Trị mụn nước cho trẻ

Trẻ bị lở nổi mụn ở đầu chảy nước, đóng vảy và có mủ. Có khi thành từng lớp như phân trâu khô, dưới sinh mủ đặc. Lúc mới nổi mụn chưa nung mủ, thì dùng lá đào nấu nước kỳ rửa rồi giã hạt mướp đắng hay dùng lá đào nấu nước kỳ rửa rồi giã hạt mướp đắng hay lá nhài rồi đắp vào băng lại.
Khi đã thành mô dầu có vảy dày thì nấu thồm lồm gai lấy nước kỳ, rửa sạch, rồi lấy củ khoai sọ, cạo sạch vỏ, giã nhỏ đắp vào, băng lại để nguyên không thay băng, không cho trẻ gãi; ở trong sẽ ra da non, sau vảy khô bong ra thì khỏi. Nếu không có khoai sọ, giã lá thồm lồm gai và lá nhài thật nhỏ, đắp vào chỗ lở, băng lại như trên.
Thuốc chữa ung thư hứa hẹn từ thực vật
Trong việc nghiên cứu tìm kiếm những thuốc chữa ung thư từ thực vật, gần đây các nhà nghiên cứu đã nhận thấy nhựa một loài thông có tên là Taxus Bervifolia mọc hoang ở châu Mỹ có rất nhiều hứa hẹn. Nhựa này được đặt tên là Taxol có tác dụng ngăn cản sự phân chia của tế bào ung thư, đồng thời cũng có hiệu quả trong điều kiện u hắc tố (melanome), bệnh máu trắng và các u ở phổi hoặc ở buồng trứng.
Tuy nhiên, việc khai thác loại nhựa này gặp nhiều khó khăn. Muốn có một lượng nhựa Taxol cần thiết cho một lần điều trị, phải có 60kg vỏ cây, tương đương với 3 cây thông trưởng thành, mà loại thông này phải sau 100 năm mới có được độ lớn cần thiết. Cũng vì vậy các nhà thực vật học ở ven Đại Tây Dương đã cực lực phản đối việc khai thác những cánh rừng thông hiếm hoi này sợ tiêu diệt mất một loài thực vật quý.
Để khắc phục khó khăn trên cần phải nghiên cứu một biện pháp thay thế. Qua nghiên cứu, hãng dược phẩm Rhôme Poulenc của Pháp đã phân tích các chất trong nhựa cây thông này và đã tìm ra được chất thứ hai, chất Taxotere. Đó là một chất có tác dụng tương đương với chất Taxol nhưng không phải được chiết xuất từ vỏ cây mà từ lá của cây thông, mà lá cây thì luôn luôn có thể mọc lại nhanh chóng không quá hiếm như vỏ cây.
Hiện chất Taxotere đã được dùng điều trị thử nghiệm trên bệnh nhân ở Pháp, Mỹ, Nhật Bản và một số nước châu u; kết quả thu được cho đến nay rất hứa hẹn. Tuy vậy vẫn còn quá sớm để khẳng định công hiệu của thuốc loại này, mà còn cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm 3-4 năm nữa.
Kim Minh – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Chụp điện quang ở hà nội

Từ năm 1988, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường nhiều thành phần đã ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống khám chữa bệnh trong ngành y tế. Đặc trưng của kinh tế thì trường là cạnh tranh, tự do mua bán. Trong lĩnh vực y tế cũng vậy, người bệnh được quyền tự do lựa chọn thầy thuốc khám bệnh, tự do mua thuốc chữa bệnh. Do đó việc ra đời hệ thống y tế tư nhân là rất cần, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, của xã hội góp phần làm giảm tệ nạn cửa quyền, hạch sách ở một số người trong nghành y tế… đồng thời khi Nhà nước chưa đủ đầu tư nâng cấp y tế, sự ra đời y tế tư nhân cũng làm giảm gánh nặng cho các cơ sở y tế Nhà nước. Chính vì lẽ đó, năm 1993. Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân. Song sự ra đời y tế tư nhân chụp điện quang, chuẩn đoán bệnh cũng là mối lo ngại.

Máy điện quang là con dao hai lưỡi, nó giúp nghành y chuẩn đoán bệnh, nhưng khi máy hoạt động phát ra tia X, tia này rất nguy hiểm. Nếu tiêp xúc lâu ngày ở liều thấp vẫn có khả năng gây ung thư và ảnh hưởng đến di truyền, với liều cao hơn có thể gây suy giảm tủy xương nặng. Ngày nay, người ta đã thấy những trường hợp bị bệnh bạch cầu (unh thư máu), u tủy tăng lên đáng kể ử những nhân viên X quang. Ngoài ra còn xuất hiện cả ung thư tuyến giáp, ung thư vú… Tiếp xúc với bức xạ ion hóa ở liều vừa cũng có thể gây quái thai… Do tính chất nguy hiểm như vậy việc đảm bảo an toàn bức xạ ion hóa đòi hỏi một cách hết sức nghiêm ngặt, các cơ sở chụp X quang phải chấp hành nghiêm túc quy phạm an toàn đã được Nhà nước quy định. Cơ sở phải có buồng đặt máy có diện tích 20m2, phòng điều khiển máy, phòng rửa phim, phòng ngồi chờ cho bệnh nhân phải riêng biệt. Tường phòng làm việc phải dày. Tốt nhất xây gạch ba – rít hoặc trát  vữa ba – rit để chắn tia bức xạ xuyên ra ngoài, các cửa ra vào, cửa sổ phải được che tấm cao su chi, trần nhà có quạt thông gió…

BS Nguyễn Đức Đàn ( Trung tâm VSPD Hà Nội) – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Các bệnh ung thư

Một số tác giả chuyên nghiên cứu về mối liên hệ giữa vitamin và tử vong do ung thư đã đưa ra những nhận xét rất đáng lưu ý:

Tỷ lệ caroten huyết thanh (còn gọi là tiền vitamin A) thấp ở những người mắc ung thư nhất là ung thư phế quản và dạ dày. Ở những người trên 60 tuổi, nguy cơ mắc bệnh và tử vong do ung thư có liên quan đến tỷ lệ vitamin A, C trong huyết thanh thấp càng rõ rệt.

Vitamin A, C và bêta-caroten được xem là những vitamin chống oxy hóa, có tác dụng ức chế sự hình thành trong dạ dày các nitrosamin từ các nitrat, nitrit, amin thường gặp với số lượng nhỏ trong thức ăn, gặp nhiều trong các thực phẩm giầm tâm, hong khói-muối thịt bảo quản. Một số nghiên cứu nêu vấn đề có sự kết hợp cao do ăn nhiều các nitrat và nitrit với ung thư thực quản, dạ dày. Các nitro-samin và hợp chất N. nitroso là những chất gây ung thư mạnh trên súc vật.

Vitamin A có trong gấc, cà rốt dưới dạng anpha, bêta và gama caroten. Khi vào cơ thể do các enzym ở gan, caroten được chuyển hóa thành vitamin A, vitamin A còn có trong dầu gan cá, lòng đỏ trứng, cám…

Vitamin C có nhiều trong thiên nhiên, hoa quả tươi (cam, bưởi, cà chua, quýt), trong rau xanh (su hào, xà lách)

Nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng ăn rau, hoa quả có vitamin C, caroten làm tăng khả năng bảo vệ chống ung thư dạ dày. Điều này đã được xác định bằng thử nghiệm trên súc vật. Ngoài vitamin C và caroten, rau và hoa quả còn có những thành phần khác chống oxy hóa.

Giả thiết về tác dụng bảo vệ chống ung thư phế quản của vitamin A và caroten tiếp tục được nghiên cứu xác minh trên hàng ngàn đối tượng tại Phần Lan bằng các nhóm đối chứng. Hiện nay những công trình có tầm cỡ lớn bao gồm hàng chục vạn đối tượng nam nữ nhằm mục tiêu làm sáng tỏ mối liên hệ giữa chế độ ăn và ung thư đang được tiến hành tại châu Âu.

Có điều nên biết là nếu giữ một chế độ ăn gồm nhiều rau, ngũ cốc, ăn cá, dùng dầu thực vật thay mỡ, ăn hoa quả sẽ làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch kể cả ung thư đặc biệt đối với những người trên 60 tuổi.

Đâu phải là kẹo bể

Gần đây, Trung tâm giải độc nước Mỹ đã phát hiện một số cái chết khác thường không rõ nguyên nhân của trẻ em ở Taxas. Nạn nhân đều là trẻ em từ 3 đến 6 tuổi, bình thường vẫn khỏe mạnh, không mắc bệnh tật gì nguy hiểm cả. Sau một thời gian điều tra và làm các xét nghiệm cần thiết, các thầy thuốc đã đi đến một kết luận rất bất ngờ: các em đã bị chết do ăn quá nhiều kẹo có chất sắt !

BS Trần Lan (theo tài liệu nước ngoài) – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Tác dụng chữa bệnh của dưa chuột, chuối xanh

Do màng nhầy dầy lên, nên dạ dày không bị loét hoặc bị loét rồi có thể lành. Theo một công trình nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng học Trường đại học Cambridge ở Anh cho hay, tinh bột có trong chuối có tác dụng phòng bệnh ung thư. Loại tinh bột đặc biệt này có khả năng chống lại các enzym tiêu hóa trong ruột. Khi nó đi tới kết tràng sẽ lên men do tác động qua lại của vi khuẩn. Sự lên men này có tác dụng ngăn chặn ung thư. Người ta giải thích rằng, trong số các axit béo được tạo ra do sự lên men của tinh bột có chất butirat kìm hãm sự hình thành các tế bào độc hại. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với thực tế là ở Trung Quốc và Ấn Độ, số tinh bột tính theo đầu người nhiều gấp 4 lần ở Mỹ và bị ung thư kết tràng ít hơn 4 – 5 lần…

Như vậy, rõ ràng dưa chuột và chuối có nhiều lợi ích. Các loại quả đó ở ta có rất nhiều, giá rẻ, ai cũng có thể sử dụng. Dĩ nhiên, phải dùng nhiều và thường xuyên mới có tác dụng phòng chữa bệnh.

Chữa bệnh theo y học cổ truyền

Viêm phế quản mạn tính

Y học cổ truyền chia làm hai thể: phế hư nhiệt và phế hư hàn.

1. Phế hư nhiệt:

Triệu chứng: ho không kịch liệt nhưng thường kéo dài hay tái phát mỗi khi thời tiết xấu hay người mệt nhọc. Thường kèm theo các dấu hiệu suy nhược, cơ thể thấy mỏi mệt, ho khan không đờm hoặc đờm đặc khó khạc ra, nước tiểu vàng, táo bón, lưỡi đỏ, lòng bàn tay, bàn chân ấm hoặc nóng, mạch nhanh hơn bình thường.

Bài thuốc kinh nghiệm: Nam sâm 15 g, mạch môn 10 g, ngũ vị tử 5 g, cát cánh 12 g, hoài sơn 20 g, kim ngân hoa 15 g, cam thảo 5 g. Mỗi ngày một thang, sắc uống. Nếu có táo bón thì thêm một thìa cà phê muối 15 g sao qua.

2. Phế hư hàn (viêm cục bộ):

Triệu chứng: ho không kịch liệt, hay tái phát khi gặp lạnh, mệt nhọc, thường kèm theo các dấu hiệu hàn tính. Thường mỏi mệt, sợ lạnh (cả khi không phát sốt), ho có đờm loãng để khạc, nước tiểu trong, có thể phân lỏng nát, lưỡi nhợt, lòng bàn tay bàn chân mát hoặc lạnh mạch chậm hơn bình thường.

Bài thuốc kinh nghiệm: Sâm bố chính 15 g, hoàng kỳ 10 g, bạch truật 20 g, trần bì (vỏ quýt) lâu năm 10 g, viễn chí 10 g, ngũ vị tử 5 g, bán hạ chế 10 g, cát cánh 12 g, cam thảo 5 g. Các vị sắc uống ngày 1 thang. Nếu thấy phân lỏng cho thêm kha tử 10 g. Nếu thấy ăn kém, thêm mộc hương 10 g.

BS Thuận Minh – Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Hóa chất bảo vệ thực vật

Kết quả phân tích của Viện dinh dưỡng trong 10 năm gần đây cho thấy trong 269 mẫu thực phẩm được phân tích đã phát hiện được 30 mẫu đậu đỗ, lạc củ, dưa tê, rau muống, cải bắp, xuplơ, tôm bị ô nhiễm 666, wofatox, diazinon với hàm lượng 0,1 – 5ppm hoặc cao hơn.

Ngày 4-12-1993 tại huyện Phú Tân, An Giang chỉ một ghe thuyền cải bẹ chở ngang sông Tiền bán cho 3 xã dọc quốc lộ 30 thuộc huyện T.N đã gây ngộ độc trên 220 người do HCBVTV kể cả các cụ già và cháu nhỏ 9 tháng tuổi do mẹ cho uống nước canh rau… phải đưa cấp cứu tại bệnh viện.

Trước tình hình trên, để chủ động bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và môi trường sống, đảm bảo an toàn trong sử dụng HCBVTV :

Trước hết, nghành công nghiệp cần tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ các HCBVTV. Chỉ nhập hoặc sản xuất các loại HCBVTV có hiệu quả cao đối với sinh vật gây hại, nhưng ít độc đối với người và động vật.

Tăng cường giáo dục và hướng dẫn kỹ thuật để đảm bảo an toàn cho người sử dụng và người tiêu dùng. Với các loại rau quả tươi ăn ngay không qua nấu nướng phải thực hiện nghiêm các biện pháp sau :

Tôn trọng và đảm bảo thời gian cách ly quy định đối với từng loại HCBVTV đối với từng loại rau quả. Với rau quả như xuplơ, cải bẹ, xà lách, cải bắp, cải xanh nghi ngờ phun HCBVTV cần phải rửa sạch, ngâm nước nhiều lần. Với loại rau quả có vỏ cứng vẫn phải rửa sạch rồi mới cắt bỏ vỏ.

Chủ động phối hợp chặt chẽ giữa nghành nông nghiệp và y tế từ cơ sở để kiểm tra việc phân phối và sử dụng, ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm an toàn trong sử dụng HCBVTV.

Thế đại bàng áp tổ

Động tác :

Hai tay cùng đưa từ phải sang trái, ấn nhẹ vào ngực và bụng trên lên xuống trái phải, quay đi quay lại.

Hai tay cùng đưa từ trái sang phải, ấn nhẹ vào ngực và bụng trên lên xuống phải trái.

Số lần : hướng phải hướng trái đều từ 24 đến 36 lần.

Chú ý : Mỗi lần thở ra và hít vào, hai tay quay một vòng.

Thân mình vươn thẳng, nhưng không dùng sức.

Hai mắt nhìn lên phía trên một chút.

Hai tay chuyển động và ấn nhẹ nhàng, không nên dùng sức.

Tác dụng : Điều trị tràng vị, yên định tâm tiêu. Chữa bệnh tức ngực, đầy bụng, ăn uống kém. Thông qua việc luyện tập theo thế này, có thể giúp cho việc vận động tràng vị được tốt, khôi phục lại bình thường nhưng khi bắt đầu nên ấn và vỗ nhẹ. Sau đó mạnh dần. Nếu nghi ngờ bị thủng dạ dày không nên dùng thế này.

PGS Phan Thị Kim – PGS Bùi Minh Đức (Viện dinh dưỡng) – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Phát hiện mới về tác hại của khí thải ô tô

Trong khí thải ô tô có chất phóng xạ
Tác hại của khí thải ô tô với sức khỏe con người đã được y học xác nhận từ lâu. Qua nghiên cứu người ta thấy trong khí thải này nhiều hơn khí độc, đặc biệt là oxyt cacbon (tới 1 -1,3% toàn bộ khí thải) và hỗn hợp chì từ các chất gia phụ (rất độc, chiếm khoảng 0,05 mg/m3 khói thải). Cũng vì vậy khí thải ô tô là nguyên nhân chính làm nhiễm độc bầu không khí các thành phố đông dân, xe cộ đi lại ngày đêm như mắc cửi, gây nguy hiểm cho sức khỏe người dân đô thị, và trong điều kiện tác động nhất định có thể gây tử vong.
Gần đây, các nhà khoa học ở Trường đại học Bristol (nước Anh), đã tách được Polonium 210 từ khí thải ô tô – một chất phóng xạ nguy hiểm, rất có thể là nguyên nhân gây ra một số loại ung thư cho nhân dân các nước công nghiệp, nhất là tại các thành phố lớn đông dân, mật độ ô tô và xe có động cơ quá cao.
Các tác giả đã đo được tia anpha này cách những trục giao thông chính tới 10 kilômet. Tại Bristol, ở hai bên quốc lộ M4 và M5 – nơi dòng ô tô đi lại không ngớt, nồng độ Polinium cao hơn ở trung tâm Bristol tới 20 lần.
Kết quả nghiên cứu còn cho biết trong khí thải ô tô không chỉ có chì, polonium mà còn có cả chất phóng xạ uranium 238 trong những sản phẩm làm nhiên liệu này.
Từ lâu y học đã biết tia anpha cường độ cao là một trong những nguyên nhân gây ung thư máu, ung thư não, ung thư thận và một số ung thư khác. Có thể khí thải ô tô đã góp phần quan trọng vào tỷ lệ mắc và chết do ung thư ở các nước công nghiệp phát triển hiện nay.
Phối hợp các vitamin để chống ung thư da
Kedar Prasat và nhóm cộng sự ở Trường đại học Denver (Colorado) vừa đưa ra một hỗn dược có 4 thứ vitamin (C, E, bêta carotene, A), với liều lượng không gây độc, có tác dụng làm giảm sự phát triển của tế bào u hắc tố (mélanome) của người trong ống nghiệm.
Một sự phối hợp như thế nào cũng làm tăng lên kết quả chống các khối u của 4 loại thuốc sử dụng trong liệu pháp.
Các nhà nghiên cứu cho rằng bằng hóa liệu này có thể tăng cường hiệu quả điều trị và giảm được liều lượng thuốc men và độc tính của nó.
Cuối cùng, xin “mách nhỏ” với các bậc cha mẹ rằng: hiện nay, các đồ ăn, thức uống có pha đường trên thị trường như kẹo, bánh, kem, nước giải khát, ô mai… thường dùng đường hóa học một cách vô tội vạ, không theo một tiêu chuẩn khoa học nào. Do vậy, nếu cho trẻ ăn quá nhiều những thứ kể trên, tất không tránh khỏi nguy hại.
Chúc Phong – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Môi trường bị ô nhiễm là nguyên nhân gây ra bệnh tật

Tại các nước đang phát triển, nguyên nhân chủ yếu gây tử vong nhiều, là các bệnh nhiễm khuẩn và bệnh truyền nhiễm. Hàng năm, có tới 17 triệu người chết về các bênh này, trong đó 6,5 triệu người chết vì các bệnh hô hấp cấp, 4,5 triệu người chết vì bệnh tiêu chảy và 3,5 triệu người về lao phổi. Trong đa số các trường hợp, tử vong do bệnh tật thường bắt nguồn từ tình trạng thiếu dinh dưỡng và điều kiện môi trường quá kém, đặc biệt là nước bị ô nhiễm đã gây ra tới 1 tỷ ca tiêu chảy hàng năm, trong đó có khoảng 2 triệu trẻ em bị chết.
Tại các nước công nghiệp, gây tử vong nhiều nhất là các bệnh tim, mạch làm chết hàng năm tới 5,5 triệu người. Các bệnh này liên quan nhiều tới chế độ ăn uống và lối sống.
Nói chung do có khoảng cách giữa giàu nghèo, cho nên dù là trong nước phát triển hay đang phát triển, những người nghèo vẫn thường gặp nhiều khó khăn hơn. Ngay như ở Mỹ, trong khi có một phần ba số người da trắng sống ở những nơi bị ô nhiễm bởi khí CO, thì người da đen phải tới một nửa. Tại các nước phát triển, cứ khoảng 400 người dân có một bác sỹ, còn tại các nước đang phát triển thì phải khoảng 7000 người dân mới có một bác sĩ. Con số này tại vùng Cận Sahara ở châu Phi lên tới 36.000 người. Đối với nước ta, con số này vào khoảng 3000.
Về mặt môi trường, đối với cá nước đang phát triển, mối đe dọa chủ yếu đối với sức khỏe là vấn đề nước, cả về số lượng và chất lượng. Đối với một số vùng, nạn khan hiếm nước là nguyên nhân quan trọng gây ra nhiều bệnh tật; còn đối với nhiều quốc gia, nước bị ô nhiễm, nước có chất lượng thấp là vấn đề phổ biến.
Nước thường bị ô nhiễm do các chất thải chưa được xử lý đã bị tống xuống các ao, hồ và dòng chảy, trước hết là những chất thải sinh hoạt, chủ yếu gồm các chất thải hữu cơ, thậm chí cả các loại vi khuẩn, dầu mỡ và các hóa chất dùng trong đời sống hàng ngày. Đây thường là nguyên nhân chủ yếu gây các bệnh cho con người, như bệnh tiêu chảy, bệnh tả, bệnh ký sinh trùng đường ruột, thương hàn, đau mắt… Đã có tài liệu đánh giá rằng, tỷ lệ nhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ bị ô nhiễm giun đũa lên tới 80%. Sự phân hủy các chất gây ô nhiễm sẽ làm giảm lượng ôxy hòa tan trong nước, đe dọa sự sống của các sinh vật dưới nước, vốn là nguồn thức ăn của con người. Tại Trung Quốc, người ta đã khảo sát 15 con sông chảy qua các thành phố lớn, và thấy rằng chỉ có 5 con sông có thể có cá để đánh bắt.
Hồng Ngọc – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995

Phấn đấu đến năm 2000 chỉ tồn tại những bệnh thông thường

Bệnh sốt rét ở nước ta cũng nằm trong bối cảnh chung của các nước nhiệt đới đang phát triển, có bệnh sốt rét. Dân số nằm trong vùng sốt rét khoảng 35 triệu ; trong đó có 15 triệu người nằm trong vùng có sốt rét lưu hành nặng chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồi núi, Tây Nguyên – nơi đồng bào các dân tộc ít người sinh sống và ở đó kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Bệnh sốt rét đã quay trở lại và xảy ra nghiêm trọng nhất vào năm 1991 : cả nước trên 1 triệu người mắc, 147 vụ dịch, 4646 người chết do sốt rét. Trước tình hình bệnh sốt rét đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và chính phủ, tháng 4 – 1992 Chương trình phòng chống sốt rét (PCSR) quốc gia đã được thành lập.

Qua hơn ba năm hoạt động, chương trình PCSR đã thu được kết quả bước đầu : Năm 1992, số người mắc là 1372350 ; số vụ dịch 104 ; số người chết do sốt rét là 2645. Năm 1993, số người mắc 1111452 ; số vụ dịch 69 ; số người chết do sốt rét là  1062. Năm 1994, số người mắc là 860.999 ; số vụ dịch 8 ; số người chết do sốt rét là 604 người.

Đến nay chúng ta đã khẳng định được : Sự bùng nổ của sốt rét đã bị chặn đứng và bước đầu bị đẩy lùi. Năm 1994 so với năm 1991, số người mắc sốt rét giảm 21% ; số người chết do sốt rét giảm 87% ; số vụ dịch sốt rét giảm 94,4%. Có được kết quả trên là nhờ sự đầu tư của Nhà nước cho Chương trình PCSR ngày càng tăng, năm 1991 : 6 tỷ đồng ; năm 1992 : 35,6 tỷ đồng ; năm 1995 : 51,4 tỷ đồng ; năm 1994 : 60 tỷ đồng và đến năm 1995 dự tính là 70 tỷ đồng. Được sự quan tâm lãnh đạo sát sao của các cấp ủy Đảng và chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, Hội chữ thập đỏ Việt Nam, sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân và sự giúp đỡ của quốc tế, nghành y tế đặc biệt là hệ thống chuyên khoa sốt rét từ Trung ương tới địa phương đã tăng cường công tác giảm sát dịch tễ, phát hiện sớm, điều trị kịp thời, chú ý tới các vùng trọng điểm.

Tuy nhiên bệnh sốt rét còn diễn biến phức tạp trên diện rộng. Năm 1994, còn 13 tỉnh có số mắc tăng hơn so với năm 1993, gồm : Lai Châu, Hà Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Ninh Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận, Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng.

Phạm Bình – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Chỉ đạo phong trào thuốc nam

Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã có chủ trương: Đổi mới tổ chức, chỉ đạo phong trào thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Bộ Y tế tiếp tục khẳng định: Phát triển sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc của YHCT tại cơ sở y tế và cộng đồng vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành trong những thập kỷ tới để bảo vệ sức khỏe nhân dân trong cộng đồng.

Ngày 6-7-1990, Bộ Y tế đã có Chỉ thị số 11/BYT-CT chỉ đạo các địa phương khôi phục và đẩy mạnh việc sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc của YHCT để chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng. Mục tiêu của chỉ thị này là phải xã hội hóa việc sử dụng YHCT dân tộc – CSSK cộng đồng.

Hưởng ứng chỉ thị của Bộ Y tế, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội chữ thập đỏ Việt Nam đã phối hợp với Bộ Y tế hướng dẫn hội viên của mình đẩy mạng cuộc vận động sử dụng thuốc nam và các phương pháp không dùng thuốc YHCT chữa những bệnh thông thường mới mắc tại gia đình theo tinh thần đổi mới phù hợp với phát triển kinh tế của gia đình.

Để triển khai chỉ thị 11, từ năm 1992 đến nay Bộ Y tế (Vụ YHCT) đã chỉ đạo điểm phong trào này ở các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hòa Bình, Nam Hà, Quảng Nam – Đà Nẵng, Yên Bái và đồn biên phòng Tùng Vài thuộc huyện Quảng Bạ (Hà Giang) để rút kinh nghiệm.

Trong các năm 1992 – 1993 – 1994, Bộ Y tế đã tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm đánh gia việc tổ chức chỉ đạo đổi mới, xây dựng mô hình đưa YHCT vào chăm sóc sức khỏe ở cộng đồng.

Qua các hội thảo và chỉ đạo điểm một số kinh nghiệm xã hội hóa YHCT chăm sóc sức khỏe cộng đồng đã được rút ra như sau:

1 – Trước hết phải có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, chính quyền địa phương và vai trò nòng cốt của ngành y tế.  Việc chỉ đạo triển khai thực hiện phải lồng ghép chặt chẽ vào các chương trình khác của ngành y tế và các chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương như: CSSKBĐ, chống suy dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, chống các bệnh nhiễm khuẩn, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng phát triển hệ sinh thái vườn VAC…

DS. Nguyễn Đức Đoàn- Vụ trưởng Vụ Y học cổ truyền ( Bộ Y tế)- Sức khỏe & đời sống/ Bộ Y tế.- Hà Nội- 1995.

Sức khỏe bà mẹ và trẻ em trước căn bệnh thế kỷ

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải mà chúng ta gọi tắt là hội chứng AIDS, là một bệnh lây truyền tuy mới được thông báo từ năm 1981 nhưng đã lan rộng trên toàn thế giới và đã có mặt ở nước ta, đe dọa trở thành đại dịch ở nước ta vào thập kỷ 21, nếu chúng ta không tìm mọi cách ngăn chặn nó. Nguyên nhân gây bệnh hiện nay đã rõ là do vi rút hướng lympho T người, khi xâm nhập vào máu sẽ phá hủy các tế bào T4 làm giảm sút nghiêm trọng các chức năng chống đỡ bệnh tật của cơ thể khiến cho bất kỳ một bệnh cơ hội nào dù nhẹ, cũng không thể chữa khỏi, dẫn tới tử vong.
Hiện nay ở nước ta tính đến 15-6-95 đã phát hiện được 2601 ca HIV dương tính, trong đó có 131 người bị AIDS, 55 người tử vong. Nhưng nguy hiểm hơn cả nếu hiện nay số phụ nữ HIV (+) là 1 nữ/8 nam thì người ta dự tính đến năm 2000 con số này sẽ thay đổi là 3 nữ/1 nam nếu chúng ta không tìm mọi cách ngăn chặn bệnh. Điều đáng lưu lý là bệnh phát triển mạnh trong số những người trẻ tuổi. Hiện nay, trên thế giới trung bình có 6000 trường hợp mới nhiễm HIV hàng ngày thì một nửa là ở người dưới 25 tuổi, trong số đó 60% lại là nữ thanh niên. Dự đoán đến năm 2000, số phụ nữ HIV (+) ở châu Á sẽ lên tới 10 triệu. Con số của Thái Lan làm chúng ta phải suy nghĩ: do nạn mại dâm tăng, số khách du lịch vào nhiều nên từ 1990 số trường hợp HIV (+) ở Thái Lan tăng gấp 10 lần trước và tới năm 1994 thì trong số phụ nữ có thai có HIV (+) 1,5% riêng ở tỉnh Chiang Rai thì số phụ nữ có thai có HIV (+) và AIDS càng tăng thì số con cái của họ bị lây nhiễm cũng tăng theo. Chúng ta cần phải làm gì để ngăn cản đại dịch này khi nó nhằm vào đối tượng bà mẹ và trẻ em?
Vì sao hội chứng HIV-AIDS lại trở thành một nguy cơ lớn cho phụ nữ?
Từ trước người ta vẫn cho AIDS là bệnh của nam giới, đặc biệt là nam giới đồng tính luyến ái. 10 năm trước đây, người ta tưởng phụ nữ là ở ngoài đại dịch này, bây giờ người ta xác nhận phụ nữ đang ở trong trung tâm của đại dịch.
Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới, toàn thế giới có khoảng trên 5 triệu phụ nữ HIV (+). Nhưng một nửa số các trường hợp mới mắc lại rơi vào phụ nữ. Riêng năm 1993, hơn 1 triệu phụ nữ mắc bệnh này và tới năm 2000, khoảng 14 triệu phụ nữ sẽ bị HIV (+) và khoảng 4 triệu trong số đó sẽ chết vì AIDS.
Giáo sư Dương Thị Cương – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế – Hà Nội – 1995