Hội thảo khoa học

Ngày 1-11-1995, Hội tâm thần Pháp – Việt và Trạm tâm thần kinh tỉnh Cần Thơ đã tổ chức Hội thảo khoa học chuyên đề bệnh tâm thần và rối loạn tâm lý khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Dự hội thảo có : Bác sĩ Stephan Dovert phụ trách văn hóa khoa học và hợp tác kỹ thuật các lãnh sự Pháp, giáo sư Michell Legal, tùy viên ngôn ngữ của Bộ ngoại giao Pháp tại Cần Thơ, giáo sư Sylvie Brisson – đại diện Trường không biên giới Pháp, bác sĩ Piere Nguyễn, Trưởng đoàn Hội tâm thần Pháp – Việt và 15 bác sĩ chuyên khoa các bệnh viện, Trung tâm tâm thần ở thủ đô Paris ; lãnh đạo Sở y tế, trưởng trạm, trưởng khoa tâm thần kinh thuộc bệnh viện các tỉnh : Minh Hải, Kiên GIang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bình Thuận… và các bác sĩ chuyên khoa tâm thần kinh trong toàn tỉnh.
Các đề tài : Bệnh lý tâm thần trẻ em, tâm lý học trẻ em, chậm phát triển tâm thần, bà mẹ và trẻ sơ sinh đối với bệnh AIDS, các kiểm tra sinh học, thử nghiệm ELLSA… đối với bệnh tâm thần ở trẻ em từ 0 đến 1 tháng – 72 tháng tuổi ; và một số kinh nghiệm về phòng chống hiện tượng bỏ sót bệnh nhân ở 6 xã thuộc vùng nông thôn nghèo tỉnh Cần Thơ đã được các thầy thuốc tâm thần quan tâm.
Liên danh Việt – Đức đầu tiên về sản xuất dịch truyền ở nước ta
Ngày 17-11-1995 tại Hà Nội, xí nghiệp dược phẩm Hà Nội đã chính thức ký hợp đồng liên doanh với tập đoàn công nghiệp dược phẩm B.Braun Son.BHD. (Đức) về sản xuất dịch truyền. đây là liên doanh đầu tiên về sản xuất dịch truyền ở nước ta ; đồng thời đánh dấu một bước trưởng thành mới của Xí nghiệp dược phẩm Hà Nội. Tổng số vốn đầu tư của liên doanh là 1079 ngàn USD, với tỷ lệ góp vốn bên nước ngoài : 70% ; bên Việt Nam : 30% trong thời hạn 20 năm.
Mục đích của liên doanh đưa ra những sản phẩm đầu tiên về sản xuất dịch truyền tại nước ta đạt tiêu chuẩn quốc tế. trước hết liên doanh tiến hành nâng cấp nhà máy, sửa sang và đưa thêm thiết bị, máy móc để sản xuất dịch truyền : Chủ yếu là các loại glu cô, natri clorua và sau đó tiến tới sản xuất các loại dịch truyền lọc thận, các axid amin… Dự tính đến tháng 4 năm 1996, các sản phẩm dịch truyền của liên doanh sẽ có mặt trên thị trường nước ta.
Chuyển dịch
Một người bạn hỏi nhà văn :
Bà xã cấm ông hút thuốc để giữ gìn sức khỏe vậy ông sẽ đối phó bằng cách nào ?
Tôi sẽ cho các nhân vật nghiện hút thật nặng, coi như họ hút thay cho tôi !
Nếu bà xã góp ý là không nên làm hại sức khỏe nhân vật ?
Tôi sẽ cho các nhân vật chết ở cuối truyện ! Nhà văn trả lời.
BS Trần Quang Thành (Sở y tế Cần Thơ) – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Đội ngũ bác sĩ nhiều kinh nghiệm

Hai là : quân đội ta, các chiến sĩ đều là người làm NVQS (không có lương, chỉ có sĩ quan mới hưởng lương) việc ăn uống là cung cấp. Nên cán bộ, chiến sĩ vào bệnh viện để điều trị lao, đây chỉ là trạng thái tạm thời chuyển đơn vị : Đơn vị mới phải lo cung cấp, ăn uống là điều tất nhiên. Bộ quốc phòng sẽ rót kinh phí cho bệnh viện. Chúng tôi có ba mức ăn : 7.000 đ, 9.000 đ, 9.500 đ/người/ngày. Riêng với bệnh nhân ở mức nhân dân là 3.000 đ/người/ngày. Người trong diện chính sách hoặc người nghèo bệnh viện không thu tiền (số này từ 30 – 40 người). Các đối tượng khác phải trả tiền.
Phóng viên : Năm 1995, bệnh viện đã nâng cấp trang bị được những gì ?
Giám đốc : Chúng tôi đã nâng cấp toàn bộ hệ thống cấp, thoát nước (nước thải có khu vực xử lý) lắp đặt vệ sinh khép kín từng buồng (đủ nước nóng về mùa đông, nước lạnh mùa hè), 100% buồng bệnh có quạt trần, một số buồng cấp cứu có điều hòa không khí, mua 300 màn tuyn, 200 chăn bông, 200 áo bông, 300 đệm và ga trải giường, 200 bộ bát đĩa ăn theo xuất. Năm 1996 chúng tôi tiếp tục mua máy nội soi, máy siêu âm, máy phân tích sinh hóa, huyết học, máy giặt tổng hợp cho khu khử khuẩn liên hoàn và hoàn thành một phòng xét nghiệm kiểm tra nhiễm HIV.
Phóng viên : Xin hỏi một câu cuối cùng – Lao là bệnh lây nhiễm, bệnh viện có đủ CBCNV như Bộ quy định không ? Họ có yêu nghề không ? Hiện nay đời sống CBCNV có được cải thiện ?
Giám đốc : Trên báo Sức khỏe và Đời sống có bài viết “Người thích dây vời hủi”. Bệnh viện chúng tôi có nhiều anh chị “Cả đời dây với lao”, bởi ở đây có nhiều cán bộ có thâm niên công tác ở bệnh viện tới 38 năm. Bệnh viện hiện có 214/220 CBCNV, (2/3 là nữ), trong đó cán bộ đại học 47 người, trung học 59, sơ cấp 9… Chúng tôi chưa dám nhận thêm người vì chưa có chỗ ở tập thể, còn nếu để họ thuê nhà ở thì tiền lương không đủ để trả tiền thuê nhà và tiền ăn hàng tháng. Đời sống của CBCNV chúng tôi còn khó khăn. Ngoài tiền lương theo cấp bậc và phụ cấp ra thì nhiều năm nay không có thu nhập thêm. Cho đến năm 1995 chúng tôi đã tiến hành nuôi thả cá, chăn nuôi gia súc… chỉ cấp đủ cho mỗi CBCNV những ngày lễ tết 50.000 đ để động viên chị em. Nhưng dù sao mấy năm trước khó khăn là thế, vậy mà chúng tôi vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ, ngày nay chúng tôi đang cố gắng nâng cấp cải tạo cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị, chúng tôi tin tưởng rằng chúng tôi sẽ hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn.
Phạm Bật – Báo Sức khỏe và Đời sống – Hà Nội – số 17 (673) – 1996

Cách chữa trị chứng loạn khuẩn ruột

Antibio được dùng khi cân bằng vi khuẩn chí ở ruột bị phá vỡ do dùng kháng sinh hoặc thuốc hóa trị liệu như các trường hợp: lên men bất thường ở ruột, táo bón, trướng bụng viêm ruột cấp hoặc mạn, rối loạn tiêu hóa…
Saccharomyces boulardii: (biệt dược: gói Biofloz của Pháp sản xuất). Men này có ưu điểm về mặt tác dụng lặp lại cân bằng vi khuẩn chí ở ruột như: – Kích thích hệ thống miễn dịch ở ruột; – Tăng hoạt tính của men disaccharidase ở niêm mạc ruột; – Làm cho trẻ sơ sinh mau khỏi tiêu chảy (do làm giảm sự bài tiết nước và ion natri nhanh hơn. Bioflor được chỉ định để điều trị các nhiễm chủng kỵ khí clostridium difficle dễ tái phát; phòng và trị các chứng tiêu chảy và viêm ruột kết do dùng kháng sinh uống, cũng như triệu chứng ruột để bị kích thích.
Một số thức ăn như sữa chua (yaourt), rượu nếp cũng chứa các vi khuẩn và men, có lợi ích cho cân bằng vi khuẩn ở ruột.
Thời tiết ảnh hưởng đến da
Theo một bác sĩ da liễu ở Missouri thì một sự thay đổi thời tiết từ nóng sang lạnh không những đòi hỏi những kiểu mẫu quần áo khác nhau mà còn phải thay đổi cách chăm sóc làn da.
Bác sĩ Dee Anna Glasser, một giáo sư phụ tá thuộc phân ngành Dược nội của Khoa da liễu Trường đại học y dược St Louis cho biết: “Nhiệt độ thấp vào mùa thu và mùa đông kéo theo những cơn gió mạnh và ẩm ướt sẽ thực sự tác động đến làn da. Sự tác hại của ánh sáng mặt trời vẫn có thể xảy ra vào những tháng mùa đông”.
Nhiều người chỉ cần tắm rửa một lần trong ngày với nước nóng có thể rửa sạch những chất dầu do cơ thể tiết ra. Bà cùng đặc biệt lưu ý đến việc dùng những đồ chống nắng vào mùa đông và mùa hè đối với những bộ phận cơ thể thường bị phơi trần ngoài ánh nắng như: tay, mặt, cổ. Theo bà “Trong thời gian trời ấm, cách tốt nhất là đừng nên rửa sạch”. Cũng nên tránh mặc mặc đồ len ở những bộ phận cơ thể có thể phát ngứa hoặc bị viêm bởi chúng có thể tạo khó chịu, nên mặc vải bông hoặc lụa bên dưới đồ lên.
Dược sĩ Vũ Ngọc – Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 12 (668) – 1996

Ngành quân y trên đà phát triển

Hết chiến tranh, trong điều kiện thuận lợi ngành quân y tiếp tục phát huy những mặt mạnh của mình trong nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật. Tính từ năm 1965 đến nay toàn ngành có trên năm nghìn công trình nghiên cứu khoa học, trong đó mười một công trình được tặng thưởng Huân chương chiến công và huân chương lao động, chín mươi sáu đề tài được cấp bằng khen, ba nghìn công trình được phổ biến rộng rãi. Những công trình nghiên cứu như : phòng chống sốt rét, sốt mò, giun xoắn, chữa bỏng … đạt hiệu quả cao và được ứng dụng rộng rãi trên toàn quốc. Đặc biệt những kinh nghiệm trong quản lý và xây dựng quốc phòng toàn dân về y tế, thường xuyên được đánh giá rút kinh nghiệm để các đơn vị học tập. Những kết quả nghiên cứu đã góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị cũng như nâng cao khả năng tự lực của ngành. Những thành tựu trên gắn liền với công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ. Cuối năm 1946 toàn ngành chỉ có sáu mươi ba bác sĩ, y sĩ thì ngày nay số lượng bác sĩ, y sĩ của một sư đoàn cũng nhiều hơn. Ngành đã xây dựng hệ thống trường lớp hoàn chỉnh, đảm bảo để tất cả y tá, bác sĩ đều được qua đào tạo cơ bản. Năm mươi năm qua, toàn ngành có mười tám nghìn bác sĩ, bốn trăm sáu mươi dược sĩ cao cấp, một trăm hai mươi tám thạc sĩ, một trăm năm mươi phó tiến sĩ, một nghìn ba trăm chuyên khoa cấp Một và hai trăm chuyên khoa cấp Hai. Số cán bộ có trình độ đại học, trong đó có hai mươi sáu giáo sư, năm mươi sáu phó giáo sư. Nhiều thầy thuốc quân đội đã tạo niềm tin cho nhân dân, xứng đáng với danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang (năm mươi đơn vị và bốn mươi ba cá nhân). Ngành đã được Nhà nước phong tặng ba mươi hai thầy thuốc nhân dân và một trăm mười bốn thầy thuốc ưu tú. Đó là biểu hiện cao nhất sự tín nhiệm của Đảng, Nhà nước và nhân dân với ngành quân y. Nhiều cán bộ quân y đã cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp của quân đội cũng như cho sự vững mạnh của nền y học như bác sĩ Vũ Văn Cẩn, dược sĩ Vũ Công Thuyết v.v…
Quán triệt đường lối, quan điểm tư tưởng y học của Đảng, kết hợp y học hiện đại với cổ truyền, đoàn kết nội bộ, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân y, đoàn kết quốc tế, đó là nền tảng của những thành tựu to lớn mà ngành đã đạt được.
Bùi Thu Hương – Báo Sức khỏe và Đời sống – Hà Nội – số 17 (673) – 1996

Tâm trạng cha mẹ khi con bị ốm

Ở một số em thường xảy ra những chấn thương lặp đi lặp lại, như là các em ấy cố tình gây ra tai nạn. Đây là biểu hiện của mặc cảm tội lỗi hay lo hãi bị thiến (ở trẻ em trai chẳng hạn).
Kiểu bị ức chế đâm ra thụ động, thoái lui trở về tuổi bé bỏng nhất, buông xuôi chấp nhận sự lệ thuộc hoàn toàn đủ đến tuổi nhận thức được thế nào là bệnh tật, cần chăm chữa vẫn không chịu hiểu : dù lành bệnh vẫn thụ động, trốn học tránh né mọi cố gắng.
Phản ứng tích cực có những cố gắng hợp tác với bác sĩ và y tá trong việc chăm chữa (có những em bé bị bệnh đái đường có thể hàng ngày tự tiêm thuốc cho mình, có em cụt 2 tay biết dùng chân để viết hay đánh máy chữ).
Dù sao mỗi em bé mắc bệnh đều tưởng tượng ra một cách tự lý giải thưởng xoay quanh những mặc cảm tội lỗi trừng phạt.
Về tâm lí phụ huynh
Phía gia đình khi con bị bệnh nặng phản ứng đầu tiên là hoảng hốt, có khi không chấp nhận thực tế. Nhiều người lo sợ chấp nhận thực tế. Nhiều người lo sợ không biết bản thân bố mẹ có tội lỗi gì không, có truyền cho con mầm bệnh hay không, có khi còn nghĩ không biết có ma tà nào ám hại không, tất cả những cảm nghĩ này xen lẫn nhau và tâm trạng ấy có thể kéo dài trước khi có can đảm nhìn thẳng vào sự thật để có những cách đối xử thích đáng. Một điều cần chú ý là về lâu về dài là tránh lấy bệnh tật để lý giải mọi hiện tượng xảy ra trong cuộc sống của đứa con, loại trừ mọi cách nhìn khác, làm cho toàn bộ cuộc sống chỉ xoay quanh bệnh tật, quên mất những việc quan trọng khác.
Quan hệ với thầy thuốc và đứa bé mang những đặc điểm riêng. Bác sĩ trở thành một nhân vật trong bộ ba gồm đứa con – bố mẹ – bác sĩ, có khi được xem như là một ông bố cao cấp (ông siêu bố), có khi được xem như một đối tượng nguy hiểm, nhân vật đáng sợ như trong chuyện cổ tích. Y tá cũng vậy, cũng xem như là người mẹ thứ hai, có khi được xem như mụ phù thủy. Thái độ của gia đình đối với bác sĩ cũng không đơn giản xoay quanh vấn đề tín nhiệm hay không tín nhiệm. Còn xen lẫn ít nhiều ganh tị khi cảm thấy bác sĩ, y tá hoặc chiếm lấy tình cảm của con mình hoặc được con mình xem có uy quyền hơn bố mẹ … Thông thường do bác sĩ, y tá không được đào tạo về tâm lý học quan hệ gia đình chỉ khoanh lại một số điểm về chăm chữa, ít khi trao đổi về tâm tư em bé bị bệnh.
Nguyễn Khắc Viện – Báo Sức Khỏe và Đời Sống – Hà Nội – số 16 (672) – 1996

Mặc cảm sau khi mổ ở trẻ em

Trẻ em ở trong quá trình phát triển tâm lý nhanh chóng, nhiều triệu chứng thật xem là bất thường chỉ là những hiện tượng nhất thời, lớn lên sẽ mất đi ; nhiều triệu chứng ở lứa tuổi này thì bất thường mà ở tuổi khác lại là bình thường. Quan tâm đến những triệu chứng diễn ra ở mức độ cao hay kéo dài. Bức tranh lâm sàng hiện hữu cần được đối chiếu với cả một quá trình tiền sử và không bao giờ tuyệt vọng vì ở trẻ em có những tiềm lực nhiều khi không ngờ được. Trẻ em nào cũng trải qua một số bệnh tật và một vài lần thế nào cũng có tiếp xúc với bác sĩ và y tá, hoặc phải vào bệnh viện. Trẻ thường bày ra trò chơi làm bác sĩ. Đối với những em dưới 3 tuổi chưa nhận thức được thế nào là bệnh tật, chỉ cảm nhận là tiếp xúc với những nhân vật ngoài gia đình đặc biệt bác sĩ, y tá, phải qua một số thử thách như rời xa bố mẹ, vào viện sống trong một khung cảnh xa lạ, phải uống thuốc đắng, tiêm mổ.
Nếu bệnh tình không kéo dài, bố mẹ và bác sĩ, y tá biết cách xử lý thì có thể nói mắc một bệnh nhẹ lại một dịp thuận lợi giúp cho kinh nghiệm vượt qua một thử thách. Nhưng đặc biệt ở tuổi 5 – 6 tháng đến 2 – 3 tuổi nếu phải rời xa mẹ trong một thời gian nhất định đủ ngắn ngủi cũng có thể gây ra tổn thương tâm lý nặng. Các bệnh viện cần phải để mẹ hay một người thân rất quen thuộc vào nằm chung ở viện.
Có những phẫu thuật về mặt thể chất thoạt trông là đơn giản như cắt amidan, cắt bao quy đầu, đặt lại vị trí tinh hoàn nhưng đối với các em lại gắn liền với những mặc cảm, những lo hãi sâu sắc. Đặc biệt là các em có mặc cảm tội lỗi xem đây là những cách trừng phạt và chấn thương tâm lý này có thể là tiền căn cho một bệnh nhiễu tâm về sau. Trong những trường hợp này việc chuẩn bị và chăm sóc tâm lý trước và sau khi mổ đòi hỏi nhiều công phu hơn là bản thân phẫu thuật. Trong những bệnh nặng kéo dài, cần phân biệt tác động của bệnh đối với tâm tư em bé và đối với gia đình. Thái độ và ứng xử của gia đình bình tĩnh , biết chấp nhận thực tế, thông cảm sâu sắc với con nhưng không hoảng hốt, không có những phản ứng bất thường, giúp cho con vượt qua thử thách. Sau 3 tuổi cho đến 10 – 11 tuổi, trẻ mắc bệnh có thể phản ứng theo mấy kiều :
Không chịu chấp nhận là bị bệnh, có thái độ phủ định, từ chối mọi cách chăm chữa, phản ứng giận dữ, hờn dỗi, có khi khiêu khích, cố tình làm những gì bác sĩ ngăn cấm.
Nguyễn Khắc Viện – Báo Sức Khỏe và Đời Sống – Hà Nội – số 16 (672) – 1996

Khả năng thải thuốc kém sút

Cơ quan thải trừ chính của cơ thể là thận. So với người trẻ, ở những người tuổi cao (70-80 tuổi), hoạt động nephron giảm đi từ 1/3 tới 1/2 : lưu lượng máu qua thận giảm từ 47 đến 73%; tốc độ lọc qua cầu thận giảm thấp còn 40-45%. Vì vậy, khả năng thải trừ thuốc và chất độc qua thận giảm, dễ dẫn đến tăng tích lũy và ngộ thuốc độc.
Nhìn khái quát, với cùng một thứ thuốc, dùng một liều lượng như nhau, đối với người cùng lứa tuổi già, có thể ghi nhận những kết quả rất khác nhau. So sánh ở người trẻ với người già thì lại rất rõ: tác dụng và độc tính của một thứ thuốc thường là đến nhanh, mạnh, đó là điều mà người thầy thuốc cần lưu ý.
Để phòng và chữa bệnh, có rất nhiều phương pháp, nếu có phương pháp nào cho kết quả tốt, mà không cần dùng thuốc, thì nên ưu tiên dùng phương pháp đó, không nên hễ cứ nói đến bệnh là nghĩ ngay đến thuốc.
Nếu nhất thiết phải dùng thuốc mới chữa được bệnh, thì nên dùng càng ít loại thuốc càng tốt, lựa chọn thuốc ít độc tính nhất và công hiệu nhất. Đối với người già, trí nhớ kém, nếu dùng nhiều thứ thuốc quá, có thể gây nhầm lẫn, mà uống nhầm thì dễ bị ngộ độc. Trong điều trị nội trú tại bệnh viện, nhờ có nhân viên y tế trực tiếp cho thuốc, có thể tránh được phần lớn những nhầm lẫn. Nhưng nếu gia đình, thì phải triệt để tuân thủ nguyên tắc và thân nhân thực hiện chính xác y lệnh, không được để các cụ tự ý dùng thuốc, dù với bất kì dạng thuốc nào.
Khi đã thấy dùng thuốc cho người già, cần phải suy nghĩ xem nên dùng theo đường nào để được an toàn nhất mà vẫn đảm bảo công hiệu.
Liều lượng dùng thuốc cần phải được xác định thật kỹ, chọn liều thích hợp, tối ưu và luôn nhớ là người già thường đồng thời có rất nhiều bệnh khác nhau cùng tồn tại. Khi chữa bệnh này, không nên quên rằng thuốc có thể gây tác hại cho cơ thể do có bệnh khác.
Khi dùng thuốc nhiều ngày trong một thời gian dài, đối với người già phải thực hiện đầy đủ các chế độ theo dõi kiểm tra, sơ kết, nhận định, đánh giá kết quả từng thời gian và điều chỉnh khi cần thiết. Thực tế cho thấy ở người cao tuổi thường gặp nhiều bệnh mạn tính, dễ có chỉ định dùng thuốc, không phải cho vài ngày,vài tuần, mà có khi trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, dùng từng đợt dài hay ngắn tùy theo bệnh, tùy loại thuốc, tùy kết quả điều trị, nên có những thời gian nghỉ thuốc xen kẽ.
Cơ thể người cao tuổi không thể giống cơ thể người trẻ. Sự hiểu biết về “thuốc với người cao tuổi là hết sức cần thiết để điều trị có hiệu quả, tránh những tai biến đôi khi rất đáng tiếc, tất cả đều phải nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe, nâng cao thêm tuổi thọ con người.
GS.Hoàng Tích Huyền – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 10 (666) – 1996

Dùng thuốc với người cao tuổi

Tuổi thọ ngày càng cao, người cao tuổi ngày càng nhiều. Đi đôi vối tuổi tác, nhiều bệnh cấp hoặc mạn tính cũng xuất hiện. Trên cùng một người cao tuổi, có thể gặp nhiều bệnh khác nhau. Các bệnh này lại xảy ra trên một cơ thể đã có nhiều biến đổi sâu sắc theo năm tháng. Nhưng biến đổi này có đặc điểm cá thể, nghĩa là không xuất hiện đồng thời hoặc đồng tốc ở những người cao tuổi khác nhau. Vì vậy, ta rất dễ hiểu vì sao đã có nhiều người tai biến khi dùng thuốc xảy ra ở người cao tuổi.
Những năm gần đây, thuốc mới tìm ra ngày càng nhiều, đủ loại; người cao tuổi dùng nhiều thứ thuốc cùng một lúc, dùng dài ngày, sẽ gây nhiều tác hại, do đó chúng ta phải quan tâm đến việc dùng thuốc cho lứa tuổi này. Vì một số chỉ tiêu về sinh lí ở người cao tuổi thay đổi, do đó tác dụng và độc tính của thuốc cũng thay đổi theo.
Trong thực tế, tai biến do dùng thuốc ở lứa tuổi 60-70 thường tăng gấp đôi so với tuổi 30-40; trong đó có 1/20 là ngộ độc nặng, ví dụ do uống thuốc chống đông máu, glycosid trợ tim, thuốc tâm thần, thuốc ngủ, chế phẩm thuốc phiện, thuốc chống đái tháo đường và nhiều loại thuốc kháng sinh,… Đó là những tổn thương lưu cữu dai dẳng của những quá trình bệnh lí kéo dài trong suốt cuộc đời đã dẫn đến giảm sút về số lượng những nhu mô và tế bào hoạt tính, làm cho người cao tuổi dễ nhạy cảm với độc tính của thuốc.
Chúng ta hiểu lão khoa là lĩnh vực của khoa “đa triệu chứng”, chứ không thể là lĩnh vực của khoa “đa dược học”: kê một đơn thuốc có nhiều vị là điều cần tránh, vì thuốc vào cơ thể, muốn phát huy tác dụng, phải trải qua quá trình hấp thu, phân phối, chuyển hóa, thải trừ. Khi cơ thể không còn trẻ nữa, những quá trình kể trên có những thay đổi, khiến cho tác dụng thuốc không còn được như trước nữa. Nhìn tổng quát, có thể thấy ở cơ thể lúc “luống tuổi”: quá trình hấp thu vào mô và tế bào đều giảm về cả mức độ và tốc độ: với những loại thuốc uống, có sự giảm hiệu suất hoạt động của hệ tiêu hóa; với những loại thuốc tiêm dưới da và tiêm bắp, có giảm hấp thu do tuần hoàn giảm, thẩm thấu của thành mao mạch giảm, màng tế bào kém thấm, khả năng gắn thuốc vào protein cơ thể giảm.
Quá trình chuyển hóa giảm
Sở dĩ như vậy, vì khối lượng các nhu mô có chức năng giảm (như ở gan những enzym xúc tác cho chuyển hóa thuốc cũng thiếu về số lượng và “già cỗi” về chất lượng. Hậu quả dẫn đến tích tụ những chất chưa được chuyển hóa và gây độc cho cơ thể.
GS Hoàng Tích Huyền – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 10 (666) – 1996

Điều tra về môi trường ở đô thị

Rác
Hiện ở nước ta đã có nhiều trung tâm cai nghiện nhưng kết quả không mấy khả quan. Chi phí cho việc chữa một con nghiện tốn 300 ngàn đồng, nhưng 98% sau đó nghiện trở lại. Ngoài ra nạn tiêm chích còn là nguyên nhân của tình trạng phạm pháp và nhiều bệnh lây truyền. Ở Phan Rang, 80% số người nhiễm HIV là đối tượng tiêm chích ma tuý, 62% can tội trộm cắp, 12% cướp giật. Theo thống kê từ cuối năm 1993 đến nay, lực lượng công an dân nhân đã bắt giữ nhiều vụ vận chuyện ma tuý, đáng chú ý có cả tàu biển nước ngoài vận chuyển 1.094 kg cần sa tinh chế vào các vùng biển Việt Nam.
(Trăm cổng vào một lối ra)
Chúng tôi bắt đầu loạt bài phóng sự điều tra về môi trường ở đô thị – nơi tập trung đông đảo dân cư với mức dộ dày đặc nhất – bằng chuyện RÁC, không hẳn vì lẽ tất cả bạn đọc đều đã rõ : Nó là thứ dễ gây ô nhiễm nhất. Vâng, khi ai cũng rõ rác, là thú dễ gây ô nhiễm nhưng mấy ai quan tâm hiện nay về tính trách nhiệm với thứ ô nhiễm này đang ở cấp báo động.
Khoa học chứng minh rằng trong mỗi ngày, mỗi người có năm phút chợt nghĩ lung tung và xin cácvị hãy dành năm phút đó tưởng tượng rằng : Nếu năm ngày chúng ra không đổ rác ra khỏi diện tích sinh sống của chúng ta thì sẽ ra sao.
Riêng nội thành Hà Nội hiện nay với số dân thường trực (gồm cả khách qua lại) đã lên tới một triệu rưỡi người trên một diện tích bốn mươi ba cây số vuông. Chỉ thải rác thôi sẽ là bao nhiêu. Nhưng thải đi đâu. Đường phố chúng ta hiện đang thiếu những điểm tiếp nhận rác. Tiếng leng keng keng gõ khi ô tô rác đi qua của ngày xưa không còn nữa. Nhiều đường phố hiện nay ngoài nhiệm vụ giao thông đang kiêm thêm nhiệm vụ bãi rác nhỏ để chờ đưa về bãi rác lớn xử lý. Cảnh quan môi trường, giao thông thành phố bị ảnh hưởng đã đành. Những làn xe tránh nhau đè cả lên rác cuốn hất đủ thứ trong đó, thật có trời mới biết dân phố, kẻ đi đường bị cưỡng chế hít thở những gì.
Công bằng mà nói đội ngũ chị em thu gom rác vài năm gần đây làm việc tích cực do cách quản lý và xử lý lương – thưởng của lãnh đạo công ty đang hết sức, hết cách làm sạch những đoạn đường phố được giao. Nhưng dân chúng chắc chắn không chịu sự quản lý của công ty, không bị cắt lương thưởng nên thoải mái đổ đi cái mình không cần vào bất cứ lúc nào.
Lê Quý Hiền – Báo Sức Khỏe và Đời Sống – Hà Nội – số 16 (672) – 1996

Trăm cống vào một lối ra

Cả nước ta hiện có 50 vạn người nghiện, tiêu thụ mỗi năm 25 tấn thuốc, mỗi tháng chi phí 150 tỉ đồng.
Từ thế kỷ 17,18 vùng Tây Bắc nước ta được coi là “cái nôi” của thuốc phiện (cây anh túc), tên khoa học là Papaversomniteum. Tỉ lệ người nghiện hút ở các vùng núi trồng thuốc phiện theo thống kê là 1,52 – 1,97%, cá biệt có xã chiếm tới 90% dân số trong khi ở các tỉnh, thành phố là 0,3 – 0,5% dân số. Tính chung, cả nước ta hiện nay có khoảng 50 vạn người nghiện, tiêu thụ mỗi năm 25 tấn thuốc, tiêu phí mỗi tháng 150 tỷ đồng. Giám đốc Trung tâm cai nghiện tỉnh Lai Châu cho biết : “Nàng tiên nâu đã thâm nhập vào từng nhà và mọi lứa tuổi như Hà Xuân Sơn, con trai một bác cán bộ thuộc sở văn hóa, mới 17 tuổi đã có 5 năm nghiện hút, hay trường hợp 13 gia đình người Mông vì nghiện hút mà lâm vào cảnh màn trời chiếu đất”. Thực tế tình trạng này còn tồn tại là do tập quán, thói quen và khả năng tự cung cấp cho nhu cầu bản thân của các đối tượng ở vùng cao. Sau nữa, do thuốc phiện có giá trị cao, lao động lại nhàn, trong năm chỉ phát lương qua loa, đợi đến gần Tết gieo hạt, khỏi phải bận tâm tới việc chăm bón, sáu tháng sau có thể thu hoạch nhựa thuốc phiện nên nhiều gia đình tham vọng làm giàu và họ thực sự đã giàu : riêng Điện Biên (Lai Châu) từ trồng thuốc phiện, các gia đình đã sắm được 90 xe máy. Theo số liệu điều tra của Liên Hiệp Quốc, tổng diện tích gieo trồng anh túc ở chín tỉnh trọng điểm nước ta là 14,57 ha.
Ở thành phố, việc kinh doanh tiêm chích, buôn bán ma tuý cũng đem lại lợi nhuận lớn. Các chủ chứa chỉ mua một viên thuốc phiện 800 đồng bán 1.000 đồng, mỗi người nghiện dùng 50 viên/ngày, chủ lãi 10.000 đồng/người/ngày. Hoặc mua sái thuốc phiện 300 ngàn đồng đổ nước lã lọc lấy 750 cc rồi tiêm lãi 560 ngàn. Do lợi nhuận cao như vậy nên nhiều nhà chủ đã bị bắt một lần nhưng vẫn không bỏ nghề… Vậy là không chỉ các con nghiện, cả những người buôn bán, những chủ tiêm chích đều đánh mất mình trong ảo ảnh “nàng tiên nâu” đầy quyến rũ.
Nạn ma túy đang hoành hành như một dịch bệnh, sức cám dỗ tác động đến nhiều đối tượng thuộc nhiều thành phần xã hội. Riêng trong thành phố Hồ Chí Minh, 8% số con nghiện có nghề nghiệp ổn định, 30% không ổn định, 62% lệ thuộc vào gia đình, các đối tượng có trình độ đại học, trên đại học 2%.
Mai Anh – Báo Sức Khỏe và Đời Sống – Hà Nội – số 16 (672) – 1996