vi trùng. Còn gốc y lý phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam) dựa vào dịch lý: âm dương nóng lạnh – ngũ hành tương sinh, tương khắc, và dựa vào nguyên lý sinh tồn của vạn vật và muôn loài, câu chuyện suýt chết của tôi chẳng qua chỉ là một ví dụ nhỏ cho các nhà nghiên cứu y học Đông Tây tham khảo để đưa ra những dự án lớn về khoa học, y học về cơ thể con người với các lý do tồn, vong, thọ, yểu của nó.
Trích nhật ký kháng chiến của Hoàng Cầm – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 38 (746) – Năm thứ 36 – 1997

Một nắm đậu đen… Một mạng sống… Một đời thơ_Phần 3

Tôi nghe rõ từng tiếng. Cô Kim thuật lại chuyện đậu đen. Có người vồ lấy cả cái niêu đất vừa sắc cho tôi một nước như để xem nó có phép gì màu nhiệm không? Cô Kim lại đổ nước và chất thêm củi, sắc nước thứ hai. Vài phút sau khi uống bát nước đầu tôi còn đi một lần nữa. Và, lạy trời, lạy Phật, quả nhiên đó là giọt máu cuối cùng không phải để chấm dứt cái sinh mệnh mong manh của một con người, mà lại là giọt tai ương cuối cùng để chấm dứt cái bệnh vô cùng hiểm nghèo do chính tôi, vì thèm ăn, đã gây ra cho mình và gây ra bao nhiêu lo lắng đau khổ, phiền muộn cho những người yêu quý mình trong một đêm mà cuộc chiến tranh phi nghĩa tàn bạo của đế quốc Pháp cũng đang gây ra tang tóc, đau khổ cho hàng nghìn hàng vạn gia đình Việt Nam và nhân dân lương thiện Pháp.
Quả nhiên, điều kỳ diệu của hạt đậu đen đã diễn ra rõ ràng trước mắt hàng chục người. Sau lần rớt giọt máu độc địa cuối cùng ấy, tôi không còn phải quặn ruột cực trăm nghìn nỗi, “rặn” ba bảy lần nữa. Và lại có cái cảm giác rành mạch về chiếc xe đạp do bác thợ tháo gỡ tung ra để lau dầu, bây giờ lại lắp lại đâu vào đấy gọn gàng và chắc chắn. Tôi thấy hai cánh tay vừa bị rời ra nay chắp lại vào vai, hai bàn chân chắp lại hai bên đùi. Các ngón tay lại chủ động cầm được cái bát đưa cho cô Kim chuẩn bị rót bát thứ hai. Trong bụng không còn cái nóng khô khốc bao la sa mạc nữa, nó lại ấm áp, mềm mại như thường. Và đặc biệt, tôi bỗng thèm hút một điếu thuốc lào. Lúc tôi gọi anh Thắng, nói lên được một câu, ai cũng nghe rõ: “Thắng ơi, cho mình xin một điếu thuốc lào” thì không phải ai khác mà chính chị Mỹ Ảnh reo to lên, vẻ mặt rất tươi: “Lạy giời! Anh Cầm thèm thuốc lào kìa, thế là không chết nữa rồi!”. Rồi chị giải thích với mọi người rằng mẹ chị thường bảo: Ai nghiện thuốc làm mà ốm có khi sợ khói thuốc đến hàng tháng, nhưng khi nào thấy thèm hút, ấy là báo hiệu khỏi hẳn bệnh”.
Thấy tôi ngồi dậy được và ung dung rít một hơi thuốc lào do tay anh Thắng sửa soạn điếu đóm, tuy chỉ là một hơi ngắn thôi, mọi người đều reo mừng như nhặt được vật báu. Người mừng đến phát khóc là cô Kim. Bệnh viện trở nên huyên náo. Một số bệnh nhân ở các phòng khác cũng tới tấp đến hỏi thăm rộn rã chúc mừng. Bác sĩ Triền cao giọng: Đậu đen! Đậu đen, cái món tầm thường thế đã đánh bại những phương thuốc nổi tiếng của Tây y!
Chị Mỹ Ảnh lườm ông chồng một cách âu yếm:
Đậu đen! Anh Hoàng Cầm thoát chết nhờ một bát đậu đen rang cháy. Anh Triền nhớ ghi ngay vào sổ tay thầy thuốc của anh đi để khỏi phải bó tay trước cái bệnh lỵ quái quỷ này! E-mê-tin Cơ-lanh (**) của các anh đã thất bại thảm hại chưa?
Trích nhật ký kháng chiến của Hoàng Cầm – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 38 (746) – Năm thứ 36 – 1997

Một nắm đậu đen… Một mạng sống… Một đời thơ_Phần 2

Tôi nhờ anh chạy ngay ra khu phố chợ Phúc Trìu, mua ngay một bát đậu đen sống. Trời thì đã tang tảng sống, cô Kim, cô hàng xóm răng đen của tôi vẫn ngồi ở đầu giường. Chị Mỹ Ảnh và hai cô y tá vẫn ngồi cạnh bệnh nhân ở cái chõng góc nhà. Cô Kim hỏi lại anh Thắng, rồi tôi thấy cả hai người vội vã mở cửa tiếp, đi nhanh ra sân, chắc là cùng rủ nhau ra khu chợ Phúc Trìu cách bệnh viện hơn cây số. Trong lúc vắng anh Thắng thì một cô y tá vẫn chăm lo cho tôi mỗi khi giọt máu tươi trong ruột đòi phải ứa ra. Tập bản thảo tám mươi tờ dùng để lau chùi, ở ngay đầu giường tôi, đến giờ ấy chỉ còn độ sáu bảy tờ. Bản thảo bằng giấy bản dày dặn. Nhưng cả tập đã mỏng đi đến thế, tôi nghĩ ngay rằng có lẽ dùng đến tờ cuối cùng thì tôi cũng ra đi vĩnh viễn (*).
Chừng nửa giờ sau giời đã sáng, cô Kim và anh Thắng mang về một gói đỗ đen. Hai người ghé lại, tôi thì thào dặn mọi việc làm với cái món đậu đen kia đúng như lời bố tôi chỉ dẫn từ lâu. Cô Kim nhanh nhẹn thực hiện phương thuốc cuối cùng cho một người đã khiến cô say mê bằng những vần thơ yêu nước hào hùng, bằng giọng ngâm thấm thía, đầy cảm kích. Anh Thắng lại chăm sóc cho tôi đều đều. Tôi vẫn thấy sức lực trong người mình đã cạn kiệt và còn nguyên cái cảm giác “tháo rỡ các bộ phận một chiếc xe đạp” vì người tôi rời rã hoàn toàn, khó có ngòi bút nào nói hết được cảm giác kỳ lạ của tôi vào cái giờ thập tử nhất sinh này. Trời đã lờ mờ sáng nhưng cư dân trong cái bệnh viện có đến hơn trăm giường này như vẫn im ắng trong đêm. Gần tôi vẫn có thiếng thút thít khóc của một người phụ nữ. Một lát, cô Kim bưng đến cho tôi một bát nước màu nâu đen, khói nghi ngút. Cô đặt bát lên chiếc ghế đẩu bên cạnh giường, rồi đặt tay lên trán tôi, cô nói, như có cái gì nghèn nghẹn ở cổ họng:
Hễ nước bớt nóng: uống được thì anh uống ngay đi anh Cầm nhé, anh phải cố mà sống với chúng em anh nhé!
Nước âm ấm rồi, cô Kim đỡ tôi ngồi hẳn lên, bưng bát cho tôi uống từng ngụm nhỏ và uống hết bát nước đỗ đen rang cháy, nước đặt sệt, chan chát, nhưng không đắng lắm mà lại có mùi thơm. Cái vị thơm tho này là từ tấm lòng hiền thảo, nhân hậu của anh Thắng, chị Mỹ Ảnh và cô Kim tỏa ra để thấm sâu vào người tôi đó chăng?
Tôi cũng vừa uống cạn nước bát nước đỗ đen rang cháy ấy thì một hai rồi ba bốn chị y tá, hộ lý, rồi cả bác sĩ Triền, bác sĩ người Nhật (mà đến nay tôi còn nhớ tên là Ky-u-shi-tô) đều lần lượt ùa vào buồng tôi. Tiếng hỏi han rối rít. Anh Cầm ơi! Có sao không? – Thế nào, anh đỡ chưa, anh Hoàng? – Trời ơi! Anh sút đi nhanh thế! Lạy giời! Anh đừng chết nhá!
Trích nhật ký kháng chiến của Hoàng Cầm – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 38 (746) – Năm thứ 36 – 1997