Nhóm mổ nội soi.

phúc mạc. Có 5 trường hợp bị bục miệng nối ở cổ 3 trường hợp, tự khỏi sau 7 ngày. Một trường hợp rò vùng hạ sườn trái do bục miệng khâu thực quản bụng. Có 2 bệnh nhân bị viêm phổi sau mổ cần dùng kháng sinh điều trị tích cực. Thời gian nằm viện trung bình là 25 ngày.

– Thay thế thực qủan bằng đại tràng: Trong thời gian 19 năm (1979 – 1997), bệnh viện đã thực hiện 66 lần thay thế thực quản cho 3 bệnh nhân nữ và 63 bệnh nhân nam bằng đại tràng. Các trường hợp này là ung thư thực quản 1/3 giữa đã lan rộng không còn cắt được bướu.

31 trường hợp dùng đại tràng phải (29 bệnh nhân có dùng thêm một đoạn hồi tràng); 18 trường hợp đồng đại tràng ngang thuận chiều nhu động và 17 trường hợp dùng đại tràng ngang nghịch chiều nhu động. Có 10 trường hợp đại tràng được đặt dưới da trước xương ức, 55 trường hợp nằm sau xương ức và 1 trong ngực trái. Tất cả đều được mổ làm một thì. Thời gian mổ trung bình là 3 giờ. Có 14 trường hợp bị rò ở cổ (21,21%). Có 10 trường hợp tử vong (15,15%): 6 bệnh nhân tử vong do viêm phổi, 3 trường hợp hoại tử mảnh ghép và 1 trường hợp bị viêm phúc mạc do bục miệng nối đại tràng trong ổ bụng.

2. Nhóm mổ nội soi

Từ đầu tháng 3 năm 2006 đến cuối tháng 12 năm 2007 bệnh viện Bình Dân đã áp dụng kỹ thuật trên co 14 bệnh nhân, có 2 nữa và 12 nam với tuổi trung bình là 61. Thoeif gian mổ trung bình là 260 phút.

+ Biến chứng sau mổ.

– 1 ca bung thành bụng phải khâu lại sau 7 ngày.

– 1 ca viêm phổi sau mổ điều trị nội thành công.

– 2 ca tràn khí màng phổi bên phải, phải làm siphonage.

– 1 ca bị tổn thương ống ngực phải mổ lại 6 lần mới cứu được bệnh nhân.

– Có 1 trường hợp đột tử không liên quan đến kỹ thuật mổ. Sau mổ 9 ngày, bệnh nhân ăn lại được, chuẩn bị xuất viện thì tử vong đột ngột không rõ.

* Kết luận

Cắt thực quản không mở ngực là phẫu thuật an toàn nếu phẫu thuật viên tuân thủ đúng đắn các nguyên tắc căn bản. Kỹ thuật này tốt cho các trường hợp ung thư, ung thư 1/3 dưới thực quản và ung thư tâm vị lan lên phần dưới thực quản.

Về cắt toàn bộ thực quản mổ mở cổ điển: Kỹ thuật mổ và việc thay đổi thế nằm của bệnh nhân giúp chúng tôi thao tác dễ hơn. Nối ở cổ khiến cho phẫu thuật an toàn vì nếu có bục miệng nối thì tính mạng bệnh nhân không bị đe dọa như khi hiện tượng bục miệng nối xảy ra trong lồng ngực.

Về việc thay thế thực quản bằng dạ dày: Nếu cắt được ung thư thì uốn dạ dày thành ống theo kỹ thuật Akiyama là cách thay thế thực quản cho kết quả tốt nhất.

Cắt toàn bộ thực quản mổ mở cổ điển.

Có 4 bệnh nhân bị tràn khí màng phổi bình phục sau khi dẫn lưu kín: 1 bị vỡ nách, 2 bị bục miệng nối ở cổ tự lành. Không có trường hợp nào tử vong khi mổ chương trình.

Trường hợp mổ cấp cứu do chảy máu nặng là trường hợp duy nhất bị tử vong: Bệnh nhân được phẫu thuật viên khác mô thám sát ung thư tâm vị trước đó 02 năm, nay nhập viện lại vì bướu gây chảy máu nặng không cầm được bằng các biện pháp nội khoa.

Trong khi mổ màng phổi trái bị rách, sau khi cắt thực quản cúng tôi có dẫn lưu màng phổi và bệnh nhân tử vong sau 24 giờ mổ cấp cứu.

Trên thực tế, phẫu thuật thực quản là phẫu thuật khó và nguy hiểm, tử vong cao nếu chúng ta không thạo kỹ thuật và không có một kíp mổ ăn ý, nhiều lúc gây lúng túng cho thầy thuốc.

Bệnh có tiên lượng rất xấu. Phẫu thuật lớn vềthực quản là phẫu thuật nguy hiểm do bệnh nhân đến trễ và cuộc mổ nặng, phức tạp. Vì thế mục tiêu nghiên cứu dài lâu của chúng tôi là nghiên cứu chỉ định của các phương pháp phẫu thuật và kết quả của các phương pháp phẫu thuật.

– Cắt toàn bộ thực quản mổ mở cổ điển: Từ tháng 5 năm 1991 đến tháng 9 năm 2000, đã áp dụng kỹ thuật cắt bỏ toàn bộ thực quân cho 24 bệnh nhân bị ung thư 1/3 giữa thực quản. Có 1 bệnh nhân nữ và 23 bệnh nhân nam.

Đầu tiên chúng tôi mở ngực phải liên sườn 5 – 6 để cắt bỏ toàn bộ thực quản ngực. Tiếp theo, bệnh nhân được xoay lại tư thế nằm ngửa. Mở bụng giữa trên rốn và mở cổ bên trái. Dạ dày được uốn thành một ống đặt trong trung thất sau và được dựa lên cổ để nối với thực quản cổ còn lại.

Không có tai biến gì trong khí mổ và không có trường hợp nào cần truyền máu trong suốt thời gian phẫu thuật. Thời gian mổ trung bình là 4 giờ 30.

Không có trường hợp nào tử vong trong thời gian nằm viện. Có 2 trường hợp bị bục miệng nối ở cổ tự lành. Thời gian này trung bình là 21 ngày.

1 trường hợp sau 4 tháng bướu tái phát lan qua khí quản không can thiệp gì thêm. Trường hợp này tử vong sau khi mổ 6 tháng. Ba trường hợp sống được 17 tháng.

20 trường hợp còn lại sống trung bình được 12 tháng.

– Thay thế thực quản bằng dạ dày: Cũng trong thời gian này có 27 trường hợp ung thư thực quản 1/3 giữa lan quá rộng, chúng tôi không cắt bướu mà chì dùng dạ dày bắc cầu thay thế thực quản bị nghẹt. Tất cả đều là bệnh nhân nam.

Trường hợp này ống dạ dày được đặt sau xương ức. Thời gian mổ trung bình là 2 giờ 45 phút. Có 3 bênh nhân tử vong trong nhóm này: 2 trường hợp do bục chỗ sâu kín thực quản bụng gây viêm phúc mạc được mổ lại nhưng thất bại, một tử vong do ống cao su mở hổng tràng ra da nuôi ăn gây thủng ruột làm viêm

Điều trị ung thư thực quản bằng phương pháp phẫu thuật.

Từ năm 2005/ tại Bệnh viện Trung Ương quân dội 108 phẫu thuật nội soi đã được ứng dụng thường xuyên để điều trị bệnh lý này đem lại kết quả rất khả thi.

Theo T.S Triệu Triều Dương: “Nhờ có phương pháp mổ nội soi mà bệnh nhân không phải mở lồng ngực, bụng… nên thời gian phục hồi nhanh, ít đau sau mổ, bệnh nhân ăn trở lại bằng đường miệng sau khoảng 10 ngày, giảm tỷ lệ tái phát và di căn tế bào ung thư, kéo dài thời gian sống sau mổ”.

II. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT

Ung thư thực quản là bệnh thường gặp tại Việt Nam và là 1 trong 10 ung thư thường gặp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Qua những năm hành nghề chúng tôi nhận thấy điều trị ung thư thực quản rất khó và tiên lượng rất xấu vì bệnh nhân đến trễ. Hiện tại điều trị phẫu thuật vẫn còn giữ vai trò hàng đầu.

Trên thực tế, phẫu thuật thực quản là phẫu thuật khó và nguy hiểm, tử vong cao nếu chúng ta không thạo kỹ thuật và không có một kíp mổ ăn ý, nhiều lúc gây lúng túng cho thầy thuốc.

Bệnh có tiên lượng rất xấu. Phẫu thuật lớn về thực quản là phẫu thuật nguy hiểm do bệnh nhân đến trễ và cuộc mổ nặng, phức tạp. Vì thế mục tiêu nghiên cứu dài lâu của chúng tôi là nghiên cứu chỉ định của các phương phập phẫu thuật và kết quả của các phương pháp phẫu thuật.

Tại bệnh viện Bình Dân, trong thời gian từ tháng 5 năm 1979 đến tháng 6 năm 2007, đã phẫu thuật mở cho 146 bệnh nhân bị ung thư thực quản và 14 bệnh nhân khác được mổ qua nội soi lồng ngực hỗ trợ.

Các phương pháp phẫu thuật dược áp dụng:

– Ung thư thực quản 1/3 giữa: cắt thực quản mổ mở hoặc cắt thực quản có nội soi lồng ngực hỗ trợ.

– Ung thư thực quản 1/3 dưới: cắt thực quản không mở ngực hoặc cắt thực quản có nội soi lồng ngực hỗ trợ.

– Nếu bướu không còn cắt được, chúng tôi bắc cầu thay thế thực quản ể bệnh nhân có thể ăn uống nuốt qua miệng bằng ống dạ dày hoặc dùng một đoạn đại tràng.

Trong nhóm mổ mở có 6 nữ và 140 nam. Tuổi trung bình là 60. Trong nhóm mổ qua nội soi lồng ngực có 2 nữ và 12 nam. Tuổi trung bình của nhóm này là 61.

1. Nhóm mổ mở.

Nhóm này bao gồm 146 trường hợp.

– Cắt thực quản không mở ngực: Được áp dụng từ năm 1991. Trong thời gian từ tháng 12 nam 1991 đến tháng 9 năm 2000, chúng tôi đã tiến hành cắt thực quản không mở ngực cho 29 bệnh nhân (2 nữ và 27 nam). Có 27 trường hợp ung thư thực quản 1/3 dưới, 2 trường hợp ung thư tâm vị lan lên thực quản. Một trường hợp phải mổ cấp cứu vì bướu gây chảy máu nặng.

Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư thực quản.

Chương III: THAM KHẢO MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ MỚI – CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ THỰC QUẢN

I. PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐlỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN

Phẫu thuật nội soi điều trị ung thư thực quản đã được thực hiện tại Bệnh viện Trung Ương quân đội 108 cho thấy giúp giảm các tai biến và cải thiện chất lượng cuộc ống cho bệnh nhân sau mổ.

Ung thư thực quản là bệnh lý đứng hàng thứ 10 trong bệnh ung thư đường tiêu hóa. T.s Triệu Triều Dương, Bệnh viện Trung Ương quân đội 108 (Hà Nội) cho biết: Ung thư thực quản có 3 hình thái cơ bản, dạng sùi – chiếm trên 60% các trường hợp. Đó là khôi sùi vào lòng thực quản bề mặt không đều, thường có loét hoại tử ở trung tâm khối u, bờ xung quanh gồ cao, dễ chảy máu, khi cắt ngang, u có màu ngà trắng;, dạng loét – ít gặp hơn, chiêm vào khoảng 20% -30% các trường hợp. ổ loét sâu, đáy thường có hoại tử, xâm lấn sâu vào thành thực quản và các cấu trúc xung quanh; dạng thâm nhiễm rất ít gặp- chiếm khoảng 10%. Tổ chức ung thư xâm lấn lan tỏa thành thực quản, thường chiếm toàn bộ chu vi, có màu trắng ngà, làm dày đều thành và gây hẹp lòng thực quản.

Dấu hiệu lâm Sàng thờng gặp nhất của bệnh ở giai đoạn tiến triển là nuốt nghẹn (trên 85% các trường hợp). Nhưng khi bệnh nhân đến khám vì nuốt nghẹn thì chẩn đoán đã bị muộn mất 3 – 4 tháng. Gầy sút gặp ở 70% các trường hợp. Nôn máu đơn độc đôi khi cũng là triệu chứng phát hiện bệnh.

– Chẩn đoán và chữa trị:

Phát hiện ung thư thực quản sớm chủ yếu là tình cờ qua nội soi đường tiều hóa trên. Phát hiện bệnh sớm là tiêu chuẩn hàng đầu đem lại hiệu quả điều trị. Muốn phát hiện sớm bệnh lý này đòi hỏi người dân phải được khám sức khỏe định kỳ một cách thường xuyên tại những cơ sở y tế chuyên khoa.

Chẩn đoán sớm bệnh này khó vì nó không có triệu chứng, hoặc triệu chứng rật mờ nhạt và kín đáo, dễ bị bỏ qua. Khoảng 7% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn đã có xâm lấn rộng trung thất hoặc đã có di căn (xâm lấn thần kinh quặt ngược, rò khí – phế quản, hạch cổ, hạch thượng đòn, di căn gan, ổ chướng..). Tại Bệnh viện trung ương quân đội 108 phần lớn người bệnh đến khám ở giai đoạn muộn, chỉ có 57% bệnh nhân vào viện còn khả năng phẫu thuật.

Điều trị bệnh ung thư thực quản đến nay chủ yếu vẫn là phẫu thuật, ngoài ra có thể sử dụng hóa trị và xạ trị tùy theo giai đoạn bệnh để điều trị phối hợp nhằm làm cải thiện thời gian sống sau mổ.

Ban Miêu Tiêu Tích Phương.

Ban Miêu Tiêu Tích Phương: Ban miêu 1 con, trứng gà 1 quả. Ban miêu bỏ đầu, chân, cánh, lông, đục 1 lỗ nhỏ ở vỏ trứng gà. Cho Ban miêu vào trứng, đun sôi 30 phút, lấy Ban miêu ra ăn ngay 1 con.

– Gia giảm: Trong thời gian uống thuốc, nếu tiểu đau hoặc đái ra máu, dùng xa tiền tử, mộc thống, trạch tả, hoạt thạch, đông qua bì, đại tiểu kế để thông lâm, Lợi tiêu, thanh nhiệt, cầm máu.

Kết quả lâm sàng: Bài này kết hợp hóa liệu trị 112 ca ung thư thực quản cuối kỳ, sau điều trị, số sống trên 1 năm 53 ca, tỷ lệ 47,32%, trên 2 năm 41 ca (36,6%), trên 3 năm 16 ca 14,29%, trên 4 năm 2 ca.

– Nãi Hoàng Phương: Thu cung (Bích hổ – Thằn lằn) 1 phần, ý dĩ nhân 3 phần, nài mẫu tử 3 phần, hoàng dược tử 3 phần, ngâm với rượu trắng, sau 2 tuần có thể uống.

Tác dụng: Hoạt huyết, thông lợi, giải độc, tiêu phù.

Kết quả lâm sàng: dùng trị 62 ca ung thư thực quản, có 14 ca hoàn toàn khỏi, 36 ca ăn lỏng được, ăn cháo lỏng 12 ca. Sau điều trị, có 29 ca ăn bán lỏng, ăn bình thường 33 ca, sống trên 3 năm 1 ca, trên 2 năm 6 ca, trên 1 năm 4 ca.

Bổ Thận Lục Vị Thang: thục địa 240g, sơn thù nhục 120g, hoài Sơn 20g, trạch tả, đơn bì, bạch linh đều 90g tán bột, luyện mật làm hoàn, nặng 9g, mỗi sáng sớm uống 1 – 2 hoàn, liên tục 1 năm.

Tác dụng: Có tác dụng trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh, phòng sự phát triển của ung thư.

Kết quả lâm sàng: Trị tế bào thực quản tăng sinh 30 ca, kết quả 8 ca khỏi, 18 ca tăng sinh vừa hoặc nhẹ, 3 ca không kết quả và 1 ca chuyển ung thư. Có kết quả 86,7%.

– Lý khí hóa kết thang: bát nguyệt trác 12g, câu quất 30g, cấp tính tử 30g, can thiêm bì 12g, bạch hoa xà thiệt thảo; đan sâm đều 30g, mã tiền tử sống 4, 5g, công đinh hương 9g, quảng mộc hương, sinh nam tinh, thiên long đều 9g, khương lang trùng 9g, hạ khô thảo 15g, tứ thảo căn, khổ sẩm, ngọa lăng tử đều 30g, sắc nước uống.

Kết quả lâm sàng: Trị 37 ca ung thư thực quản, khỏi lâm sàng 2 ca, tốt (hết triệu chứng, u nhỏ trên 50% 6 ca, có kết quả 11 ca, không kết quả 13 ca. Tỷ lệ có kết qủa chung là 51%, 2 ca sống trên 4 năm.

– Liên bồ thang: bán chi liên 60g, bồ công anh, hoàng dược tử đều 30g, pháp bán hạ 9g, toàn qua lâu 15g, hoàng liên 6g, sắc uống.

Gia giảm: Nôn thêm tuyền phúc hoa, đại giả hạch; đờm nhiều thêm chế nam tinh, ý dĩ, mông thạch cổn đờm hoàn; táo bón thêm đại hoàng, uất lý nhân; đau ngực thêm lộ lộ thông, phi bạch huyền hồ, đan sâm; tân dịch khô thêm thiên môn thiên hoa phấn, thạch hộc; khí hư thêm đảng sâm, hoàng kỳ…

– Kết quả lâm sàng: Trị 25 ca, có kết quả rõ 6 ca có kết quả 9 ca, không kết quả 10 ca. Tỷ lệ kết quả 60%. Cỏ 3 ca sống được 3 năm.

Một số bài thuốc có tác dụng ức chế tế bào thượng bì thực quản tăng sinh.

– Một số bài thuốc kinh nghiệm.

+ Tiêu ế tán số 3: uy linh tiên 60g, bản lam căn, tiêu nhân thảo đều 30g, ngưu hoàng (nhân tạo) 6g, nao sa (Amoniac) 3g, chế nam tinh 9g, chế thành cao bột khô. Mỗi lần uống 1,5g, ngày 4 lần.

+ Khai đạo tán: bằng sa 60g, hỏa tiêu 30g, nau sa 6g, trầm hương, Băng phiến đều 9g, Mông thạch 9 – 15g, tán bột mịn. Mỗi lần ngậm nuốt 1g, lúc chảy hết dịch nhớt có thể uống sữa thì ngậm 3 giờ một lần, dùng 2 ngày thì ngưng thuốc.

+ Nao Sa tán: Nao sa 30g, tán mịn bỏ vào ấm sành thêm 80ml nước đun ôi, lọc bỏ tạp chất, thêm Dấm trắng 30ml, đun bắt đầu lứa to sau lửa nhỏ cho khô, lấy bột kết tinh. Mỗi lần uống 0,6 ~ 1,5g, ngày 3 lần.

+ Phức phương nao sa tiễn: nao sa 2,7g, hải tảo, côn bố đều 15g, tháo đậu khấu 9g, ổ mai 3 quả, bạch hoa xà thiệt thảo 120g, bán chi liên 60g, sắc 2 lần, chia uống ngày 1 thang.

+ Khai quan tán: Thanh dại 4,5, thị sương 1,5g, hải cáp phấn 30g, bằng sa 9g, nao sa 6g, đường trắng 60g, tán bột. Mỗi lần ngậm 0,9 – 1,5g, ngày 4 lần.

+ Ế cách tán: Cấp tính tử 30g, mật gấu 1g, nao sa, móng tay người nướng đều 1,5g, tán bột mịn. Mỗi ngày uống 2 lần, sáng tối, mỗi lần hòa 3g thuốc uống.

+ Bài thuốc cơ bản trị ung thư thực quản của Thượng Hải: khương bán hạ, trúc nhự, tuyền phúc hoa, chí thực, mộc hương, đinh hương, trầm hương khúc, bạch khấu, xuyên luyện tử, xuyên hậu phác, sa sâm, thiên đông, thạch hộc, cấp tính tử, khương lang, đương quy, tiên hạc thảo.

– Kháng Nham B: sơn dậu căn, bại tương thảo, bạch bì, hạ khô thảo, thảo hà xa.

– Theo nhiều báo cáo thì các loại thuốc sau có tác dụng chống nuốt khó nuốt, cấp tình từ, bích hổ phấn (bột thằn lằn), uy linh tiên, thiên quỳ tử, thạch kiến xuyên, hoàng dược tử, đông lăng thảo.

* Một số bài thuốc có tác dụng ức chế tế bào thượng bì thực quản tăng sinh.

– Nao Kim Tiêu Tích Phương: tử nao sa 500g, dấm 500g, Tử kim đính, lượng vừa đủ. Chế tử nao sa với dấm thành bột tinh thô màu vàng nâu rồi cùng trộn đều với bằng lượng của tử kim đính. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1g.

Hiệu quả lâm sàng: Bài này đã dùng trị 635 ca ung thư thực quản, tâm vị, có tác dụng làm cho nuốt dễ hơn, khẩu vị tăng. Khỏi 2 ca, tốt 6 ca, có kết quả 452 ca, không có kết quả 175 ca.

Bát Giác Kim Bàng Thang: bát giác kim bàng 10g, bát nguyệt trác 30g, cấp tính tử 15g, bán chi liên 15g, đan sâm 12g, thanh mộc hương 10g, sinh Sơn tra 12, sắc uống.

Kết quá lâm sàng: đã trị 178 ca ung thư thực quản, tâm vị. Sau điều trị có 25 ca sống trên 5 năm, 67 ca sống trên 3 – 5 năm, 2 ca sống 2 – 3 năm. Tỉ lệ sống trên 3 năm là 51,60%.

Táo bón thêm tử uyển, hỏa ma nhân, đào nhân, nhục thung dung.

– Điều trị

Ung thư thực quản thường được điều trị bằng phẫu thuật, nếu có di căn dùng hóa liệu, kết hợp với thuốc Đông y để điều trị.

– Biện chứng luận trị

Dựa vào triệu chứng lâm sàng, có thể biện chứng theo các thể loại sau:

* Đàm khí Uất kết: Ngực đầy, đau tức hoặc khó thở, nấc cụt, ợ hơi, nuốt khó, miệng khô, táo bón, rêu lưỡi trắng dày, Mạch huyền hoạt, thường gặp ở giai đoạn mới phát bệnh.

– Điều trị: Sơ can, lý khí, hóa đờm, giáng nghịch dùng bài Toàn Phúc Đại Giá Thạch Thang gia giảm: toàn phúc hoa 12g, đại giá thạch :20g, khương bán hạ (hoặc Sinh bán hạ (sắc trước 1 giờ), hương phụ 8g, mộc hương 8g, uất kim 10g, đan sâm 16g phục linh 12g, chỉ xác 10g, cát cánh, toàn qua lâu, phi bạch, uy linh liên đều 12g, chế nam tinh 8g, bạch anh 12g, hạ khô thảo 16g, trúc nhự 12g, ngõa lăng tử 16g.

Khí hư thêm đảng sâm, thái tử sâm đều 12g.

– Huyết ứ: Ngực đau, ăn vào nôn ra, nặng thì khó uống được nước, phân như phân dê, người gầy da khô, lưỡi đỏ, khô, mạch tế sáp.

– Điều trị: Đường huyết, hoạt huyết, tán kết. Dùng bài Đào Hồng Tứ Vật Thang gia giảm: Sinh địa 16g, đương quy 20g, bạch thược 12g, xuyên khung 8 ~12g, đào nhân 12g, hồng hoa 10g.

Nếu nặng thêm tam thất, một dược, đan sâm, xích thược, ngũ linh chi, hài táo, côn bố, bối mẫu, qua lâu… Nếu nuốt khó cho uống “Ngọc xu đơn trước. Trường hợp ngực lưng đau nhiều thêm diên hồ sách (sao dấm), chích nhũ hương, chích một dược, ty qua lạc Táo bón thêm nhục thung dung.

– Nhiệt độc thương âm: Nuốt rất khó, lưng ngực đau bỏng rát, miệng khô, họng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, táo bón, chất lưỡi đỏ, rêu ít hoặc không rêu, mạch huyền tế sác.

– Điều trị: Thanh nhiệt, giải độc, dưỡng âm, nhuận táo, dùng bài Tư Âm Thông Cách Ẩm gia giảm: Bồ công anh 20g, xuyên hoàng liên 8 – 10g, chi tử 12g, sinh địa 16g, đương quy 20g, xuyên khung 8g, nam, bắc sa sâm đều 16g, mạch môn, huyền sâm, tỳ bà diệp tươi, lô căn tươi đều 20g, bạch hoa xả thiệt thảo, bán chi liên, bạch anh, hạ khô thảo đều 12g.

Táo bón thêm tử uyển, hỏa ma nhân, đào nhân, nhục thung dung.

– Âm dương lưỡng hư: Nuốt không xuống, ngày càng gầy, mệt mỏi, hồi hộp, sắc mật tái nhợt/ chân tay thân mình mát lạnh, mặt sưng, chân phù, sắc lưỡi nhạt, mạch tế nhược.

Điều trị: ôn bổ Tỳ Thận, tư âm, đường huyết. Dùng bài Bát Trân Thang hợp Bát Vị Hoàn gia giảm: hồng sâm 8 ~ 12g, chích hoàng kỳ 20g, thục địa 16g, sa nhân 10g, sơn dược 12g, nhục quế 6 ~ 8g, câu kỷ tử 12g, chế phụ tử 8 ~ 16g (sắc trước), đương quy 20g, bạch thược, bạch truật, bạch linh, đại táo đều 12g, cam thảo 4g, sinh khương 3 lát.

Điều trị ung thư thực quản theo y học cổ truyền.

– Chế biến:

+ Thịt gà rửa sạch chặt cục, gừng xắt miếng rửa sạch bỏ vào nấu sôi/ gà bỏ vào nước gừng trụng xong vớt ra ngay để khử mùi tanh.

+ Bỏ gà vào nồi hầm, thêm hoài sơn dược, hạt câu kỷ và nước sôi, đậy nắp dùng lửa nhỏ hầm một tiếng là chín.

– Cách dùng: ăn vào các bữa ăn chính.

– Công hiệu: Có tác dụng ích khí dưỡng âm, bổ tì ích thận.

– Chủ trị: Người mắc phải các chứng ung thư sau phẫu thuật hoặc phóng xạ, hóa trị liệu cơ thể suy yếu.

6.4 Nước trái cây

– Thành phần: Khế, bôm, chuối, nho , cam, mỗi thứ lượng vừa đủ.

– Chế biến:

+ Khế rửa sạch, gói vào trong vải thô vắt lấy nước, bỏ thêm đường và nước cho vào nồi nhôm nấu sôi.

+ Sau đó bả bom đã gọt vỏ xắt cục, nho cam, múi vào nồi, đợi khi sôi lại cho bột vào để nước sánh lại cho bột vào nước sánh lại, múc ra tô.

– Cách dùng: ăn tuỳ ý.

Công hiệu: Thanh nhiệt, giải độc, chống ung thư.

– Chủ trị: Dùng cho người mắc bệnh ung thư sốt nhẹ, hay người sau khi phóng xạ hoá trị.

6.5 Ray rút

Trong tài liệu thuốc dân gian không thể thiếu rau rút, là thánh dược trị ung thự, chỉ cần ung thư thời kỳ đầu dùng nó thì có thể thu được hiệu quả. Có một nhà nghiên cứu dân gian, dùng rau rút trị khỏi thân phụ bị ung thư bao tử nằm giường không dậy, có 1 vị bị ung thư bao tử, bao tử bị cắt bỏ hết 1/3, thường dùng rau rút, thử thuật sau 20 năm, không có tái phát và chuyến di, ông ấy coi rau rút là vị cứu tinh sinh mệnh. Cách uống là, lấy lá rau rút, sắc nước thành dạng hồ, để nguội, 1 lần uống 1/2 ly, cách 2 giờ uống 1 lần.

IV. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

Ung thư thực quản là một loại ung thư cơ quan tiêu hóa thường gặp. Triệu chứng chủ yếu là ngày càng nuốt khó hơn.

Tuổi phát bệnh thường từ 40 – 70 tuổi, nam mắc bệnh nhiều hơn nữ.

1. Triệu chứng

Triệu chứng chủ yếu là nuốt khó, bệnh ngày càng nặng thì dù chất đặc hoặc nước cũng khó nuốt. Do lâu ngày ăn uống khó khăn mà cơ thể ốm yếu, suy dinh dưỡng, mất nước, suy kiệt, kèm theo khó nuốt, đau sau xương ức (đau tức hoặc như dao đâm) hoặc vùng lưng đau, ợ hơi, nôn ra chất trắng nhớt hoặc có máu lẫn thức ăn. Bệnh nặng thì nói giọng khàn, nấc cục, khó thở, hạch lâm ba to, gầy mòn, da bọc xương.

– Chẩn đoán

+ Nuốt khó, đau vùng sau xương ức, có hiện tượng trào ngược thức ăn.

+ Chụp phim cản quang thực quản, soi thực quản, làm sinh thiết niêm mạc thực quản để phát hiện bệnh. Kiểm tra tế bào vòng thực quản dương tính khoảng trên dưới 90%.

Thức ăn dành cho bệnh nhân bị táo bón khi điều trị.

– Nếu bị nấc cụt có thể dùng các loại: Vải, đậu, trái thị, hạnh đào, mía, táo, củ cải.

– Nếu có đàm nhớt, nên dùng các, loại: Mễ nhàn, củ ấu, quýt, tần quả, sa trùng (quang khoả tinh trùng), sứa biến, hến, cá nhám, rùa đen, rùa biển.

– Đại tiện bón nên dùng các loại: Mã thầy, mật ong, sứa biến, thuần thái, ốc lác, hải sâm, quả sung, mạch phu, tông tử, mề, hạnh đào, thịt thỏ, trái dâu.

4. Thức ăn dành cho bệnh nhân bị táo bón khi điều trị.

4.1 Cháo mè, hạnh nhân, mật ong.

Nguyên liệu: Mè 15g, hạnh nhân ngọt 9g, mật ong 30g.

– Chế biến: Nấu cháo mà ăn, có công dụng nhuận táo, thông tiện.

4.2 Cháo ma nhân, tùng tử.

– Nguyên liệu: Ma tử nhân 15g, tùng tử nhân 15g.

– Chế biến: Nấu cháo ăn, có thể bổ máu, thông táo bón.

4.3 Tang thậm, tần quả nê.

Tang thậm tử, tần quả nê, ăn chậm rãi, nuốt từ từ, có thể bổ hư tổn, thông táo bón.

5. Canh rong biến, nấm dầu khi.

– Thành phần:

+ Thục địa hoàng 15g

+ Đương quy 12g

+ Đào nhân 9g

+ Hồng hoa 6g

+ Rong biển 20g

+ Nấm đầu khỉ 30g

+ Gia vị lượng vừa đủ.

Chế biến: Bốn vị thuốc đầu tiên nâu lấy nước lọc bỏ xác; cho rong biển, nấm đầu khỉ vào nấu chín, nêm gia vị vừa ăn.

– Cách dùng: Mỗi ngày một thang, uống liên tiếp từ 20 – 30 ngày.

6. Một số món ăn khác.

6.1 Huyết ngỗng xào hành tây, nấm rơm.

-Thành phần:

+ Củ hành tây 100g

+ Nấm rơm 50g

+ Huyết ngỗng chín 200g, vài lát gừng.

– Cách làm: xắt sợi hành và gừng. Cho dầu vào chảo, cho hành và nấm rơm vào xào, sau đó cho huyết ngỗng, hành và gừng sợi vào xào vài phút, nêm nếm vừa ăn.

6.2 Cái xanh con xào nấm đầu khỉ

-Thành phần:

+ Cải xanh con 12 cây.

+ Nấm đầu khỉ 75 gr.

+ Hột gà 3 quả

+ Nước tương rượu muối đường, bột ngọt, bột loc khô, bột lọc nước, nước hầm thịt, dầu đậu phộng, dầu mè lượng thích hợp.

– Chế biến:

– Cải xanh con rửa sạch, nấm dầu khí xắt miếng mỏng thêm muối, bột ngọt, lòng trắng trứng bột lọc khô trộn đều.

+ Cho dầu vào cháo đợi nóng, bỏ cải xanh con vào xào, thêm muối, bột ngọt, xào nhanh tay rồi múc cái ra đĩa tròn. (Gốc cải hướng ra phía ngoài, lá cải hưởng vào phía trong đĩa),
+ Lấy một cái nồi sạch đặt lên bếp cho dầu phộng (khoảng 500g) vào để nóng, cho nấm dầu khí đã xắt vào chiên, sau đó dùng vợt vớt ra để ráo dầu.

+ Bỏ vào nồi hỗn hợp rượu, nước tương, đường bọt ngọt, nước hầm thịt nấu sôi, cho nấm đầu khỉ vào.

+ Khi sắp ăn cho bột lọc nước vào, trộn đều và đổ vào chính giữa đĩa đã sắp cải xanh con.
-Cách dùng: Ăn chung với cơm.

– Công hiệu: Bổ trung ích khí, giải độc kháng ung thư, thanh nhiệt tiêu đàm.

6.3 Hoài sơn, hạt câu kỷ hầm thịt gà.

– Thành phần:

+ Gà nửa con

+ Gừng tươi 15g

+ Hoài sơn dược 30g

+ Hạt câu kỷ 15g

+ Muối lượng vừa phải.

Thực đơn dành cho người bệnh.

2. Có nên dùng thuốc đông y cho người bệnh ung thư không?

– Có một số thảo dược có tác dụng trong phòng chống ung thư như tỏi ta, dừa cạn, gấc, đu đu, tam thất, nhân sâm, nấm linh chi v.v…

Tuy nhiên cũng cần hỏi ý kiến bác sĩ điều trị và bác sĩ y học cổ truyền để xác định thời điểm, liều lượng và cách dùng sao cho việc điều trị an toàn và đạt hiệu quả cao nhất.

– Ngoài ra, chăm sóc tâm lý và điều trị hỗ trợ cũng có vai trò hết sức quan trọng. Thường thì người mắc ung thư và gia đình có thế có những rối loạn tâm lý.

Tuy nhiên, quá lo lắng, sợ hãi, buồn phiền không những ảnh hưởng xấu tới quá trình điều trị mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống.

Thành công trong phẫu thuật thẩm mỹ, tạo hình, phục hồi chức năng sẽ giúp người bệnh có lại trạng thái tâm sinh lý bình thường, hòa nhập với cuộc sống và công việc hàng ngày và do đó là một nhân tố giúp điều trị thành công.

III. THỰC ĐƠN DÀNH CHO NGƯỜI BỆNH

Nguyên tắc ăn uống đối với bệnh nhân đang điều trị bệnh: Là dùng các thực phẩm nhỏ, mềm mát mỏng vừa phải, ăn ít mà nhiều bữa. Tuỳ theo mức độ ngăn trở của khối u, nên dùng các thức ăn mềm, nấu cháo hoặc canh mà ăn.

1. Dùng thức ăn để phối hợp khi điều trị ung thư thực quản bằng xạ trị.

– Mạnh nhân thù nấu với đậu hũ:

Hạnh nhân thù thịt cá nhám, đậu hũ nấu chung. Ăn để trị cổ họng bị đau trong khi xạ trị.

– Hạnh nhân mật:

Hạnh nhân ướp mật ong. Chậm rãi ăn vào, có thể làm giảm đau, tăng cường sự thèm ăn.

– Ngũ trấp cao:

+ Nước trái lê, nước ngó sen, nước củ cải, nước mía, sữa bò (toa gốc là sữa người), mỗi thứ nước ép 2 tách; thiên môn đông, mạch môn đông mỗi thứ 7,5g, sinh địa hoàng, bạc hà mỗi thứ 6g, bối mẫu, đan bì mỗi thứ 3g, phục linh 2,4g, quáng giác, linh dương giác mỗi thứ 1,5r, nấu với mật thành cao (thuốc nước sệt).

+ Cách dùng: Mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần một muỗng, uống với nước sôi để nguội.

2. Thức ăn dùng sau khi hóa trị

– Ốc: Ốc làm thức ăn, nhuận táo sinh tân dịch. Có thể giảm bớt sự kích thích của hoá chất đối với xoang miệng, phòng và trị được lở loét.

– Canh huyết ngỗng: Huyết ngỗng, thịt nạc nấu canh ăn.

– Nhĩ dầu dào quả: Ăn trái đào nhĩ hầu xanh, có thể hạ khí, dứt nôn mửa, chất dinh dưỡng rất cao, ăn thường xuyên được.

3. Thức ăn hoá giải được các triệu chứng bất lợi của bệnh ung thư thực quản.

– Nếu nuốt khó có thể dùng: Cá trích, cá chép, hến, gà ác, trái lê, trái vải, mía, hẹ, tỏi nhỏ, hồng khô, ngó sen, ếch, cá lóc, sữa bò, huyết ngỗng, măng tây.

– Nếu đau tức ngực nên dùng các loại thực phẩm: Hẹ, mã lan dầu, trái sung, hạnh nhân, lươn biển, nhĩ hầu đào, rau má, cá chạch, cá ngừ, mật ong.