Một loại thuốc điều trị ung thư mới ra đời có tên Nexavar.

Theo sự hiểu biết hiện nay, người ta cho rằng chế độ ăn có lượng chất béo cao là yếu tố nguy, cơ đối với ung thư đại tràng, tuyến tiền liệt và ung thư vú.

+ Các chế độ ăn giàu thức ăn thực vật, đặc biệt là các loại rau xanh, quả chín làm giảm nguy cơ ung thư phổi, đại tràng, thực quản vã dạ dày. Cơ chế của các yếu tố này còn chưa rõ ràng nhưng người ta cho rằng có thể là do các chế độ ăn này có ít chất béo bão hòa, nhiều tinh bột chất xơ, các vitamin và chất khoáng, đặc biệt là b – caroten.

Chúng can thiệp vào các phân tử đặc hiệu trong cơ chế sinh ra và tăng trưởng của khối bướu.

Đa số các liệu pháp này hiện vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm tiền lâm sàng nhưng vài loại đã ở giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và một số đã được phê chuẩn để tung ra thị trường.

Các phương pháp trên đánh dấu bước tiến mới trong điều trị ung thư nhưng không phải bênh nhân nào cũng có đủ điều kiện chi trả để có cơ hội sử dụng.

Ông Long lấy ví dụ: Một loại thuốc điều trị ung thư mới ra đời có tên Nexavar, sử dụng hoạt chất sorafenib. Loại thuốc này có khả năng ức chế sự phát triển và nhân rộng của tế bào ung thư rất tốt nhưng giá của nó không “dễ chịu” chút nào.

Mỗi viên thuốc Nexavar có giá 1 triệu đồng. “Như vậy, mỗi bệnh nhân ung thơ một ngày phải uống 2 viên thuốc này thì tính ra một tháng chỉ riêng tiền thuốc đã là 60 triệu đồng.

Số tiền này không phải ai cũng đủ khả năng chi trả. Xin lưu ý rằng bệnh nhân mắc ung thư của Việt Nam đa số là người nghèo”, ông Long nói.

Tuy nhiên, ông Long cho rằng những loại thuốc sử dụng trong phương pháp điều trị nhằm trúng đích dù sao đã mang lại hi vọng cho những người có khả năng chi trả. “Không phải người giàu không mắc bệnh ung thư”, ông Long nói.

Nếu uống thuốc đều đặn thì mỗi bệnh nhân ung thư kéo dài thời gian sống trung bình từ 5
đến 7 năm, thậm chí có thể lên đến 10 năm.

Trong điều kiện các liệu pháp mới trong điều trị ung thư chưa cho phép người bệnh nghèo có khả năng tiếp cận thì các chuyên gia một lần nữa tái khẳng định vai trò quan trọng của dự phòng chống lại ung thư theo các cách như đã nêu ở phần đầu.

Hướng mới trong điều trị ung thư.

IX. NHỮNG HƯỚNG MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ

Khi biết mắc bệnh ung thư, bất kể là ung thư nào, mỗi người bệnh đều cho rằng mình đã lĩnh một án “tử hình”. Nhưng y học hiện đại đã cho thây ung thư có thể phòng tránh, nếu phát hiện sớm có thể chữa khỏi.

Với những bệnh nhân nặng ở giai đoạn cuối, các hướng điều trị tiên tiến có thể giúp kéo dài cuộc sống của họ thêm 3 hoặc 5 năm, thậm chí 7 năm.

Trên thế giới hiện nay có nhiều phương pháp điều trị ung thư, có thể kể đến các phương pháp như phẫu thuật (phẫu trị), hóa trị liệu, miễn dịch trị liệu, xạ trị liệu, ức chế nội tiết tố, kiểm soát các triệu chứng, Trong đó, hóa trị, phẫu thuật và xạ trị ở 3 phương pháp chuẩn và được sử dụng rất phổ biến tại nhiều nước trên thế giới.

Ông Đào Văn Long cho biết: “Các nhà khoa học đã tìm ra nhiêu phương pháp mới trong điều trị ung thư như miễn dịch trị liệu, vacxin kháng ung thư các loại, các liệu pháp kháng thể đơn dòng và các liệu pháp nhắm trúng đích”.

“Liệu pháp miễn dịch có khi được dùng riêng lẻ, nhưng thường được dùng như một liệu pháp hỗ trợ để giúp thêm tác dụng chống ung thư cho liệu pháp chính. Vài năm gần đây, đã có những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực này.

Riêng đối với các vacxin kháng ung thư, đậy được gọi là liệu pháp miễn dịch chủ động. Hiện nay, đã có những loại vacxin kháng ung thư ra đời và được sử dụng (ung thư cổ tử cung…).

Ngoài ra, vacxin kháng ung thư cũng đang được các nhà khoa học tiếp túc thử nghiệm lâm sàng với các bệnh nhân ung thư da loại hắc tố, ung thư tế bào thận, ung thư đại và trực tràng, ung thư tiền liệt tuyến và các ung thư hạch.

Trong khi đó, các liệu pháp kháng thể đơn dòng là liệu pháp miễn dịch thụ động vì các kháng thể được sản xuất với số lượng lớn ở bên ngoài cơ thể chứ không phải do hệ thống miễn dịch của người bệnh. Chúng có thể có hiệu quả ngay cả khi hệ thống- miễn dịch của bệnh nhân quá yếu.

Có 2 loại kháng thể đơn dòng: Các kháng thể đơn dòng trơn (liệu pháp này đã giúp ích cho một số bệnh nhân khi cách điều trị chuẩn hết hiệu quả) và các kháng thể đơn dòng có gắn thuốc hoặc chất phóng xạ (loại này được dùng như các phương tiện chuyên chở mang các loại thuốc chống ung thư hoặc chất phóng xạ đi thẳng đến tế bào ung thư để giết chúng).

Liệu pháp mới cuối cùng trong điều trị ung thư là liệu pháp điều trị nhắm trúng đích.

Liệu pháp này là dùng các loại thuốc đã khóa sự tăng trưởng va lan tràn của ung thư.

Người bệnh và gia đình họ phải làm gì để đối phó với căn bệnh ung thư này?

– Hãy tìm kiếm liên kết với một cái gì đó bên ngoài bạn. Có niềm tin vững chắc và cảm giác về một cái gì đó mạnh hơn bạn có thể giúp bạn đương đầu thành công với ung thư.

2. Người bệnh và gia đình họ phải làm gì để đối phó với căn bệnh này?

Khi được chẩn đoán mình bị ung thư thực quản hẳn người bệnh và gia đình mình có nhiều xáo trộn. Đôi khi những xáo trộn này rất khó có thể giải quyết. Đa phần người bệnh cùng người thân của mình sẽ có cảm giác bối rối. . Ban đầu có thể là sợ hãi, giận dữ và suy sụp. Đó là những phản ứng bình thường của con người khi đối mặt với một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Hầu hết bệnh nhân thường vượt qua khó khăn này dễ dàng hơn khi họ chia sẻ suy nghĩ và tình cảm của mình với những người thân xung quanh. Chia sẻ là cách giúp xoa dịu bớt nỗi đau của người bệnh, đồng thời giúp những người xung quanh hiểu, thông cảm và có những hỗ trợ cho người bệnh.

Ngoài ra còn có những sự lo lắng về các xét nghiệm, về việc điều trị, về việc nằm viện và về vấn đề viện phí. Bác sĩ, y tá, các nhân viên xã hội…. là người giúp bệnh nhân giảm bớt lo lắng này.

Bệnh nhân và người thân cũng rất quan tâm đến tương lai sắp tới của họ. Thường thì họ dựa trên các thống kê để tính toán xem liệu người thân của mình có được chữa khỏi hay không hoặc người bệnh sẽ sống được bao lâu nữa. Nhưng bạn lưu ý rằng các thống kê dựa trên một số lượng rất lướn bệnh nhân. . Bạn không thể áp dụng nó lên một bệnh nhân cụ thể nào được vì không có sự giống nhau giữa hai người bệnh ung thư. Người thầy thuốc điều trị và nắm vững tiền sử của bệnh nhân là người thích hợp nhất để đưa ra tiên lượng cho bệnh nhân của mình. Người bệnh không nên e ngại khi hỏi về tiên lượng của mình, nhưng bạn cần nhớ rằng ngay cả khi thầy thuốc cũng không đoán trước được chuyện gì sẽ xảy ra.

Chung sống với một căn bệnh hiểm nghèo như vậy thật khó khăn. Người bệnh và những người nuôi bệnh sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức. Một khi họ được cung cấp đầy đủ thông tin thì chắc chắn họ sẽ có nhiều can đảm hơn để vượt qua thử thách.
Bác sỹ có thể giải thích đầy đủ về cặn bệnh, cho bạn những lời khuyên trong điều trị, trong công việc, trong các hoạt động hàng ngày của bạn. Còn các y tá, các nhân viên xã hội, các nhà tư vấn, các tổ chức.

Kỹ năng đối diện ung thư.

VIII: KỸ NĂNG ĐỐI DIỆN VỚI BỆNH UNG THƯ

1. Chẩn đoán ung thư có thể đặt ra thách thức rất lớn. Hãy nhớ rằng không có vấn đề gì với sự lo lắng hoặc chẩn đoán, bạn không đơn độc. Đây là vài chiến lược và nguồn lực mà có thể giúp bạn đối diện với: ung thư dễ dàng hơn:

– Biết những gì đang mong chờ. Tìm hiểu tất cả mọi điều mà bạn có thể tìm được về bệnh ung thư của bạn – loại bệnh, giai đoạn, khả năng điều trị và những tác dụng phụ của điều trị. Bạn biết càng nhiều thì bạn tự chăm sóc mình càng tốt. Hãy nói với bác sỹ của bạn.

– Tìm kiếm thông tin ở thư viện địa phương hoặc trên mạng.

– Hãy đi tiên phong. Mặc dù bạn cảm thấy mệt mỏi và không được phấn kởi, đừng kéo theo những người khác – bao gồm gia đình và bác sĩ của bạn – tạo những quyết định quan trọng của bạn. Thật là đầy nghị lực khi bạn nhận vai trò hành động trong việc điều trị của mình.

Duy trì hệ thống người ủng hộ bền vừng. Có một hệ thống ủng hộ có thể giúp bạn đương đầu với bất kỳ mọi khó khăn, đau đớn và lo âu có thể xảy ra. . Mặc dù bạn và gia đình có thể là những đồng minh tốt nhất, đôi khi họ có thể có cách cư xử lo lắng với bệnh của bạn. Nếu thể, sự quan tâm và thông cảm của một nhóm khác trong việc đối phó với ung thư có thể đặc biệt hữu ích. Mặc dù những nhóm ủng hộ không có cho tất cả mọi người, họ có thể là nguồn tốt cung cấp cho bạn những thông tin thực tiễn. Bạn cũng có thể phát triển những mối quan hệ bền vững và lâu dài với những người đang trải qua hoàn cảnh giống bạn.

– Đặt ra những mục đích hợp lý. Có mục đích có thể giúp bạn kiểm soát được và đưa ra cho bạn những mục tiêu mong muốn. Nhưng đừng lựa chọn mà mục đích của bạn không thể hướng tới.

Ví dụ bạn không thể làm việc 40 giờ một tuần, nhưng bạn có thể làm việc ít nhất một nửa thời gian. Thực tế, nhiều người tháy rằng có thể làm việc tiếp rất hữu ích.

– Có thời gian của riêng bạn. Ăn tốt, thư giãn và nghỉ ngơi đủ có thể giúp bạn chiến đấu với căng thẳng và mệt mỏi của ung thư. Cũng như vậy, nhưng kế hoạch phía trước cho thời gian rỗi, khi bạn có thể cần nghỉ ngơi nhiều hơn và làm việc có giới hạn.

– Nghỉ ngơi tích cực. Khi nhận chuẩn đoán ung thư không có nghĩa phải dừng tất cả những gì bạn thích và thường làm. Nếu hầu hết các vấn đề, nếu bạn cảm thấy đủ khỏe để làm, hãy tiến lên và làm nó. . Điều quan trọng là nghỉ ngơi nhiều trong khả năng của bạn.

Tránh xa các axit béo và ăn nhạt.

Các chuyên gia khuyên rằng mỗi tuần, nên có hai ngày hoàn toàn không uống thức uống chứa cồn.

* Không ham ăn thịt.

Thịt và các sản phẩm được chế biến từ thịt mặc dù rất ngon và có rất nhiều chất bổ, nhưng thói quen ăn quá nhiều thịt cũng là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc ung thư.

Tuy nhiên, như vây không có nghĩa là chúng ta không nên ăn thịt, vì thịt là loại thực phẩm cung cấp nhiều chất bổ cho cơ thể như protein, chất sắt, kẽm và vitamin B12.

Nên hạn chế ăn nhiều các loại thịt đỏ (thịt bò, lợn, cừu, bê), mà thay vào đó là các loại thịt trắng (thịt gia cầm) hay các thực phẩm giàu dinh dưỡng khác như cá, trứng.

* Cẩn thận với đậu tương.

Người ta giới thiệu đậu tương như là một loài cây kì diệu, có khả năng giúp con người khỏe mạnh và sống lâu. Sự thật không hoàn toàn như vậy.

Mặc dù nó có chứa nhiều dưỡng chất nhưng cũng không nên sử dụng quá nhiều, nhất là khi đã được chế biến dưới các dạng thực phẩm khác nhau. Đậu tương có chứa chất gây rối loạn nội tiết tố nếu sử dụng với số lượng lớn. Các phân tử hóa học trong đậu tương có thể ảnh hưởng đến hóc – môn của cơ thể, đặc biệt là hóc món ở phụ nữ, gây rối loạn chức năng của các hóc món này. Đó là lí do vì sao đậu tương được biết đến với chức năng làm giảm các cơn bốc hỏa của phụ nữ ở thời kỳ mãn kinh.

Đến nay, không có cơ sở nào chứng minh được rằng ăn nhiều các sản phẩm từ đậu tương có thể giúp chống lại căn bệnh ung thư vú, mặc dù đã có nhiều điều tra đã chỉ ra rằng phụ nữ châu á sử dụng nhiều đậu tương nên ít bị ung thư vú.

* Tránh xa các axit béo và ăn nhạt.

Những chiếc bánh chiên và món ăn nhanh quả thật là tiện lợi với cuộc sống hiện đại, nhưng muối và các axit béo trong các món khoái khẩu này nguy hiếm giống như những sát thủ giấu mặt vậy. Axit béo sản sinh ra trong quá trình chế biến các loại dầu thực vật và khi chúng được nạp vào cơ thể quá nhiều sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Phụ nữ có tỉ lệ axit béo ở trong máu căng nhiều thì khả năng gây ung thư vú càng cao. Kết quả khảo sát trên 500.000 phụ nữ ở 10 nước châu Âu cho thấy những người ăn nhiều thực phẩm có axit béo có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao gấp 2 lần so với những người sử dụng thực phẩm có hàm lượng axit béo thấp.

Các mối liên quan chủ yếu giữa chế độ ăn và ung thư.

Aflatoxin là độc tố gây ung thư gan mạnh trên thực nghiệm và sử dụng thực phẩm nhiễm afla-toxin là một nguy cơ gây ung thư ở người.

– Một số các nitrosamin cũng là chất gây ung thư trên thực nghiệm. Nitrosamin được hình thành ở ruột non do sự kết hợp giữa nitrit và các acid amin. Các nitrat thường có một lượng nhỏ trong thực phẩm, mặt khác một số ít người còn dùng nitrat và các nitrit để bảo quản thịt chống ô nhiễm clostridium. Vì vậy việc giám sát việc cho phép các chất phụ gia này là rất cần thiết.

– Nhiều loại phẩm màu thực phẩm và chất gây ngọt như cyclamat cũng có khả năng gây ung thư thực nghiệm, do đó các quy định vệ sinh về phẩm màu, các chất phụ gia cần được tuân thủ một cách chặt chẽ.

* Các mối liên quan chủ yếu giữa chế độ ăn và ung thư.

+ Mối liên quan giữa chế độ ăn với ung thư còn ít được nghiên cứu hơn so với các bệnh tim mạch mặt khác đó là những nghiên cứu không dễ dàng.

Theo sự hiểu biết hiện nay, người ta cho rằng chế độ ăn có lượng chất béo cao là yếu tố nguy, cơ đối với ung thư đại tràng, tuyến tiền liệt và ung thư vú.

+ Các chế độ ăn giàu thức ăn thực vật, đặc biệt là các loại rau xanh, quả chín làm giảm nguy cơ ung thư phổi, đại tràng, thực quản vã dạ dày. Cơ chế của các yếu tố này còn chưa rõ ràng nhưng người ta cho rằng có thể là do các chế độ ăn này có ít chất béo bão hòa, nhiều tinh bột chất xơ, các vitamin và chất khoáng, đặc biệt là b – caroten.

* Trọng lượng có thể cũng có vai trò nhất định, người béo dễ mắc bệnh ung thư vú và nội mạc hơn.

+ Điều chỉnh ăn uống hợp lý là cách đơn giản nhất dể loại bỏ nguy cơ mắc ung thư.

Đây không phải với những bí quyết có thể phòng ngừa hoàn toàn bệnh ung thư, bởi vì các tác nhân gây ung thư không chỉ bắt nguồn từ việc ăn uống mà còn do tác động của môi trường, thể chất cũng như thói quen sinh hoạt… Tuy nhiên, việc điều chỉnh ăn uống hợp lý là cách đơn giản nhất, rẻ nhất và dễ nhất để loại bỏ đáng kể nguy cơ mắc căn bệnh mà đến nay vẫn là vô phương cứu chữa này.

* Từ bỏ đồ uống có cồn.

Người ta vẫn nói rằng việc mỗi ngày uống một ly rượu vang sẽ tốt cho tim mạch, nhưng mặt khác việc sử dụng hàng ngày đồ uống có cồn là tác nhân gây bệnh ung thư.

Không chỉ có thế mà kết quả của một công trình nghiên cứu mới đây của Viện nghiên cứu Ung thư quốc gia Pháp còn cho kết luận rằng chất chống oxy hóa có trong rượu vang đỏ có thể làm gia tăng nguy cơ ung thư vòm họng, thực quản, ruột kết ở đàn ông và ung thư vú ở phụ nữ nếu họ uống rượu hàng ngày , dù với liều lượng rất nhỏ.

Vấn đề dinh dưỡng và bệnh ung thư.

– Thực phẩm xả đông cần phải được nấu, chế biến ngay sau đó.

– Tất cả thức ăn còn dư phải được ướp lạnh bảo quản và cần phải được tiêu thụ trong vòng 24 tiếng.

– Không sử dụng trái cây, rau quả đã bị cũ, mốc meo hoặc bầm dập.

– Nấu chín tất cả thịt cá. Tránh ăn trứng sống hoặc các sống.

– Mua thực phẩm với số lượng đã được tính toán kỹ để tránh dư thừa; hết hạn hoặc không đảm bảo được vấn đề bảo quản tốt.

– Tránh tiếp xúc nhiều, thường xuyên với cộng đồng người bệnh.

– Rửa tay thường xuyên nhằm hạn chế lây truyền mầm bệnh.

* Chú ý vấn đề nước uống cho người bệnh.

– Uống 8 – 12 ly nước mỗi ngày. Nước ở đây có thể là nước chín, nước ép rau, quả, thịt…) sữa hoặc những thực phẩm có chứa nhiều nước.

– Luôn đem theo nước mỗi khi rời nhà. Điều quan trọng là uống nước ngay cả những lúc không khát vì khát không phải là một dấu chỉ điểm cho thấy cơ thể cần nước.

– Hạn chế những thức uống chứa cafein như càfê, trà đậm.

– Nên uống nước sau hoặc giữa bữa ăn.

* Khi bệnh nhân rơi vào tình trạng táo bón trong quá trình điều trị.

Gọi là táo bón, táo bón khi 1 tuần đại tiện ít hơn 3 lần và phân rắn. Đây là một vấn đề rất thường thấy ở bệnh nhân ung thư.

Nguyên nhân có thể là do thiếu nước hoặc thiếu nhiều chất xơ trong chế độ ăn, thiếu hoạt động thể lực, những tác động bởi liệu pháp điều trị. Một số gợi ý sau đây có thể giúp ngăn ngừa táo bón:

– Ăn chế độ ăn, nhiều chất xơ và uống nhiều nước (lượng xơ khuyến cáo là 25 – 35g cho 1 người/ngày).

– Uống từ 8 – 10 ly nước mỗi ngày.

– Nước chín, nước ép (rau, quả, thịt) ấm, nước chanh, trà không có cafein sẽ rất hiệu quả.

– Nên đi bộ và vận động thường xuyên.

– Nếu táo bón vẫn tồn tại sau những biện pháp dinh dưỡng, vận động và đi bộ. Có thể sử dụng thuốc để điều chỉnh.

VII. VẤN ĐỀ DINH DƯỠNG VÀ BỆNH UNG THƯ

Mặc dù nguyên nhân của nhiều loại ung thư còn chưa biết rõ nhưng người ta càng ngày càng quan âm đến mối liên quan giữa chế độ ăn uống với ung thư. Theo thống kê dịch tễ học, có 30% ung thư liên quan tới hút thuốc lá, 35% liên quan đến ăn uống, do rượu 3% và do các chất cho thêm vào thực phẩm 1%.

Trước hết, một số chất gây ung thư có thể có mặt trong thực phẩm đáng chú ý nhất là các afla-toxin và nitrosamin.

– Aflatoxin là độc tố do mốc Aspergillus flavus tạo ra, gặp ở đậu phộng bị mốc và một số thực phẩm khác do điều kiện bảo quản không hợp lý sau thu hoạch.

Khi người bệnh bị đau và nhiễm trùng miệng, hầu họng.

– Tránh các thức ăn đồ uống chứa nhiều đường.

– Tránh súc miệng bằng những dung dịch có chứa cồn.

– Luôn giữ ẩm cho đôi môi bằng vaselin thoa môi.

– Nếu tình trạng khô miệng trở nên trầm trọng, cản gặp bác sĩ chuyên khoa.

* Khi người bệnh bị đau và nhiễm trùng miệng, hầu họng.

Đau họng, miệng, lợi răng sưng, ấn đau thường hay gặp ở những bệnh nhân ung thư đang phải chịu xạ trị, hóa trị liệu hoặc đang có những vấn đề nhiễm trùng.

Khi thấy đau răng miệng, đầu tiên nên gặp bác sỹ chuyên khoa để đảm bảo chắc chắn rằng vấn đề đau ở đây là do tác dụng phụ của liệu pháp điều trị chứ không phải do các bệnh răng miệng gây ra.

Một số thực phẩm nhất định có thể kích thích nhiều hơn tình trạng răng miệng của chúng ta do gia vị cay nồng, cứng quá khó nuốt do đó cần phải biết lựa chọn thực phẩm. Nên ăn những thực phẩm mềm, dễ dàng nhai và nuốt:

– Trái cây mềm (chuối, dưa hấu…)

– Phô mai.

– Khoai tây nghiền.

– Mì sợi, nui, bún, phở.

– Sữa, bột ngũ cốc khuấy.

– Tránh những thức ăn khô, thô, cứng (rau sống, bánh mỳ nướng, bánh quy giòn…).

– Tránh thức ăn cay, mặn.

– Tránh trái cây và nước quả có vị chua (cam, quýt, bưởi…).

– Nấu thức ăn cho đến khi thật mõm.

– Thực phẩm nên cắt nhỏ.

– Ăn thực phẩm lạnh, để nguội bằng nhiệt độ trong phòng.

– Đánh răng (kể cả răng giả). Súc miệng ít nhất 4 lần trong ngày.

* Khi bệnh nhân có cảm giác bị buồn nôn hoặc bị nôn.

– Nên ăn trước khi đói thực sự vì cơn đói làm tăng cảm giác buồn nôn mạnh hơn.

– Uống ít nước trong khi ăn tránh gây tăng cảm giác đầy bụng, óc ách dễ nôn. Tốt nhất là uống chậm, nhiều hớp có thể suốt ngày. Sử dụng ống hút rất hữu ích.

– Tránh những thức ăn dầu mỡ, cay nồng, nặng mùi…

– Ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày. – Ăn những thực phẩm khô như bánh quy giòn, bánh mì nướng rải đều trong ngày.

– Nên ngồi hoặc nằm tư thế nửa nằm nửa ngồi sau khi ăn khoảng 1 tiếng.

– Tránh ăn uống những thực phẩm đậm mùi trong phòng kín. Đừng ép mình phải ăn một thực phẩm đã từng ưa thích nào đó khi đã buồn nôn, vì điều này có thể làm cho người bệnh ghét thực phẩm đó vĩnh viễn.

– Không gian sống phải thoáng không khí trong lành.

– Nếu tình trạng buồn nôn xảy ra trong suốt thời gian xạ trị hoặc hóa liệu pháp, bệnh nhân cần tránh ăn trước khi điều trị khoảng 1 – 2 tiếng đồng hồ.

– Mặc áo quần thích hợp, rộng rãi.

* Bệnh nhân trong tình trạng bạch cầu trong máu giảm.

– Chú ý không nên mua và sử dụng những thực phẩm quá hạn sử dụng.

– Không mua đồ hộp sưng phồng móp méo.

Khi người bệnh khô miệng.

– Ăn theo chế độ giàu năng lượng, giàu đạm, nhiều bữa nhỏ trong ngày thay vì 3 bữa ăn lớn chính. Cách ăn này giúp người bệnh có thể ăn nhiều hơn nhưng không gây đầy bụng.

– Bổ sung thêm năng lượng và đạm vào thực phẩm (bơ, sữa bột, mật ong, đường đen…).

– Bổ sung nước uống (những thức uống đặc biệt có chứa dưỡng chất), canh súp, sữa, nước ép (trái cây, rau, thịt), thức ăn nghiền trộn, xay nhuyễn… (trong trường hợp bệnh nhân khó ăn được thức ăn rắn).

– Chuẩn bị và dự trữ thực phẩm hợp khẩu vị nhằm tiện sử dụng mọi lúc mọi nơi một cách dễ dàng mỗi khi đói (phô mai, bánh quy dòn, nho khô…)

– Buổi sáng phải là buổi ăn chính, chiếm 1/3 tổng năng lượng và lượng đạm nhập cho suốt một ngày.

– Ăn những thực phẩm hương vi thơm ngon hấp dẫn.

– Nếu bệnh nhân bị dị ứng với những thực phẩm nặng mùi, nên sử dụng bếp có quạt hút mùi, nấu ăn ngoài trời, sử dụng thực phẩm nguội thay cho nóng (vì thức ăn đang nóng, thực phẩm sẽ có mùi rất mạnh), mở nắp xoong nồi thức ăn cho giảm bớt mùi trước khi mang thức ăn vào phòng cho bệnh nhân. Sử dụng quạt để xua bớt mùi thuức ăn quanh người bệnh.

– Sáng tạo đổi món, đa dạng hóa thức ăn và món tráng miệng.

– Thời gian lúc ăn phải thư giãn, vui vẻ, buổi ăn cần được trình bày thật hấp dẫn.

Thể dục, vận động thường xuyên sẽ giúp ngon miệng hơn. Cần gặp bác sĩ để biết được loại hình vận động nào phù hợp với chính bản thân mình.

* Khi người bệnh khô miệng.

Hóa trị liệu hoặc xạ trị ở vùng đầu, cổ… có thể gây ra sự giảm tiết nước bọt và dẫn đến khô miệng rất khó chịu. Khi gặp phải điều này, thức ăn đối với bệnh nhân sẽ tở nên cứng hơn, khó nhai và khó nuốt. Khô miệng góp phần làm tình trạng chán ăn càng trầm trọng. Trong trường hợp này, cần chú ý:

– Nên ăn thức ăn mềm xay nhuyễn, hoặc chế biến nhiều nước như xốt, nước thịt, xà lách trộn…

– Có thể nhai kẹo hơi cứng hoặc nhai chewgum nhằm tăng tiết nước bọt nhiều hơn.

– Sử dụng đồ tráng miệng ướp lạnh.

– Vệ sinh răng miệng (kể cả răng giả) và súc miệng tối thiểu 4 lần 1 ngày (sau mỗi bữa ăn và trước lúc đi ngủ).

– Uống từng ngụm nước, hoặc nước canh sau mỗi vài phút để giúp nuốt dễ dàng hơn. Nhớ đem theo nước uống khi ra khỏi nhà để tiện sử dụng mọi lúc mọi nơi.

– Thử sử dụng một số thức ăn đồ uống chua (không nên thực hiện điều này nếu bệnh nhân đang những vết thương gây đau ở vùng hầu họng) nhằm giúp tăng tiết nước bọt.

Chế độ ăn cho người bị bệnh ung thư.

Những nghiên cứu về ung thư cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ung thư sẽ khác nhau nếu như trong chế độ ăn uống của bạn xác định được các thực phẩm gây bệnh sẽ làm bệnh sẽ giảm 40%.

Yếu tố di truyền và môi trường cũng đóng một vai trò. Vì thế, đôi khi ung thư vẫn xảy ra rằng những người trẻ, những người khỏe mạnh thường xuyên tập thể dục, những người ăn uống lành mạnh, người không hút thuốc và không uống rượu… Tuy nhiên nếu phát hiện và điều trị sớm thì bệnh vẫn có khả năng chữa khỏi.

– Xây dựng những thói quen mới lành mạnh.

Có nhiều cách mà bạn có thể làm giảm nguy cơ ung thư của chính bạn bằng cách thay đổi thói quen và lối sống của chính mình như:

+ Ngưng hút thuốc lá.

+ Không uống nhiều hơn 2 thức uống hàng ngày.

+ Tránh xa các chất gây ra ung thư như môi trường bị ô nhiễm và hóa chất.

+ Không nên để nám da vì ánh nắng mặt trời.

+ Khám bác sỹ nếu bạn thường mệt mỏi kéo dài.

+ Tập thể dục 3 – 4 lần/tuần.

+ Giảm cân nếu bạn thừa cân.

Xem lại chế độ ăn uống của bạn. Nên chọn thực phẩm có chất chống gây ung thư với nhiều tính chất chống oxy hóa và thực phẩm có nhiều chất sợi. Tránh một số loại thực phẩm không tốt cho bệnh tình của bạn.

2.2 Chế độ ăn cho người bị bệnh ung thư.

Ung thư và điều trị ung thư có thể gây nên những tác động bất lợi có liên quan đến dinh dưỡng đối với cơ thể bệnh nhân. Chế độ ăn là một phần quan trọng trong điều trị ung thư.

Ăn đúng trước, trong và sau khi điều trị có thể giúp cho bệnh nhân giảm thiểu được những bất lợi do các tác dụng phụ nói trên mang lại và giúp bệnh nhân có cám giác sống khỏe hơn.

Để đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, người bệnh cần phải ăn uống đầy đủ thực phẩm đảm bảo đủ các nhóm chất: Đạm – bột đường – béo – vitamin, khoáng chất – nước.

Dưới đây là những chăm sóc dinh dưỡng cơ bản cho bệnh nhân ung thư trong những trường hợp cụ thể:

– Trong trường hợp bệnh nhân biếng ăn.

Biếng ăn là một trong những vấn đề thường gặp nhất ở những bệnh nhân ung thư hoặc đang được điều trị ung thư. Trầm cảm, nỗi sợ hãi cũng làm cho người bệnh mất ngon miệng.

Đôi khi, những tác dụng phụ của quá trình điều trị như buồn nôn, nôn, những thay đổi về khẩu vị cũng góp phần làm cho bệnh nhân càng không thích ăn.

Đối với một số người, biếng ăn chỉ kéo dài trong vài ngày. Ở những người khác, biếng ăn có thể kéo dài lâu hơn.

* Một số gợi ý sau đây có thể giúp cải thiện tình trạng trên cho người bệnh.