Cứ là mình

Gió là kẻ lang thang suốt đời, không bao giờ có nơi trú ngự. Gió cùng không nhớ là mình sinh ra từ đâu và kết thúc đời mình ở chỗ nào. Bản thân gió nếu soi vào gương, gió cũng không nhận ra mình nếu soi xuống mặt hồ, gió làm hỏng cả tấm gương phẳng lỳ ấy, làm nước nhăn nheo như làn da của người mấy nghìn tuổi.
Gió bay quanh cánh võng sao mà êm đềm thế. Gió hòa vào lời ca ngọt ngào của mẹ cho cái ngủ có màu mê hoặc thần tiên của cổ tích và âu yếm..
Còn ở ngoài bờ tre, gió khắc khoải nhớ ai mà ngả nghiêng kẽo kẹt, tung xuống đường làng mặt ruộng từng nắm lá xanh lá vàng như những cánh thư hò hẹn gửi những người từng đi bên nhau dưới lũy quê mà nay đường đời chia ngã, con đường khuất nẻo hai phương trời chia biệt phải quằn quại lên trong thương nhớ.
Một tên cường bạo là gió ngoài khơi, thích chơi trò man rợ, lật úp thuyền bè, đẩy chúng vào cái chết.
Một người hào phóng vui tính yêu đời là gió giữa hai núi cao có con đường độc đạo, gió ào ào hun hút thổi khô tảng ngực đẫm mồ hôi của kẻ lữ hành vượt dốc.
Có ai ước đời mình là ngọn gió để được đến muôn nơi, từ cây đa làng, sân thượng tầng cao, ô cửa toa tàu, vườn trưa êm ả, bãi trống chiều thu… vui với trời xuân lồng lộng, buồn với tha ma đêm đông… Không ai, ngoài gió. Có thể ước có một bát cơm nóng hổi, có viên thuốc khi đau ốm, ước được nắm tay người yêu trong đêm trăng, ước thi đỗ, ước ngàn điều vượt cả trăm cuốn sách ước trong cổ tích chỉ có ba điều… Nhưng có ai ước mình thành gióp bao giờ không ?
Và gió nữa, có bao giờ gió ước mình được thành kiếp người không nhỉ ? Gió chả bao gờ biết được những dằn vặt, lo toan, đắn đo, hờn dỗi, xao xuyến, khiếp đảm của kiếp người… Vậy thì gió ơi người vô hình ơi, hãy cư là mình, là kiếp gió mà lang lang cùng vũ trụ… gió nhé…
8-94
Đèo Hải Vân
Bên bắc đèo rét ngọt
Bên nam, nắng đổ trời
Cái rét phải dừng lại
Ở bên này đèo thôi
Có phải là rét sợ
leo đèo toát mồ hôi ?
Đoản văn của Băng Sơn – Sức khỏe & đời sống – Số 22 (678) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Con trai người nô lệ buôn Koh sia

Gia đình tù trưởng Ama Thuột thực ra không phải độc ác. Aê Thuột do không có con gái, đã nhận một nữ nô lệ làm con nuôi, và ngày nay thừa kế toàn bộ tài sản của gia đình ở Buôn Koh sia. Ama Thuột thì cho cả con cái nô lệ đi học. Trong số các con của những gia đình nô lệ ấy, có Y Nuê Buôn Krông (ngày nay là giáo sư – bác sĩ Nguyễn Ái Phương – Viện trưởng Viện vệ sinh – dịch tễ học Tây Nguyên).
Cha mất sớm, mẹ là nô lệ, nên mặc dù được đi học, song gia đình Y Nuê vẫn rất nghèo túng. Ở nội trú Trường tiểu học Pháp – Êđê (nay là trường công nhân kỹ thuật cơ điện Đăk Lăk), mới đỡ một phần cơm. Nhưng ngày chủ nhật, anh vẫn về buôn Koh sia giúp mẹ. Khi săn thỏ, lúc xúc cá, hái rau… Y Nuê hiền lành, tốt bụng nên có nhiều bè bạn. Ngày nghỉ, các bạn cùng lớp xa nhà, như Y Ngông, Y Tam, Y Púk… theo về. Vừa giúp bạn, vừa vui chơi. Buôn Koh sia có một vườn cam, mọi người thường tụ tập ở đó. Vừa nhặt cam ăn, vừa chơi đùa.
Phong trào Việt Minh ở Đăk Lăk lên cao. Nghe theo sự chỉ bảo của các thầy YJút, Y Út… học sinh dân tộc ở Trường tiểu học Pháp – Êđê đã hiểu ra : vì sao gia đình mình phải đi phu ? Vì sao trong trường chỉ được học tiếng Êđê và tiếng Pháp, không được học tiếng Việt ? Cũng không được mặc áo quần như người Kinh, chỉ được mặc khố ? Vì sao Pháp lại in luật tục Êđê ? Chà ! Nó khinh thường và bóc lột người Tây Nguyên mình như thế đó ! Lúc đầu còn rụt rè theo các bạn hội họp đấu tranh chống chính quyền cai trị. Nhưng Việt Minh mỗi lúc thêm có ảnh hưởng sâu rộng. Y Nuê từ chỗ còn “nghe ngóng”, đã dần dần hiểu ra, trở thành một nhân tố tích cực của phong trào. Những ngày đi học trung học ở Quy Nhơn, cùng một số bạn như Y Ngông, Y Tham… Y Nuê cũng bị cắt hết học bổng, vì có tham gia phong trào yêu nước. Sau này anh còn là thư ký Việt Minh của nhóm trí thức dân tộc Êđê, đóng trụ sở tại đường Mai Hắc Đế (nay là khu vực nhà khách riêng của tỉnh ủy Đăk Lăk). Cách mạng Tháng 8 thành công, người y sĩ 22 tuổi ấy được phân công phụ trách bệnh viện tỉnh, và là ủy viên Ủy ban nhân dân giải phóng lâm thời tỉnh Đăk Lăk.
Kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn sôi nổi, tháng 1/1946, Y Nuê Krông chào amí, giã từ làng buôn đi khắp các chiến trường miền Trung và Tây Nguyên, cho đến tháng 10/54 tập kết ra Bắc. Những tên gọi Nguyễn Ái Phương ( Y Nuê), Nguyễn Ái Việt (Y Ngông)… lấy theo lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc có từ đấy. đi một mạch cho đến tận tháng 8/1975 ông mới có dịp bồi hồi ghé về buôn Koh sia, nay chỉ còn lại một người em trai nghèo. Buồn vì tổn thất gia đình, nhưng bác sĩ Nguyễn Ái Phương (Y Nuê càng thêm quyết tâm xây dựng lại quê hương. Ông đưa cả gia đình về Đăk Lăk. 29 năm đi xa, người trai buôn Koh sia đã kịp nhận học vị phó tiến sĩ, học hàm phó giáo sư. Đủ năng lực và trí tuệ lãnh đạo xuất sắc đơn vị khoa học “Viện vệ sinh dịch tễ học Tây Nguyên” trong 21 năm liền cho đến tận giờ nhắm mắt xuôi tay đi về “đất nước ông bà”, và lúc 22h30, ngày 2-5-96, ở tuổi 74.
Cùng với các cán bộ khoa học ở viện (do chính ông tuyển dụng và bồi dưỡng nên), thực hiện thành công nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc, lẫn nghiên cứu, áp dụng vào hoạt động y tế ở vùng Tây Nguyên rộng lớn. Đặc biệt là các chương trình : phòng chống bệnh dịch hạch, tiêm chủng mở rộng, vệ sinh môi trường… Tuổi cao vẫn không ngăn được ông say mê với khoa học, đến với đồng bào các buôn làng xa xôi, hẻo lánh. Với những công lao, đóng góp to lớn vì sự nghiệp y tế vùng dân tộc, giáo sư Y Nuê Buôn Krông đã được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý Thầy thuốc nhân dân, nhiều huân chương, huy chương, bằng khen, giấy khen của ngành y tế trong và ngoài nước. Giáo sư Y Nuê còn mơ ước dựng nên một “tượng đài khoa học” hiện đại, mang dáng vẻ kiến trúc Êđê, nằm giữa trung tâm của vùng cao nguyên đất đỏ. Ông đã toại nguyện khi cắt băng khánh thành công trình “Viện VSDTH Tây Nguyên” tháng 10/95. Đó cũng là một trong những dấu ấn ông gửi gắm tình yêu thương vô vàn cho quê hương Tây Nguyên thân yêu. Trong căn nhà trên đường Nguyễn Đức Cảnh (Buôn Ma Thuột) đại gia đình giáo sư Y Nuê sống quây quần. 10 người con cả gái và rể ông đều là những tri thức giỏi, gắn bó với Tây Nguyên. Các cháu ngoại, thừa hưởng truyền thống, đều là những sinh viên, học sinh xuất sắc.
50 năm theo Đảng, trong cuộc đời hiến dâng cho sự nghiệp y tế, đến tận hơi thở cuối cùng, con trai người nô lệ buôn Koh sia đã bước tới đỉnh cao của vinh quang, xứng đáng là một trong những tri thức hàng đầu của các dân tộc Tây Nguyên. Người Tây Nguyên yêu mến và ghi nhớ công lao đóng góp của ông. Y Nuê Buôn Krông thanh thản yên nghỉ.
H’LINHNIE – Sức khỏe & đời sống – Số 25 (681) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Ở Việt Nam, công cuộc cải cách những năm gần đây đã mang lại cho đất nước những thành tựu to lớn nhưng đồng thời cũng làm cho sự phân hóa giàu nghèo trong các tầng lớp xã hội tăng lên nhanh chóng. Những người nghèo này (là các gia đình phụ nữ đơn thân, trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa, người tàn tật, các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số hay những gia đình gặp thiên tai, tai nạn,…) phần đông trong số họ sinh sống ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng xa vùng sâu có nguy cơ mắc bệnh cao lại thiệt thòi nhiều trong chăm sóc sức khỏe.
Hội phụ nữ rất nhất trí với quan điểm chỉ đạo công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân của Đảng và Nhà nước đề ra là :
Phấn đấu để mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe.
Thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe.
Đảm bảo mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng.
Đối tượng người nghèo, vùng nghèo được khám chữa bệnh miễn phí.
Chăm sóc sức khỏe và giải quyết vấn đề bệnh tật theo quan điểm sự phòng tích cực và chủ động.
Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền.
Phối hợp với ngành y tế tạo ra phong trào sâu rộng trong nhân dân về lĩnh vực sức khỏe.
Đa dạng hóa các hình thức tổ chức chăm sóc sức khỏe – lấy y tế Nhà nước làm chủ đạo.
Từ quan điểm trên, một số biện pháp mà Hội LHPN đã tiến hành trong các hoạt động của mình nằm tiến tới sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh là :
Cung cấp thông tin đầy đủ để người dân biết cách tự bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình.
Tạo các phong trào sâu rộng trong quần chúng nhân dân về lĩnh vực sức khỏe và phong trào đóng góp hỗ trợ các cơ sở y tế :
Phối hợp tham gia công tác chỉ đạo trong các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu của Bộ y tế như : Chương tình tiêm chủng mở rộng, bướu cổ, sốt rét, phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống AIDS, chương trình KHHGĐ,…
Phối hợp với y tế tổ chức khám sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em nhân các ngày lễ lớn như : Ngày quốc tế phụ nữ (8/3), Ngày thành lập hội LHPNVN (20/10), Ngày quốc tế thiếu nhi (1/6) và quyên góp để chữa bệnh miễn phí cho người nghèo.
Nguyễn Minh Phương (Ủy viên Đoàn chủ tịch Tư Hội LHPNVN) – Sức khỏe & đời sống – Số 25 (681) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

10 năm vượt khó của bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Ngoài ra bệnh viện còn là nơi thực hành cho học sinh của Trường trung học y tế tỉnh Lâm Đồng ; là nơi bồi dưỡng chuyên môn và kiểm tra tay nghề cho lương y và các y, bác sĩ trong tỉnh. Hiện nay bệnh viện đã tham gia xây dựng năm cơ sở chẩn trị tại Lâm Hà, Đơn Dương Xuân Trường, phường và cơ sở chẩn trị Hội YHCT tỉnh Lâm Đồng ; đã thực hiện khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho 1.427 dân nghèo, cán bộ hưu trí, vùng căn cứ cách mạng, điều trị chống suy dinh dưỡng có 424 trẻ (tại các nhà trẻ Anh Đào, Mầm non 1, Mầm non 9, Trường Hoa, Phong Lan…) ; Tổ chức điều tra cơ bản khám chữa bệnh cho 2.078 trẻ em bị di chứng bại liệt, bại não và các dị tật khác. Đối với y học cổ truyền công tác dược đóng vai trò không nhỏ trong quá trình điều trị. Bệnh viện đã tự thu mua, khai thác, chế biến gần 100 tấn dược liệu. Tính đến hết quý 1/1996 bệnh viện đã thu mua được gần 77.000 kg dược liệu, bào chế 58.000 kg, chế biến 424.250 thang thuốc dùng cho bệnh nhân ; 135.499 thang thuốc sắc… Có nhiều mặt hàng được nhân dân tín nhiệm ; hà sa địa tạo hoàn, thiên vương bổ tâm, cao phong thấp, bột cam cóc…
10 năm qua, với sự phấn đấu nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên hết lòng vì người bệnh ; họ luôn luôn nêu cao tinh thần : “nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân, chống mọi biểu hiện gây phiền hà, cửa quyền ban ơn, hách dịch đối với người bệnh ; coi bệnh nhân là đối tượng phục vụ chủ yếu của mình. Chi bộ công đoàn, đoàn thanh niên và các tổ chức thường xuyên phát động các đợt thi đua đẩy mạnh mọi hoạt động của bệnh viện chủ yếu tập trung vào công tác khám chữa bệnh, hạn chế tới mức thấp nhất những sai sót về chuyên môn ; hàng tháng bệnh viện tổ chức bình xét thi đua khen thưởng những gương tốt, uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai lệch. Vì vậy chất lượng khám chữa bệnh ngày một nâng cao. Trong các kỳ kiểm tra hàng năm bệnh viện luôn đạt loại khá trở lên. Năm 1995 Bộ y tế tiến hành phúc tra bệnh viện đạt 92,4%. Nhiều cá nhân, tập thể đã được tặng bằng khen của các cấp, các ngành như : Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Bộ y tế, Bộ nội vụ, Liên đoàn lao động tỉnh… Đó là nguồn vui, là thành tích chào mừng 10 năm thành lập của bệnh viện ngày 20-8 tới.
Nguyễn Thu Hương – Sức khỏe & đời sống – Số 25 (681) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Giá trị quả quít

Quả quít tính ôn, vị ngọt, thành phần dinh dưỡng rất phong phú. Toàn bộ quả quít, từ ruột đến vỏ đều sử dụng được. Trong 100 gam quả có khoảng 0,9gam prôtêin ; 0,1 gam chất béo ; 12,8 gam hợp chất đường, 56 miligam canxi, 15 miligam lan ; 0,2 miligam sắt ; B1 ; 0,03 miligam vitamin B2 ; 0,3 miligam vitamin PP ; 34 miligam a xít chống hoại huyết. Thành phần chủ yếu của hợp chất đường ở đây là loại đường saccarôza, đều là những loại đường ăn tốt. ngoài ra, nó còn có cả lượng lớn a xít hữu cơ.
Quả quit còn dùng làm thuốc rất tốt. Thịt quả quít vị chua ngọt, tính mát, có công hiệu khai vị, kích thích thèm ăn, chống háo phổi. Vỏ quả quít trong y học cổ truyền thường gọi là trần bì, thanh bì, có vị đắng, tính ôn, có công hiệu điều khí, tiêu đờm. Trong đó lại có cả những thành phần tinh dầu thơm, là tecpen, chanh, glucôxit vỏ cam, a xít béo. Những chất này đều có tác dụng kìm hãm sự phát triển của tụ cầu khuẩn, hạ huyết áp, giảm bớt nhu động dạ dày và ruột ; đồng thời cũng có tác dụng tốt trong chữa trị các chứng bệnh huyết áp thấp, tác nghẽn cơ tim, gan nhiễm mỡ. Chất glucôxít vỏ cam còn có tác dụng giống như vitamin P, hạn chế xuất huyết ở các mạch máu nhỏ.
Dùng xung điện để chẩn đoán sớm sâu răng
Có thể nói trên thế giới 100% trẻ em bị sâu răng do ăn nhiều chất ngọt, lại không chịu đánh răng buổi sáng và tối trước khi đi ngủ.
Từ trước đến nay, nha sỹ dữa vào hai kỹ thuật để chẩn đoán đóa là khám trực tiếp và nếu cần chụp X quang răng sâu. Nhưng chẩn đoán lâm sàng khó chính xác nhất là khi bề mặt của răng bình thường. Còn chụp phim không phải là hoàn toàn vô hại đối với trẻ em nhỏ tuổi. Vì vậy, gần đây một phương pháp mới dùng kích thích điện dể chẩn đoán sớm sâu răng do giáo sư Christopher Longbotiom và các cộng sự Trường đại học Dundee ở Ecosse (Pháp) khám phá ra.
Ở phương pháp này tính chất phát điện của răng thay đổi khi răng bị sâu, thậm chí sau một thương tổn nào đó có thể dẫn đến sâu răng.
Khi răng không sâu, đáp ứng điện trung bình là 53,70 OHMS. Răng sâu nhẹ, đáp ứng điện xuống còn 3,73 OHMS, và khi sâu nặng chỉ còn 0,31 OHMS.
Suy ngẫm
Nản lòng là cái chết trong tâm hồn.
(Ngạn ngữ Pháp).
Văn Đức (Theo tài liệu giải đáp những vấn đề dinh dưỡng và y học của Trung Quốc) – Sức khỏe & đời sống – Số 24 (680) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

“Bệnh lao” đang phát triển trên mọi nẻo đường

Khoa chấn thương một bệnh viện nọ chợt xôn xao vì một “bệnh lao mới” rất khó chữa. Bác sĩ giám đốc bệnh viện vội xuống thẩm tra. Lục hồ sơ một số bệnh nhân này bác sĩ đọc được những dòng tự khai của người bệnh với phòng khám như sau :
Chị ơi ! Em đi xe máy trong ngõ, em LAO ra, không còi, không xi nhan, phanh thì kém, em LAO vào xe bò đang đi tới, thế là em gãy mất cái chân.
Chị ơi ! Em đi xe đạp, đèo cô em đằng sau, trong ngõ em LAO ra gặp ô tô, em luống cuống LAO thẳng vào xe họ, ngã lăn kềnh, đầu em nó LAO vào bánh sau, em bất tỉnh… lúc tỉnh dậy thì thấy mình nằm ở bệnh viện.
Chị ơi ! Em đi bộ thôi, trên vỉa hè em đi vội, không quan sát đèn tín hiệu, em LAO xuống mặt đường để sang bên kia – em LAO vào xe máy đang phóng đến – xe máy nó LAO vào vùng thắt lưng của em – em đái ra máu, không phải lao thận đâu.
Chị ơi ! Tôi không mắc bệnh LAO. Mấy cậu choai choai xe công nông nó bị bệnh này nặng lắm. Nó trong ngõ lao ra – bỗng nhiên tăng tốc – LAO vào tôi – Chị ơi ! gãy cái xương đùi này bao giờ nó mới liền lại cho, nghe nói tuổi già lâu liền lắm phải không chị ?
Bác sĩ giám đốc trầm ngâm :
Cái bệnh lao này đúng là một bệnh nan y !
Giới thiệu thuốc
PHARMATEX (PHÁP)
Trình bày và thành phần :
Hộp 12 viên nén đặt âm đạo, mỗi viên chứa 20 mg benzalkonium clorid.
Tác dụng :
Hoạt chất trên có tác dụng diệt tinh trùng, nhưng không ảnh hưởng gì đến trực khuẩn Doderlein sống bình thường ở âm đạo.
Chỉ định :
Tránh thụ thai, dung đơn thuần hoặc phối hợp với mũ tử cung.
Cách dùng :
Nhúng viên thuốc vào nước đun sôi để nguội, rồi đặt vào sâu âm đạo (trong tư thế nằm duỗi thẳng), ít nhất khoảng 10 phút trước khi giao hợp (để cho hoạt chất được giải phóng ra hoàn toàn).
Ngay sau khi giao hợp, có thể rửa bên ngoài bằng nước sạch. Tránh rửa hoặc thụt rửa bằng nước xà phòng vì có thể hủy hoại hoạt chất. Nếu muốn thụt rửa bằng nước sạch phải đợi ít nhất 2 giờ sau khi giao hợp để tránh thải trừ hoạt chất đi.
Ghi chú :
Không được dùng thuốc này, nếu có tổn thương ở đường sinh dục nữ.
Do hoạt chất không chuyển vào máu và sữa, nên thuốc này có thể dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con bú. Thuốc này thích hợp cho những phụ nữ không dùng được các viên tránh thai hoặc không đặt vòng tử cung được.
Nguyễn Bá Phiên – Sức khỏe & đời sống – Số 24 (680) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Hướng tới một xã hội cho mọi lứa tuổi

Cùng cả loài người và cũng như mọi năm, ngày 1 tháng 10 năm nay chúng ta vui mừng kỷ niệm Ngày quốc tế người cao tuổi-ngày vẻ vang này được Đại hội đồng Liên hiệp quốc chọn theo Nghị quyết 45/106 năm 1990 và chính thức thực hiện từ ngày 1/10/1991. Nước ta là một trong những nước sớm nhất lên tiếng hưởng ứng quyết định này. Trong lời tuyên bố của mình, chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công lúc đó đã nêu rõ: “Quyết định đúng đắn của Liên hiệp quốc thể hiện mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng thế giới đối với người cao tuổi… Chăm sóc người cao tuổi là một quyết định quan trọng của Đảng, Nhà nước ta. Tuy vậy, nhiều người cao tuổi hiện nay còn gặp khó khăn trong cuộc sống, nhất là những người cô đơn, quả phụ, không nơi nương tựa, những người mức sống gia đình quá thấp. Nhân dịp này, tôi kêu gọi đông bào cả nước quan tâm hơn nữa đối với người cao tuổi, phù hợp với truyền thống “kính lão đắc thọ” của dân tộc ta và mong Đảng bộ, chính quyền các cấp, các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội có chương trình hoạt động thường xuyên tuyên truyền giáo dục nhân dân ý thức chăm sóc, có thái độ và nghĩa vụ giúp đỡ, kính trọng người cao tuổi. Cũng nhân dịp này, tôi xin gửi lời thăm hỏi ân cần tới các cụ phụ lão và nhiệt liệt biểu dương sự đóng góp nhiều mặt của các cụ đối với xã hội và đất nước, chúc các cụ luôn mạnh khỏe, lập được nhiều thành tích hơn nữa xứng đáng với lòng mong muốn và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, trong thư gửi các cụ phụ lão năm 1941: “…Đối với gia đình, đối với tổ quốc, phụ lão có trọng trách là bậc tôn trưởng, đối với hàng xóm, đối với bà con phụ lão có tín hiệu lớn lao. Phụ lão hô, nhân dân hưởng ứng, phụ lão làm nhân dân làm theo…”
Kỷ niệm ngày 1/10 năm nay, Đại hội đồng Liên hiệp quốc gợi ý lấy chủ đề là “Tuổi già và mối liên quan giữa các thế hệ”. Nội dung sinh hoạt của Ngày quốc tế người cao tuổi cũng nằm trong chương trình hành động tiến tới kỷ niệm Năm quốc tế người cao tuổi. Thật vậy, trong Nghị quyết 47/5 ngày 16/01/1992 Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã quyết định lấy năm 1999 là Năm quốc tế người cao tuổi. Quyết định này nói lên tầm quan trọng của vấn đề người cao tuổi trong phạm vi thế giới. Tới cuối thế kỷ này, tuổi thọ trung bình sẽ tăng 20 năm.
GS Phạm Khuê – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 40 (748) – Năm thứ 36 – 1997

Ung thư tuyến tiền liệt

Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những căn bệnh ung thư có tỉ lệ tử vong cao nhất thế giới. Vài năm gần đây đã có mấy triệu người thuộc giới mày râu trên thế giới mắc chứng ung thư tai hại này, mà trong đó không ít người thuộc những nhân vật nổi tiếng trong chính giới hoặc danh nhân quốc tế, như Tổng thống Pháp Franxoa Mitơrăng và lãnh tụ tinh thần của nhân dân Iran Khômâyni đều đã bị căn bệnh này cướp đi sinh mệnh.
Tuyến tiền liệt (prostate) có kích thước nhỏ bé như hạt hạnh nhân nằm cạnh niệu đạo phía dưới bàng quang của đàn ông. Nó có hai chức năng cơ bản: một là cung cấp tinh dịch cho quá trình phóng tinh khi giao hợp, hai là có tác dụng phòng ngự đối với vi khuẩn xâm nhập niệu đạo.
Ung thư tuyến tiền liệt có quan hệ rất lớn với nhân tố di truyền, ví như người Mỹ gốc da đen có tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt cao hơn người da trắng tới 37%. Ô nhiễm môi trường và thực phẩm quá béo cùng thói nghiện rượu, nghiện thuốc lá… là nguyên nhân chính dẫn tới căn bệnh nguy hiểm này. Ở nước ta, trước kia do mức sống của nhân dân nói chung nghèo, lương thực thực phẩm chủ yếu là những thứ ngũ cốc và rau, tỷ lệ chất béo quá thấp, vì vậy mà tỷ lệ người mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt rất thấp. Nhưng trong những năm gần đây, cùng với đà tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế thị trường, đời sống của nhân dân nói chung được nâng lên đáng kể, thành phần dinh dưỡng và chất béo trong ẩm thực thường ngày cũng tăng lên, nên tỷ lệ mắc bệnh ung thư loại này cũng tăng theo một cách đáng lo ngại. Bởi vậy, đã có người đưa ra lời nhận xét khá chính xác: lượng thịt tiêu thụ ngoài thị trường càng lớn thì bệnh viện tiếp nhận bệnh nhân (đàn ông) ung thư tuyến tiền liệt cũng càng nhiều. Ngoài ra, tỷ lệ phát sinh của ung thư tuyến tiền liệt cũng có quan hệ nhất định với nhịp độ sinh hoạt tình dục khoan hay nhặt.
Ung thư tuyến tiền liệt chủ yếu là ung thư tuyến (glande).
Về lâm sàng, triệu chứng chủ yếu của bệnh là đi tiểu rất khó khăn và còn bí đái nữa, rất giống triệu chứng sưng to của tuyến tiền liệt, mà có tới trên 50% các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt có kèm với hiện tượng sưng to tuyến tiền liệt.
Từ những năm 80 trở lại đây, bằng phương pháp hóa nghiệm kháng nguyên đặc trị của tuyến tiền liệt (PSA) người ta đã có thể phát hiện được ung thư tuyến tiền liệt ở ngay thời kỳ sơ phát, giúp cho việc điều trị được kịp thời, nhờ đó đã giảm thiểu rõ rệt các trường hợp tử vong do ung thư tuyến tiền liệt gây nên.
Bùi Hữu Cường – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 40 (748) – Năm thứ 36 – 1997

Đôi điều cần biết về giun chỉ

Bệnh giun chỉ là một bệnh lưu hành ở một số vùng thuộc miền đồng bằng và miền trung du phía bắc nước ta. Tác nhân gây bệnh do giun chỉ Wuchereria bancreofti hoặc Brugia Malayi
Giun chỉ trưởng thành có hình sợi tơ màu trắng. Con cái đẻ ra ấu trùng, ấu trùng tuần hoàn trong bạch huyết và máu bệnh nhân về ban đêm, ban ngày trú ở phủ tạng. Trung gian truyền bệnh gồm các loại muỗi: muỗi Culex fatians truyền W.bancrofti, muỗi Mansonia truyền B.malayi. Muỗi hút máu người bệnh truyền cho người lành qua da
Thời gian ủ bệnh từ 3 đến 6 tháng. Triệu chứng ban đầu không điển hình như: nhức đầu, nặng mỏi các chi, đau vùng bẹn. Những biểu hiện cấp tính là viêm bạch mạch từ gốc ra đầu các chi, viêm hạch, viêm than bạch mạch ở sâu trong lồng ngực, ổ bụng gây sốt và đau. ở bộ phận sinh dục là viêm bạch mạch bìu, viêm thừng tinh, viêm tinh hoàn dẫn đến tràn dịch dưỡng trấp tinh mạc. Ngoài ra còn có những biểu hiện dị ứng như mẩn ngứa, đau khớp
Bệnh tiến triển lâ ngày gây ra những tổn thương đặc biệt
Chứng phù voi là biểu hiện nặng của bệnh do nội mô bạch mạch tăng sinh khiến đường lưu thông bạch mạch huyết bị tắc, bạch huyết tích tụ lại. Tổ chức luên kết dưới da cũng tăng sinh, trở nên xơ cứng. Phù voi thấy ở cá chi trên, dưới, ở bìu to và nặng,… Bệnh gian chỉ ở B.malayi thường gây phù chân voi
Bạch mạch bị giãn phình ở nhiều chỗ. Giãn bạch mạch bể thận, niệu quản vỡ vào các cơ quan này gây ra chứng đái đường trấp màu đục trắng như sữa. nước tiểu có thể có lẫn dưỡng rtap16, bạch huyết và máu màu socola. Phát hiện dò đường dẫn nước tiểu – bạch mạch, chụp thận thuốc hoặc chụp niệu quản bể thận ngược dòng. Dưỡng chấp niệu đe dọa thận và có thể gây tử vong do nhiễm khuẩn suy thận
Chẩn đoán bệnh giun chỉ được xác định khi tìm thấy ấu trùng giun chỉ trong máu ngoại vi người bệnh lấy vào ban đêm. Còn có thể tìm ấu trùng giun chỉ trong nước tiểu màu sữa, trong dịch bạch huyết lấy từ hạch, dịch tinh mạch, bạch hạch bị giãn. Các phản ứng miễn dịch cũng giúp cho chẩn đoán. Yếu tố dịch tễ học trong vùng có bệnh là một căn cứ quan trọng
Về điều trị:
Dung thuốc dietylcacbamazin (DEC), biệt dược là notezin mạng lại hiệu quả. Nếu tổn thương đã thành mạn tính, phải can thiệp ngoại khoa.
Phòng bệnh gồm các khâu:
Vệ sinh môi trường: phải làm sạch ao, hồ quanh nhà; không để nước ứ đọng tù hãm, khơi cống rãnh; diệt muỗi trung gian truyền bệnh. Khi ngủ phải nằm màn
Chú ý phát hiện bệnh nhân và người mang ấu trùng giun chỉ để điều trị
Có thể điều trị dự phòng cho những người sống trong vùng có bệnh lưu hành bằng notezin
BS. Trần Lê – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 19 (675) – 1996

Cần những biện pháp để chọn những bác sĩ có y đức hiện nay

Sự tăng trưởng kinh tế và mức sống của đội ngũ thầy thuốc cũng có vai trò quan trọng trong y đức, vì khi kinh tế càng cao, đời sống cán bộ y tế đã được nâng lên thì y đức cũng được nâng lên theo. Tất nhiên, không phải ở đâu và bao giờ y đức cũng luôn luôn tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng kinh tế và mức sống của cán bộ y tế.
Ngoài các yếu tố trên đây còn đòi hỏi vai trò quản lí của mình bằng luật và các văn bản dưới luật, tăng cường thanh tra, kiểm soát, kịp thời động viên, khuyến khích người làm tốt, xử phạt thích đáng những người vi phạm. Những việc hành nghề quá quyền hạn, quảng cáo sai sự thật, bán thuốc giả, bác sĩ thì vừa khám bệnh vừa bán thuốc, dược sĩ thì bán thuốc không cần đơn cần phải được ngăn chặn kịp thời.
Nghề y là một nghề đặc biệt, vì vậy không phải ai cũng có thể trở thành thầy thuốc được. Điều này cần phải xem xét ngay từ khâu tuyển sinh. Nghề y là nghề nhân đạo, vì vậy nó đối lập với nghề kinh doanh. Những ai có mục đích sẽ kiếm tiền bằng nghề y thì tốt nhất là không nên tuyển họ vào trường. Và trong 6 năm học trong trường đại học hay 3 năm trong trường trung học y, nhà trưởng đủ thời gian để đưa ra khỏi ngành những người thầy thuốc tương lai thiếu đạo đức. Vấn đề là ta có đặt ra không và tiêu chuẩn của người thầy thuốc là gì?
Khi đã ra trường rồi, người thầy thuốc cần được hoạt động trong một hội nghề nghiệp để luôn luôn được sự giám sát của những người đồng nghiệp. Nhà nước nên cho thành lập Hội nghề nghiệp của danh y, như Hội Y sĩ đoàn, Hội dược sĩ đoàn chẳng hạn. Khi một người thầy thuốc vi phạm đạo đức, y đạo trước hết họ phải được xử lý trong hội nghề nghiệp của mình. Tự quản là một hình thức rất hữu hiệu để giữ gìn y đức, y đạo trong ngành y .
Tóm lại, y đức, y đạo đang là vấn đề nóng bỏng của xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Xã hội đòi hỏi người thầy thuốc phải có những phẩm chất đặc biệt. Để nâng cao y đức, chúng ta không thể hô hào chung chung mà phải xem xét nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về y đức và dề ra các biện pháp khắc phục ngay từ khi tuyển chọn cán bộ vào ngành. Cần kết hợp giữa việc quản lý nhà nước và tự quản trong hội nghề nghiệp.
Nguyễn Đức Kiệt – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 19 (675) – 1996