10 Biện pháp khống chế bệnh tiểu đường

10 Biện pháp khống chế  bệnh tiểu đường

1. Không nên ăn nhiều bữa một ngày. Theo nghiên cứu cho thấy nếu số bữa ăn ít đi sẽ duy trì hàm lượng đường và hàm lượng insulin trong máu ở mức bình thường. Bữa sống nên ăn nhẹ, giữa bữa sáng và bữa trưa nên uống một cốc sữa chua không chứa đường, bữa trưa nên án ít cơm hoặc rau, sau bữa tôi ăn nhẹ từ một tiếng đến một tiếng rưỡi nên uống hay ăn một chút sữa chua hoặc cháo.

2. Giảm ăn dầu mỡ. Giảm ăn dầu mõ có trong thực phẩm có lợi rất nhiều cho cơ thể con người. Nếu trong thực đơn ăn uống hàng ngày hàm lượng dầu mỡ vượt quá 40 g thì nguy cơ phát triển của bệnh tiểu đường đôi với người mắc bệnh tiểu đường sẽ tăng lên 7 lần.

3. Ăn nhiều rau. Chỉ nên uống nước rau ép không nên uống nước hoa quả ép vì lượng đường trong hoa quả ép cũng nhiều như trong các loại nước ngọt. Nên ăn hoa quả sau bữa ăn vì như vậy chất béo, protein, chất xơ trong thức ăn có thể làm chậm quá trình hấp thụ hàm lượng đường trong hoa quả, hàm lượng đường gluco trong máu sẽ không tăng lên.

4. Cho nhiều gia vị và hương liệu vào thức ăn. Hương liệu ví dụ như lá quế, có thể nâng cao khả năng hoạt động của insulin, thúc đẩy quá trình trao đổi này. Ngoài ra một vài nước phương Đông còn có lịch sử lâu đòi về việc sử dụng các loại gia vị để chữa trị bệnh tiểu đường.

5. Tăng cường hấp thụ Mg và Cr. Biện pháp đơn giản này có thể ngăn ngừa bệnh tim ỏ người mắc bệnh tiểu đường trỏ nên phức tạp, khiến quá trình trao đổi của hợp chất chậm lại, việc hấp thụ đường và hàm lượng đường trong máu bình thường. Các nghiên cứu đã chứng minh, trong cơ thể nhiều bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường hàm lượng của hai loại khoáng chất này thấp. Chính vì vậy các bác sỹ góp ý nên ăn các loại đậu và rau xanh tươi để bổ sung Mg và Cr.

6. Chăm chỉ tập thể dục. Tập thể dục cách quãng cũng có thể không chế sự phát triển của bệnh tiểu đường. Khi tập thể dục các bắp thịt tăng cường việc hấp thụ đường gluco, có lợi cho việc làm giảm lượng đường trong máu. cần phải lựa chọn đúng thời gian tập luyện, tốt nhất là hai tiếng sau khi ăn. Sau khi ăn lượng đường trong máu tăng lên, tập luyện thể dục sẽ giúp cân bằng lượng đường trong máu.

7. Đi bộ, chạy bước nhỏ. Tản bộ, chạy bước nhỏ có lợi cho tim mạch, hơn thế nữa đối với những người trên 40 tuổi mà lượng đường trong máu quá cao khi chạy bước nhỏ sẽ giúp sô” lượng insulin bình thường. Vì thế mỗi ngày đi bộ hoặc chạy bước nhỏ nửa tiếng đồng hồ có thể giúp phòng tránh bệnh tiểu đường.

8. Giảm lượng mỡ thừa. Phần lớn trọng lượng cơ thể người mắc bệnh tiểu đường đều vượt quá 10 đến 20 kg so với người bình thường. Giảm cân nghĩa là khống chế khả năng phát sinh bệnh tiểu đường. Giảm 3 kg là có thể làm lượng đường trong máu giảm mạnh.

9. Điều chỉnh lượng hàm lượng đường trong máu. Phải điều chỉnh lượng đường trong máu trong thời gian dài, đồng thòi phải điều chỉnh sô’ lượng insulin. Đây là biện pháp chủ yếu và đáng tin cậy nhất để khống chế bệnh tiểu đường.

10. Giành lấy sự ủng hộ. Khi bạn căng thẳng, kích động, hoang mang lượng đường trong máu sẽ tăng mạnh. Lúc này bạn cần chia sẻ cùng những người bạn thân, những người hàng xóm tốt bụng.

Biện pháp đo tiểu đường bằng máy đo

Biện pháp đo tiểu đường bằng máy đo: sự ra đời của máy đo đường huyết bỏ túi đã tạo điều kiện cho việc đo đường huyết tại nhà. Cùng với sự tiến bộ kỹ thuật tính chính xác của máy đo tiểu đường ngày càng được nâng cao, nếu các bước thực hiện đúng kết quả cho ra cũng gần đúng với kết quả đo của thiết bị đo loại lớn. Điểm tương đồng với biện pháp so sánh màu sắc giấy thử là biện pháp đo đường huyết bằng máy cũng cần dùng giấy thử đường huyết, trong đóng gói giấy thử cũng có bản so sánh màu tiêu chuẩn, vì thế trong trường hợp không có máy đo đường huyết cũng có thể dùng giấy thử. Tuy nhiên nếu dùng máy đo đường huyết, kết quả đo đường huyết trong từng mạch máu nhỏ sẽ càng chính xác. Máy đo đường huyết trước đây thao tác rất phức tạp, phải lau máu trên giấy thử sau đó mới đưa vào máy đo. Thao tác này không chỉ gây ô nhiễm máy mà sai số cũng rất lớn. Loại máy này đang dần bị đào thải, thay thế vào đó là máy thế hệ mới, thao tác đơn giản hơn, thòi gian yêu cầu cũng rút ngắn rất nhiều vì thế ngày càng có nhiều người bệnh sử dụng.

Nhũng điểm cần chú ý khi mua máy đo đường huyết

1. Lựa chọn máy có dịch vụ sau bán hàng tốt, giấy thử có thể bảo đảm sử dụng trong thòi gian dài, vì giấy thử dùng cho máy đo đường huyết của các hãng khác nhau là không giông nhau, không thể dùng thay thế.

2. Lựa chọn máy đo đường huyết dễ thao tác. Khi mua hãy yêu cầu người bán hàng làm mẫu trên cơ thể bạn để bạn chắc chắn có thể tự thao tác một mình.

3. Con số hiển thị trên màn hình của máy đo phải dễ phân biệt.

4. Nếu thị lực của bạn không tốt nên lựa chọn máy đo có phát ra âm thanh báo kết quả đo.

5. Tốt nhất nên lựa chọn máy có bộ nhớ kết quả đo để bạn dễ dàng lưu kết quả.
Ỷ kiến của chuyên gia: bệnh nhân bị tiểu đường thích uống rượu bia, mỗi tuần chỉ nên uống một chai bia, chia hai lần uống. Nếu uống bia rượu quá lượng cho phép sẽ dẫn đến hôn mê do đường huyết thấp.

Các bước đo đường huyết

1. Dùng xà bông rửa sạch tay và lau khô hoặc dùng rượu cồn khử độc và hong khô.

2. Dùng kim tiêm lấy máu.

3. Nhỏ một giọt máu lên lớp màng nhỏ trên giấy thử.

4. Đợi khoảng một phút theo như hướng dẫn sử dụng.

5. Nếu dùng máy đo có thể trực tiếp đọc kết quả trên màn hình của máy đo.

6. Nếu dùng giấy thử, so sánh màu sắc, có thể biết phạm vi đường huyết.

Bơm Insulin là gì?

Bơm insulin kích thước giông như máy BB, có thể đeo bên sườn, thông qua một ống nhỏ mềm, insulin được đưa vào dưới da bụng. Mỗi lần có thể đưa một lượng thuốc rất nhỏ vào cơ thể, có thể đưa thuốc vào liên tục trong 24 giờ, giống như tuyến tụy vẫn hoạt động trước khi bị mắc bệnh tiểu đường. Bơm insulin bao gồm một bơm, ống tiêm, ông truyền dịch, ống tiêm có thể chứa nhiều nhất 3 ml insulin. Sau khi lắp ống tiêm và ông bơm vào với nhau, kim tiêm dẫn dịch của một đầu ống truyền dịch được cắm vào dưới da người bệnh (thường được quy định là thành bụng), sau đó dùng điện khỏi động mô tơ hình xoắn ốc của bơm insulin, đẩy piston của ông tiêm đưa insulin vào cơ thể.

Tác dụng của bơm  Insulin

Mục đích cơ bản của bơm insulin là thay thê chức năng bài tiết của tuyến tụy, căn cứ vào lượng thuốc cơ thể yêu cầu duy trì đưa insulin vào cơ thể, đảm bảo sự ổn định của đường huyết trong một ngày, nhằm khống chế bệnh tiểu đường.

1. Thay thế chức năng bài tiết của tuyến tụy, khống chế tốt hơn nồng độ đường huyết, cải thiện chỉ số HbAlc.

2. Sử dụng insulin có hiệu quả trong thời gian ngắn, với một lượng nhỏ insulin liên tục đường đưa vào cơ thể sẽ khắc phục được những vấn đề không tốt khi dùng biện pháp tiêm insulin hay trong việc tiếp nhận insulin của cơ thể, giảm tỷ lệ phát sinh đường huyết thấp.

3. Phân giai đoạn xác định lượng thuốc, tránh hiện tượng đường huyết thấp vào nửa đêm hoặc rạng sáng.

4. Nâng cao chất lượng cuộc sống.

5. Giảm chi phí chữa trị.

Những nguy hiểm của cao đường huyết đối với cơ thể con người

Những nguy hiểm của cao đường huyết đối với cơ thể con người

Đường gluco là nguồn năng lượng cơ thể chuyển hóa, khi cơ thể xúc động, quá căng thẳng và ăn quá nhiều đều có thể xuất hiện cao đường huyết mang tính một lần, khi mức đường huyết chuyển hóa dần dần hồi phục bình thường, cao đường huyết mang tính một lần sẽ không gây nguy hiểm nghiêm trọng nào đôi với cơ thể. Tuy nhiên khi mắc bệnh tiểu đường, nếu cao đường huyết kéo dài sẽ khiến cơ quan nội tạng và tổ chức trong cơ thế xảy ra biến đổi bệnh lý, biểu hiện lâm sàng là các loại biến chứng mãn tính như cao đường huyết. Tuy nhiên do thiếu insulin, việc sử dụng đường sẽ gặp trở ngại, khiến tốc độ phân giải chất béo và protein tăng lên, biểu hiện cơ thể gầy, trọng lượng cơ thể giảm, dễ bị mắc các loại bệnh lây nhiễm; do nồng độ đường huyết quá cao dẫn đến độ ngưng của máu tăng lên, bệnh tiểu đường kèm theo sự chuyển hóa chất béo bất thường làm xuất hiện các loại sơ cứng động mạch như sơ cứng động mạch tim, não, thận, chi dưới. Biểu hiện lâm sàng là sơ cứng động mạch não, bệnh thận tiểu đường và sự biến đổi bệnh võng mạc mắt, gây bất lợi đến cuộc sống và làm ảnh hưởng đến chất lượng sống.

Tự kiểm tra nồng độ đường huyết tại nhà

Bệnh tiểu đường là căn bệnh mãn tính, nồng độ đường huyết sẽ thường xuyên dao động vì thế tiến hành kiểm tra không chê bệnh một cách chặt chẽ rất có lợi, tuy nhiên bệnh nhân không thể mỗi ngày hay thường xuyên đến bệnh viện kiểm tra vì thê việc kiểm tra tại nhà là bắt buộc. Ngày nay càng ngày càng có nhiều bệnh nhân sử dụng máy đo đường huyết là biện pháp chủ yếu để theo dõi đường huyết.

Việc đo đường huyết có những ưu điểm sau đây: đo đường huyết chính xác hơn so với đo tiểu đường. Đo đường huyết là biện pháp định lượng toàn bộ vì thế có thể phản ánh một cách chính xác tình hình đường huyết thực tế trong cơ thể. Đo đường huyết không chỉ phản ánh cao đường huyết mà còn phản ánh đường huyết thấp. Biện pháp này phù hợp với bệnh nhân phải tiêm insulin, có thể kịp thòi phát hiện đường huyết thấp.

Biện pháp đo đường huyết chủ yếu dùng giấy thử hoặc máy đo đường huyết. Hiện nay thị trường trong nước có bán rất nhiều loại giấy thử và máy đo đường huyết, nguyên lý đo cơ bản giống nhau. Tuy nhiên bệnh nhân nên lựa chọn loại nào thì nên hỏi tư vấn bác sỹ hoặc y tá chuyên khoa tiểu đường.

Biện pháp so sánh màu sắc giấy thử: biện pháp này không cần dùng máy đo đường huyết, giá cả cũng tương đôi rẻ, tuy nhiên nhược điểm là biện pháp đo định lượng một nửa. Một đầu của giấy thử có lớp màng nhỏ mềm, thông thường được đánh dấu bằng màu rất bắt mắt, trên lớp màng này có thuốc thử hóa học, khi tiếp xúc vối đường sẽ xảy ra phản ứng hóa học và biến đổi màu sắc. Khi sử dụng chỉ cần đặt đầu có bôi thuốc vào trong rung dịch nước tiểu, sau thời gian quy định thì rút ra, so sánh màu sắc với màu tiêu chuẩn của giấy thử trong hình để biết sô” thứ tự. Tuy nhiên đôi khi giấy thử này cũng không chính xác, khi sử dụng phải chú ý không đặt quá thòi gian quy định, thòi gian đưa giấy thử vào và so sánh màu sắc giấy thử phải tiến hành theo quy định, nếu không sẽ dễ xảy ra những sai số. Bên cạnh đó cần chú ý chất lương giấy quỳ ỏ mỗi quốc gia khác biệt rất lớn.

Nhận biết bệnh tiểu đường cần bắt đầu từ việc tìm hiểu đường gluco trong máu.

Bệnh tiểu đường là căn bệnh có liên quan đến đường. Để nhận biết bệnh tiểu đường cần bắt đầu từ việc tìm hiểu đường gluco trong máu.

Cơ thể con người là một chỉnh thể thống nhất do nhiều cơ quan và tổ chức cấu tạo nên. Mỗi bộ phận trong cơ thể đều có chức năng riêng, đồng thòi liên hệ với nhau và ức chế lẫn nhau để môi trường trong cơ thể người luôn ổn định và cân bằng. Nếu một sự cân bằng nào đó bị phá vỡ cơ thể sẽ sinh bệnh. Đường huyết là loại vật chất chức năng quan trọng nhất trong cơ thể con người. Trong tình trạng bình thường, một ngày nồng độ đường huyết có sự dao động nhẹ, thông thường trước khi ăn lượng đường huyết thấp, sau bữa ăn lượng đường huyết cao, tuy nhiên sự dao động này được duy trì trong một phạm vi nhất định.

Nồng độ đường huyết ở người bình thường khi bụng rỗng dao động trong khoảng 3,9 đến 6,1 mmol/1. Hai giò sau khi ăn lượng đường huyết thường cao nhưng thấp hơn 7,8 mmol/1. Vì việc sản sinh và sử dụng đường huyết ỏ người bình thường luôn trong trạng thái cân bằng nên có thể duy trì lượng đường huyết ỏ mức ổn định, không quá cao, không quá thấp.

Nồng độ đường huyết tăng cao có dẫn đến bệnh tiểu đường hay không?

Nồng độ đường huyết khi bụng rỗng dao động trong khoảng 3,9 đến 6,1 mmol/1, hai giò sau bữa ăn nồng độ đường huyết dao động trong khoảng 3,9 đến 7,8mmol/l. Nồng độ đường huyết tăng cao có dẫn đến bệnh tiểu đường hay không?

Đường huyết là chỉ đường gluco trong máu. Các loại đường khác chỉ sau khi chuyển hóa thành đường gluco đi vào máu mối được gọi là đường huyết. Nồng độ đường huyết trong cơ thể người bình thường luôn trong trạng thái ổn định và cân bằng. Khi sự cân bằng bị phá hủy, như nồng độ đường huyết tăng cao bất thường sẽ xuất hiện bệnh tiểu đường.

Cao đường huyết và đường huyết thấp

Phạm vi đường huyết bình thường khi bụng rỗng dao động trong khoảng 3,9 đến 6,1 mmol/I, hai giò sau bữa án nồng độ đường huyết thấp hơn 7,8 mmol/1. Cơ thể người bình thường có thể diều chỉnh mực đường huyết này, để không vượt quá giới hạn trên. Tuy nhiên trong trường hợp mắc bệnh, nồng độ đường huyết sẽ vượt quá giới hạn bình thường (cao hoặc thấp) dẫn đến cao đường huyết hoặc đường huyết thấp.

Cao đường huyết: nồng độ đường huyết tăng, cao hơn phạm vi bình thường.

Đường huyết thấp: nồng độ đường huyết quá thấp, vượt qua phạm vi bình thường.

Khi nồng độ đường huyết táng cao đến một mức nào đó (ví dụ nồng độ đường huyết khi bụng rỗng cao hơn 7,8 mmol/1 hoặc nồng độ đường huyết sau bữa ăn vượt quá 11,1 mmol/1), đạt đến tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tiểu đường, khi đó sẽ được gọi là bệnh tiểu đường.

Nếu nồng độ đường huyết tăng nhẹ, mặc dù đã vượt qua phạm vi tuy nhiên vẫn chưa đạt tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tiểu đường, nghĩa là một triệu chứng vượt mức, xét về mặt ý nghĩa đây là tín hiệu nguy hiểm của bệnh tiểu đường, nên chú ý để ngăn chặn sự phát triển thành bệnh tiểu đường.

Người bệnh cần chú ý: đường huyết cao hay thấp đều có hại đôi với cơ thể, đường huyết quá thấp có thể dẫn đến các loại phản ứng thậm chí có thể dẫn đến hôn mê, nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy trong quá trình chữa bệnh tiểu đường ngoài việc ngăn chặn những nguy hiểm do đường huyết cao gây nên đồng thòi phải hết sức chú ý đến sự nguy hiểm khi đường huyết thấp. Người mắc bệnh tiểu đường tốt nhất nên lắp đặt máy đo đường huyết vi lượng, tự kiểm tra nồng độ đường huyết tại các thời đỉểm khác nhau trong một ngày.

Làm thế nào để phòng chống sự phát sinh các biến chứng của bệnh tiểu đường?

Làm thế nào để phòng chống sự phát sinh các biến chứng của bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường là căn bệnh mãn tính, nếu chữa trị không đúng cách, không chế đường huyết không tốt có thể sinh ra các biến chứng. Biến chứng của bệnh tiểu đường được chia làm hai loại: mãn tính và cấp tính.

Biến chứng cấp tính

Chứng cao đường huyết: do không để ý đến việc chữa trị, dừng uống thuốc làm giảm lượng đường hoặc lượng dùng không đủ có thể dẫn đến cao đường huyết. Triệu chứng là khát nước, buồn nôn, suy nhược, nhịp tim nhanh, hít thỏ chậm và sâu, hôn mê, xuất hiện hiện tượng nhiễm độc axit. Chữa trị cần chú ý giữ ấm, bổ sung nước, phòng ngừa suy kiệt hệ thống huyết quản, giải trừ nhiễm độc.

Chứng đường huyết thấp: do đói, sử dụng thuốc làm giảm lượng đường quá liều lượng sẽ nhanh bị chóng mặt, chân tay run, ra mồ hôi lạnh, co giật, hôn mê; phải bổ sung nước, ăn uống, giữ ấm. về biện pháp phòng tránh, do cách dùng và lượng dùng của các loại thuốc uống làm giảm đường huyết khác nhau nên người bệnh phải tuyệt đối tuân thủ theo dặn dò của bác sỹ. Tiêm insulin lưu lượng phải chính xác, sau khi tiêm 30 đến 40 phút có thể ăn uống.

Biến chứng mãn tính

Sự biến đổi của bệnh tim mạch: bệnh tiểu đường là nhân tố nguy hiểm biến chứng thành bệnh tim, cao huyết áp, trúng gió. Do sự chuyển hóa dẫn đến sơ cứng động mạch mà phát bệnh, tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ở người bị sơ cứng động mạch cao hơn so với người bình thường 3 đến 4 lần.

Biện pháp xử lý: phải làm giảm lượng đường huyết, mỡ trong máu, không chế huyết áp đồng thòi phải ngăn chặn phát sinh tắc nghẽn cơ tim.

Sự biên đổi của bệnh thận: dẫn đến sự biến đổi của bệnh về cầu thận, da; phát sinh các triệu chứng như phù nước, cao huyết áp. Nếu chức năng thận suy yếu sẽ dẫn đến chứng nhiễm độc nước tiểu phải chữa trị bằng biện pháp lọc thận đơn thuần hoặc lọc thận qua màng bụng hoặc phẫu thuật thận thực vật.

Trở ngại về thị lực: bệnh tiểu đường thường xuất hiện biến chứng bệnh về võng mạc mắt, bệnh đục nhân mắt. Ngoài việc chữa trị cục bộ nên tích cực chữa bệnh gốc.

Sự biến đổi của bệnh về hệ thống thần kỉnh: tê liệt chân tay, cảm giác trì trệ, khả năng bị ngoại thương tăng lên.

Láy nhiễm: sức đề kháng của người mắc bệnh tiểu đường yếu, chức năng miễn dịch không đủ, dẫn dễ bị lây nhiễm các loại virus. Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến nhiễm trùng máu, phải tăng cường việc chống lây nhiễm virus.

Bệnh tiểu đường chia làm hai loại nguyên phát và kế phát.

Bệnh tiểu đường nguyên phát chia thành hai loại bệnh tiểu đường dựa vào insulin và bệnh tiểu đường không insulin. Bệnh tiểu đường kế phát là do thiếu insulin 1

Những triệu chứng chủ yếu của bệnh tiểu đường

Những triệu chứng chủ yếu của bệnh tiểu đường

Miệng khát và đi tiểu nhiều: số lần đi tiểu và lượng nước tiểu tăng lên, do lượng đường huyết quá cao, thận vì thế phải thải ra thành phần đường trong máu, do đi tiểu nhiều lần, lượng nước mất đi nhiều nên người bệnh xuất hiện tình trạng miệng khát, phải uống nhiều nước để bổ sung lượng nước mất đi, đôi khi nửa đêm phải tình dậy để uống nước do quá khát.

Đi tiểu càng nhiều uống nước càng nhiều. Vì trong nước tiểu có chứa đường gluco, dịch nước tiểu xuất hiện tình trạng có bọt, nước tiểu có mùi vừa ngọt vừa chua.

Nhanh đói, ăn nhiều: đường gluco trong cơ thể không chuyển hóa thành năng lượng, cơ thể thiếu năng lượng cần thiết để duy trì những hoạt động cơ bản nhất. Vì thế người bệnh thường xuyên cảm thấy đói một cách bất thường và ăn nhiều.

Trọng lượng cơ thể giảm: hầu hết lượng đường gluco đều được thải ra từ nước tiểu, các tế bào chức năng không thể sử dụng và dự trữ năng lượng, mặc dù người bệnh ăn nhiều nhưng trọng lượng cơ thể vẫn giảm.

Bôn triệu chứng trên được gọi là “ba nhiều một ít”.

Mệt mỏi: nêu làm việc lao động chân tay hoặc hoạt động thể dục thể thao thường xuyên vẫn cảm thấy mệt mỏi không có sức, tinh thần suy giảm.

Các triệu chứng khác: khi lượng đường huyết tăng cao sẽ phát sinh những biểu hiện biến chứng chậm của bệnh tiểu đường như ngứa da, thị lực giảm, chân tay tê, tâm trạng bất ổn, tiêu chảy, đi tiểu tiện nhiều lần, ứ đọng nước tiểu, liệt dượng.

Những nguy hiểm của bệnh tiểu đường đến cơ thể người:

Tính nguy nguy hiểm của bệnh tiểu đường là rất lổn, do bệnh thường kèm theo các tình trạng luôn thường trực như đường huyết, lên cao, huyết áp cao, lượng mõ trong máu tăng, bất cứ lúc nào cũng có thể gây tổn hại đến toàn bộ các cơ quan trong cơ thể. Sự tổn hại này sẽ dần dần xâm nhập cơ thể, đồng thòi ngày càng nghiêm trọng, dẫn đến bệnh nhân bị bệnh tiểu đường bị lây nhiễm sinh ra các triệu chứng viêm, các bệnh như bệnh về da, nổi u, bệnh về tim mạch, bệnh về đường tiêu hóa.

Do sự tổn hại về hệ thống thần kinh, gây đau nhức cơ thể, cảm giác bất thường, nghiêm trọng hơn đối với những người bị mắc bệnh về võng mạc mắt có thể bị mù, những người bị bệnh thận có thể bị nhiễm độc nước tiểu dẫn đến tử vong. Những biến chứng chậm của bệnh tiểu đường là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tàn tật hoặc tử vong ỏ người mắc bệnh tiểu đường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống và tính mạng của người bệnh vì thế cần phải hết sức chú ý tới những biểu hiện mãn tính và phát bệnh, sớm phát hiện chữa trị, khống chế chặt chẽ lượng đường huyết, mỡ trong máu và huyết áp, phòng chông sự phát sinh và phát triển của các loại biến chứng, nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ cho người mắc bệnh tiểu đường.

Phân loại bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường chia làm 4 loại:

Bệnh tiểu đường type 1: còn gọi là bệnh tiểu đường ở thanh thiếu niên, tế bào tuyến tụy bị phá hủy hoàn toàn do sự miễn dịch của cơ thể, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối. Bệnh tiểu đường loại này phải dùng phương pháp chữa trị bằng insulin, hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn insulin bên ngoài. Nếu không kịp thòi chữa trị có thể dẫn đến tử vong. Bệnh tiểu đường loại này còn có tên gọi là bệnh tiểu đường dựa vào insulin, độ tuổi mắc bệnh này thường là 35 tuổi trỏ xuống. Người mắc bệnh này trong cơ thể thiếu insulin tuyệt đôi, insulin trong huyết tương thấp hơn nhiều so với mức bình thường. Người mắc bệnh tiểu đường loại này nhạy cảm với biện pháp chữa trị insulin. Điều này có thể thấy rõ ở trẻ em dưới 15 tuổi. Ngoài ra một số ít bệnh nhân, quá trình phát bệnh rất chậm, từ không phụ thuộc insulin phát triển thành phụ thuộc insulin. Trong một thời gian dài không phải chữa trị bằng biện pháp tiêm insulin. Trong số người mắc bệnh tiểu đường có khoảng 10% mắc bệnh tiểu đường loại này. Cùng với việc phát hiện và sử dụng insulin người mắc bệnh tiểu đường type 1 có thể sống khỏe mạnh và đạt tuổi thọ như người bình thường.

Bệnh tiểu đường là căn bệnh mang tính trao đổi chất gặp trổ ngại do chức năng của tuyến tụy suy giảm dẩn đến rối loạn trao đổi carbonhỵdrate. Đặc điểm của bệnh là đường huyết cao, đái đường, đi tiểu nhiều, ăn uống nhiều, gầy đi, mệt mỏi.

Bệnh tiểu đường type 2: còn gọi là bệnh tiểu đường ở người lớn do thiếu nhạy cảm với insulin dẫn đến thiếu insulin tương đối, cũng có thể do insulin bài tiết giảm kèm theo thiếu nhạy cảm với insulin. Những người mắc bệnh tiểu đường loại này tuổi thường tương đối cao, do bệnh tình nhẹ, thòi gian phát bệnh chậm nên bệnh chỉ được phát hiện sau 35 đến 40 tuổi; số lượng người bị béo phì nhiều, mức insulin trong cơ thể thấp nhưng không rõ ràng, có lúc mức insulin là bình thường, có lúc xuất hiện chứng huyết cao insulin, cơ thể không nhạy cảm với insulin, ít khi xuất hiện chứng Xeton. Thông thường không cần áp dụng biện pháp chữa trị dùng insulin bên ngoài tuy nhiên khi bệnh nhân bị lây nhiễm hoặc làm phẫu thuật nên dùng insulin bên ngoài. Cũng có một số ít bệnh nhân uống thuốc làm giảm lượng đường không có hiệu quả phải chữa trị bằng insulin bên ngoài, khi dừng dùng insulin bên ngoài sẽ không bị trúng độc axítxeton. Ngoài những trường hợp đặc biệt trên, những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại này phải khống chế ăn uống hoặc uống thuốc làm giảm lượng đường huyết để đạt được hiệu quả chữa trị tốt nhất. Những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại này, căn cứ vào chỉ số trọng lượng cơ thể (kg/m) chia làm hai loại: béo phì (nam: 27 tuổi, nữ 25 tuổi) và không béo phì. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường type 2 chiếm trên 90% trong tổng sô’ bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường các loại.

Bệnh tiểu đường khi mang thai: Bệnh tiểu đường khi mang thai dùng để chỉ bệnh tiểu đường mà người phụ nữ mắc phải trong thòi gian mang thai. Theo số liệu lâm sàng: khoảng 2% đến 3% phụ nữ trong thòi gian mang thai mắc bệnh tiểu đường loại này, sau thòi gian mang thai bệnh tiểu đường sẽ tự nhiên mất đi. Bệnh tiểu đường loại này dễ gặp ỏ những sản phụ béo phì và tuổi cao. Gần 30% phụ nữ mắc bệnh tiểu đường khi mang thai sau sẽ chuyển thành bệnh tiểu đường type 2. Những điểm khác biệt cần chú ý:

1. Bệnh tiểu đường khi mang thai là tình trạng bệnh trong thòi gian ngắn khi mang thai. Sau khi mang thai bệnh sẽ tự nhiên mất đi.

2. Phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường nghĩa là người phụ nữ đã mắc bệnh tiểu đường trước khi mang thai. Bệnh vẫn tiếp tục sau khi sinh con.

3. Bệnh tiểu đường loại khác: bao gồm những loại nguyên nhân bệnh tương đôi rõ ràng và có tính liên tục. Những bệnh tiểu đường loại này thường ít gặp, chủ yếu là do các bệnh về tuyến tụy, bài tiết nội tiết như viêm tuyến tụy dẫn đến bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường khỉ mang thai nguy cơ bị mắc bệnh tiểu đường type 2 là rất cao. Vì thế nhiều người cho rằng nguyên nhân căn bản dẫn đến bệnh tiểu đường khi mang thai và bệnh tiểu đường type 2 có liên quan đến nhau.

Vì sao chúng ta bị bệnh tiểu đường

Béo phì

Béo phì là nguyên nhân quan trọng khiến phát bệnh tiểu đường. Người bị béo phì tế bào mõ sẽ to lên, mật độ insulin trên màng tế bào mõ giảm, do đó tính mẫn cảm với insulin giảm, cơ thể có nhu cầu cao với insulin, tế bào tuyến tụy buộc phải tiết ra càng nhiều insulin mới có thể khống chế đường huyết trong phạm vi bình thường. Tế bào tuyến tụy phải làm việc quá sức cuối cùng sẽ dẫn đến chức năng tuyến tụy suy giảm và
bệnh tiểu đường sẽ phát sinh. Mặt khác ngưòi bi bệnh béo phì lượng vận động giảm dẫn đến sự trao đổi đường diễn ra chậm, mức đường huyết tăng cao dễ dẫn đến bệnh tiểu đường type 2. Bệnh dễ mắc ở người bị bênh béo phì dạng bụng. Thiếu vận động

Vận động cơ thể có thể làm tăng tính mẫn cảm đối với insulin, giảm trọng lượng cơ thể, cải thiện sự trao đổi chất. Cơ thể thiêu sự vận động là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tiểu đường type 2.

Cơ cấu bữa ăn

ở hầu hết các quốc gia có cơ cấu bữa ăn chủ yếu là nhiệt lượng cao và chất béo cao. Khi cơ thể hấp thụ quá nhiều nhiệt lượng sẽ tạo nên sự tích lũy mỡ trong cơ thể và gây ra bệnh béo phì. Đồng thời ăn uống các thực phẩm có hàm lượng chất béo cao có thể làm hạn chế tỷ lệ trao đổi khiến trọng lượng cơ thể tăng dẫn

đến béo phì. Béo phì sẽ dẫn đến bệnh tiểu đường type 2.

Tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ỏ người thường xuyên ăn thịt cao hơn so với những người thường xuyên ăn rau. Bời trong thịt có chứa nhiều chất béo,
protein. Vì thế thức ăn phải phong phú, đảm bảo cân bằng chất dinh dưỡng, tránh việc thừa chất dinh dưỡng.

Nhân tố thân kinh

Gần đây các học giả trong và ngoài nước đã công nhận trong quá trình phát sinh và phát triển của bệnh tiều đường nhân tô’ thần kinh là rất quan trọng. Bởi vì tinh thần cáng thẳng, tình cảm kích động, huyết áp tim sẽ dẫn đến lượng bài tiết của một vài hoocmon tăng lên. Những hoocmon này đều là hoocmon tâng đường huyết, cũng là những hoocmon đôì kháng với insulin. Cơ thể giải phóng các hoocmon này trong thòi gian dài với lượng lổn sẽ gây ra sự rối loạn trong việc điều tiết bài tiết và trao đổi trong cơ thể, dẫn đến cao đường huyết, gây bệnh tiểu đường.

Nhiễm virus gây bệnh

Những bệnh nhân bị mắc bệnh tiểu đường type 1 là do sau khi bệnh nhân mắc các bệnh có tính truyền nhiễm như cảm cúm, viêm tuyến hàm, virus sẽ xâm nhập vào các cơ quan này, trực tiếp tấn công vào tế bào beta tuyến tụy phá hủy phần lón các tế bào beta đồng thời ức chế quá trình sinh trường của các tế bào beta, từ đó dẫn đến thiếu insulin, cuối cùng sẽ dẫn đến bệnh tiểu đường type 1.
fẠ

Sự mỉễn dịch của cơ thể

Bệnh tiểu đường type 1 là một loại bệnh có tính tự miễn dịch, trong máu của người bệnh có thể phát hiện nhiều thể tự miễn dịch. Cơ chế của thể miễn dịch này là sau khi các kháng thể xâm nhập vào cơ thể hệ miễn dịch trong cơ thể sẽ sinh ra rất nhiều kháng thể nhằm vào tế bào beta tuyến tụy.

Những kháng thể này có thể gây tổn hại trực tiếp đến các tế bào beta tuyến tụy dẫn đến thiếu insulin gây bệnh tiểu đường.

Các châ’t và thuô’c hóa học

Ngày nay khoa học đã phát hiện ra một vài chất hóa học có thể gây bệnh tiểu đường, polime có thể gây bệnh tiểu đường type 1. Hai loại thuốc lâm sàng dùng chữa bệnh viêm phổi và thuốc chông ung thư cũng dẫn đến bệnh tiểu đường.

Phụ nữ mang thaỉ

Trong thòi gian mang thai cơ thể người mẹ sản sinh ra một lượng lớn các loại hoocmon. Những hoocmon này rất quan trọng đối với sự phát triển của thai nhi, tuy nhiên những hoocmon này cũng làm gián đoạn tác dụng của insulin, dẫn đến sự đề kháng insulin.
Các loại bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường type 1: thường gặp ỏ trẻ em,

thanh thiếu niên do thiếu insulin tuyệt đối, phải áp dụng biện pháp chữa trị tiêm insulin suốt đòi.

Bệnh tiểu đường type 2: thường gặp ỏ người già do insulin không phát huy được tác dụng, uống thuốc kháng tiểu đường sẽ có hiệu quả tốt.

Bệnh tiểu đường khi mang thai: bệnh lặp ồ phụ nữ mang thai.

Các loại bệnh tiểu đường đặc biệt khác như bệnh tiểu đường do thiếu dinh dưỡng, ỏ nước chúng ta rất ít gặp.

Tổng quan về bệnh tiểu đường

Chương 1
Những hiểu biết cơ bản về bệnh tiều đường

Nguồn gốc và con đường đi của đường huyết

Nguyên nhân của bệnh tiểu đường là do thiếu insulin tương đối hay tuyệt đối so với nhu cầu của cơ thể, gây nên sự rôi loạn trong trao đổi đường trong cơ thể. Đây là nhóm bệnh mãn tính chủ yếu do lượng đường trong máu tăng cao. Thiếu insulin tuyệt đôi hoặc tương đối hay tế bào không sử dụng được insulin do nhiều nguyên nhân gây nên sẽ làm rôi loạn sự thay thế đường, protein, chất béo, dẫn đến bệnh tiểu đường. Thời gian mắc bệnh càng dài, sự rối loạn trong cơ thể không được không chế có thể dẫn đến những triệu chứng mãn tính ỏ các cơ quan mắt, thận, thần kinh, huyết quản, tim; sau cùng có thể bị mù, hoại thư chi dưới, nhiễm độc nước tiểu, tê liệt não, tắc mạch máu thậm chí có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Bệnh tiểu đường là cán bệnh mang tính toàn thân. Mặc dù ngày nay trình độ khoa học kỹ thuật chẩn trị y học không ngừng nâng cao, tuổi thọ con người không ngừng được nâng lên nhưng tỷ lệ người mắc bệnh tiểu đường vẫn có xu thế gia táng. Tỷ lệ người mắc bệnh tiểu đường ở các nước phát triển đạt 5% đến
10. Bệnh tiểu đường là căn bệnh mãn tính, suốt đòi, có thể khống chế được, cần phải tiến hành chữa trị tổng hợp trong thòi gian dài. Biện pháp chữa trị tổng hợp này chỉ dựa vào các bác sỹ là không đủ, chủ yếu phải thực hiện chữa trị tại gia đình. Vì thế phổ cập kiến thức phòng tránh bệnh tiểu đường, nâng cao khả năng tự điều chỉnh và bảo vệ sức khỏe của người mắc bệnh là vô cùng quan trọng.

Đường gluco trong máu, giai đoạn lâm sàng gọi là đưòng huyết. Nhìn chung có ba nguyên nhân dẫn đến đường huyết. Nguyên nhân chủ yếu là do thức ăn. Thành phần chính trong đồ ăn chúng ta ăn hàng ngày là protein, chất béo, carbonhydrate. Trong đó carbonhydrate tức các loại đường trong ngũ cốc bao gồm: gạo, mì, ngô, khoai lang, đường đỏ, đưòng kính, hoa quả, các loại sữa. Nguyên nhân thứ hai gây nên đường huyết là ở gan hình thành đường gluco hoặc đường trong gan phân giải thành đường gluco. Nguyên nhân sau cùng là đường có trong cơ bắp phân giải thành đường gluco và đi vào máu.

Đường huyết có bôn con đường: thứ nhất là do các tế bào trong cơ thể tự hấp thu, sử dụng và chuyên hóa thành năng lượng; thứ hai đường được hình thành trong gan hay trong bắp thịt; thứ ba, đưòng huyết chuyển hóa dưới thành chất béo; thứ tư, đưòng huyết chuyển hóa thành đưòng dưới dạng khác.

Nguyên nhân của bệnh tiểu đường

Mặc dù đến nay nguyên nhân của bệnh tiểu đường vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng nhưng phần lớn các học giả
đều cho rằng bệnh tiểu đường là một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây nên. Trong đó nguyên nhân bệnh có liên quan tối các nhân tố sau đây:

Nhân tố di truyền

Bệnh tiểu đưòng là căn bệnh có tính di truyền trong gia đình. Theo điều tra cho thấy nếu bố mẹ mắc bệnh tiểu đường thì con cái họ sẽ có khả năng mắc bệnh tiểu đường cao hơn so với những người bình thường khác. Tuy nhiên tính di truyền này còn chịu sự tác động của nhiều nhân tô” khác. Những nhân tô” này chủ yếu là: béo phì, giảm hoạt động thể lực, chế độ ăn uống không hợp lý, bệnh truyền nhiễm. Do đó, điều chỉnh ăn uống, giảm béo, tăng cường luyện tập thể dục thể thao là biện pháp tốt phòng tránh bệnh tiểu đường.