Những thói quen làm tăng ung thư thực quản.

* Những thói quen làm tăng ung thư thực quản.

– Uống rượu, hút thuốc, ăn nhiều chất béo, ít rau xanh, hoa quả… là những yếu tố dễ dẫn đến bệnh ung thư thực quản và dạ dày. Đây là hai căn bệnh nguy hiểm vì có diễn tiến âm thầm và khó điều trị.

Rượu, thuốc lá là những tác nhân gây bệnh hàng đầu. Nghiên cứu gần đây của Viện Ung thư Sloan – Kettering (Mỹ) trên 1.143 bệnh nhân ung thư thực quản, ung thư dạ dày và từ năm 1993 đến 1995 cho thấy, thói quen sống hằng ngày với các chất kích thích có thể trực tiếp gây bệnh.

Ung thư thực quản đoạn 2/3 trên, có mô bệnh học là carcinom tế bào gai thường gặp ở những người uống nhiều rượu, nguy cơ là 72%. Nếu uống rượu kèm theo hút thuốc lá và ít ăn rau xanh, trái cây thì nguy cơ lên đến 90%.

Ung thư thực quản đoạn 1/3 dưới, mô bệnh học là carcinôm tuyến gặp ở những đối tượng thừa cân mập phì, hút thuốc lá. Nếu ít ăn rau xanh, trái cây và có hội chứng trào ngược dạ dày thì nguy cơ mắc bệnh tăng mạnh.

IV. DẤU HIỆU – TRIỆU CHỨNG

1. Triệu chứng lâm sàng

– Khó nuốt, cảm giác nặng và tức sau xương ức khi nuốt, nuốt nghẹn tăng dần.

– Tăng tiết nước bọt, ứa nước dãi, nấc…

– Đau vùng sau xương ức, khó thở tăng dần.

– Khi u xâm lấn và phá huỷ vào các cơ quan ở trung thất như khí – phế quản, màng phổi, các mạch máu lớn… thì sẽ xuất hiện các triệu chứng của các biến chứng nặng.

– Toàn trạng bệnh nhân gầy sút, thiếu máu, suy kiệt.

* Đặc điểm biểu hiện trong thời kỳ đầu

– Lúc đầu thức ăn vào có cảm giác bị nghẹn

– Sau khi nuốt được vào, sau xương ngực có cảm giác căng tức và đau đau.

– Cảm giác như có vật gì lạ vướng trong cổ họng kéo dài liên tục.

Khi nuốt thức ăn, bệnh nhân có cảm giác như thức ăn bị dừng lại một chút ở một đoan nào đó trong thực quản và thích làm động tác nuốt nước bọt vào thường xuyên.

Nấc cụt thường xảy ra, phần phía trên của bụng gần chấn thủy luôn có cảm giác căng phình như ăn no.

2. Triệu chứng cận lâm sàng

– Thể sùi: Chỗ thực quản hẹp có bờ viền khuyết nham nhở, không đều.

– Thể thâm nhiễm: Lòng thực quản bị chít hẹp lại, viền chỗ chít hẹp ngoằn ngoèo.

– Đặc điểm xuất hiện trong thời kỳ giữa và thời kỳ cuối của bệnh ung thư thực quản.

– Bị trở ngại khi nuốt thức ăn.

– Mửa thức ăn và chất nhờn (niêm dịch) với dạng nước bọt.

– Phần lưng, ngực đau dữ dội.

Những khối khối u còn rất nhỏ ở thực quản thường không gây ra triệu chứng nào. Khi khối u lớn lên thì triệu chứng thường gặp nhất là khó nuốt tăng dần.

Ngươi bệnh sẽ cảm thây nghẹt ở cổ hoặc cảm giác nóng rát khi nuốt thức ăn.

Co cảm giác thức ăn bị kẹt ở ngay sau phía xương ức.

– Triệu chứng khó nuốt cứ tăng dần. Ban đầu là khó chịu khi các thức ăn cứng và dai như thịt, bánh mì, rau sống, các thức ăn dạng hạt…

– Khi khối u lớn hơn, lòng thực quản càng ngày càng hẹp thì những thức ăn khác dạng lỏng cũng làm bệnh nhân nuốt khó khăn.

– Đôi khi người bệnh còn có triệu chứng ho khan và thớ khò khè, cảm giác đau rát sau ức hay đau vùng cổ.

– Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác như khó tiêu, nóng rát trước ngực, nôn ói, nghẹn thức ăn…

Những nguyên nhân này khiến bệnh nhân ngày càng sụt cân và gầy mòn vì không ăn uống được.

V. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG

1. Tiến triển

Bệnh tiến triển ngày càng nặng, tình trạng xâm lân tăng dần, xuất hiện di căn xa và nếu không được điều trị thì thường dẫn tới tử vong sau khoảng 6-12 tháng:

+ Các triệu chứng nuốt nghẹn tăng dần, dẫn tới hoàn toàn không nuốt được bất cứ loại thức ăn nào, toàn trạng bênh nhân suy kiệt nặng.

+ Đau sau xương ức tăng dần, lan sang cạnh sườn. Khó thở tăng dần do u phát triển xâm lấn hay di căn vào khí quản. Có thể bị nói khàn do u xâm lấn vào dây thần kinh quặt ngược.

+ Di căn ung thư đến các cơ quan khác như: hạch trên đòn, trung thất, phổi, màng phôi, gan, dạ dày…

2. Biến chứng

Khối Ư phát triển xâm nhiễm và phá huy vào các tạng xung quanh gây nên các biến chứng nặng.

+ Phá huỷ vào khí – phế quản gây rò thực quản- khí quản, rò thực quản – phế quản, Apxe phổi…

+ Phá huỷ vào trung thất gây viêm mủ trung thất. Vỡ vào màng phổi gây viêm mủ màng phổi…

+ Phá huỷ vào các mạch máu lớn trong trung thất gây chảy máu ồ ạt và tử vong nhanh chóng.

Viêm thực quản mãn tính do trào ngược thực quản – dạ dày (loạn sản Barrett).

2. Nhóm các giai đoạn của ung thư thực quản theo hệ thống TNM.

Giai đoạn 0:             Tis       N0       M0

Giai đoạn I:              T1        N0       M0

Giai đoạn IIA:          T2        N0        M0

T3         N0        M0

T1         N1        M0

Giai đoạn IIB:         T2         N1        M0

Giai đoạn III:          T3         N1        M0

T4        Mọi N    M0

Giai đoạn IV:       Mọi T     Mọi N    M1
.
3. Các giai đoạn theo tiến triển của bệnh

– Giai đoạn I: Khối u nhỏ, có ranh giới rõ rệt. U phát triển vào lớp niêm mạc và hạ niêm mạc. Chưa có di căn vào các lớp của thành thực quản, nhưng bắt đầu có di căn vào hạch bạch huyết.

– Giai đoạn II: Khôi u to làm hẹp lòng thực quản, nhưng chưa xâm lấn vào các thành của thực quản, đã có di căn vào một số hạch bạch huyết.

– Giai đoạn III: Khối u to chiếm phần lớn chu vi thực quản và làm hẹp hoặc tắc hoàn toàn lòng thực quản. Khối u xâm lấn dính vào các tổ chức và cơ quan xung quanh thực quản. Đã có di căn vào hạch bạch huyết.

– Giai đoạn IV: Khối u phát triển ra khỏi phạm vi của thực quản, phá vỡ các tổ chức lân cận gây rò thực quản – khí quản, rò thực quản – phế quản, rò thực quản – trung thất… Đã có di căn xa.

III. NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân chính xác gây ra ung thư thực quản vẫn chưa được biết đến. Các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu điều này. Nếu việc tìm kiếm nguyên nhân chính xác gây ung thư thực quản được tìm ra, chúng sẽ có nhiều cơ hội để phòng tránh căn bệnh nguy hiểm này.

Những nghiên cứu thực hiện tại Mỹ cho thấy, ung thư thực quản thường gặp ở những bệnh nhân trên 55 tuổi. Nam giới bị bệnh gấp đôi phụ nữ, người da đen bị nhiều hơn người da trắng. Lý do tại sao cũng chưa được giải thích hợp lý.

Một điều chắc chắn là ung thư thực quản không phải là một bệnh lây truyền, vì thế người này không thể mắc bệnh do lây từ người khác.

Có một số yếu tố liên quan gây nguy cơ mắc bệnh như sau:

1. Hút thuốc và uống rượu quá mức là những yếu tố nguy cơ thường gặp nhất.

Một người uống nhiều rượu và nghiện thuốc thì tăng lên nhiều lần, so với người chỉ hút thuốc hoặc chỉ uống rượu.

Nếu có thể hạn chế uống rượu có thể làm giảm nguy cơ ung thư thực quản cũng như nguy cơ ung thư các cơ quan khác như ung thư khoang miệng, ung thư vòm họng, ung thư vòm hầu… Còn nếu không hút thuốc, chúng ta có thể giảm nguy cơ bị ung thư thực quản, phổi, khoang miệng, họng hầu, bàng quan và tụy.

Hơn nữa một người bị ung thư vì hút thuốc cũng dễ bị ung thu thứ phát hơn là người khác. Hầu hết các bác sỹ đều yêu cầu bệnh nhân ung thư thực quản ngưng hút thuốc để hạn chế việc phát triển một ung thư phát đồng thời làm nhẹ các triệu chứng của ung thư thực quản, như ho chẳng hạn.

2. Viêm thực quản mãn tính do trào ngược thực quản – dạ dày (loạn sản Barrett)

Một khi niêm mạc của thực quản bị kích thích thường xuyên và kéo dài khi người bệnh bị chứng trào ngược dạ dày thực quản, làm dịch từ dạ dày trào lên thực quản, gây ra tổn thương niêm mạc thực quản. Khi các tế bào vùng bị tổn thương chuyển đổi dần dần thành những tế bào tương tự tế bào niêm mạc dạ dày, các Bác sĩ gọi đây là thực quản Barrett.

Trong một vài trường hợp, thực quản Barrett có thể dẫn đến ung thư thực quản.

– Còn nhiều dạng tổn thương khác của niêm mạc thực quản mà cũng là nguy cơ chuyển thành ung thư thực quản. Một người đã từng uống một thứ thuốc tẩy rửa hoặc uống dung dịch hóa học gây bỏng thực quản thì sẽ có nguy cơ ung thư thực quản cao hơn bình thường và các loại hóa chất hóa học trên gây tổn thương nhu mô thực quản nặng nề.

3. Dinh dưỡng kém cũng là một yếu tố nguy cơ của ung thư thực quản

Các nhà khoa học không biết chính xác chế độ ăn như thế nào thì ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh này, nhưng chắc chắn một điều rằng chế độ ăn cân bằng với nhiều loại rau quả giúp giảm nguy cơ mắc bệnh.

– Ăn dưa muối mặn chứa nitrat, nitrit tạo nitrosamin.

– Thông thường, một bệnh nhân bị ung thư thực quản thông thường không tìm thấy nguy cơ rõ ràng. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh sinh ra là do nhiều yếu tố cùng tác động lên.

Nếu bạn nghĩ rằng mình thuộc nhóm nguy cơ cao của bệnh, bạn nên trò chuyên gặp gỡ với bác sỹ để được tư vấn. Các bác sỹ sẽ giúp bạn làm giảm nguy cơ mắc bệnh xuống đồng thời sẽ lên một kế hoạch để theo dõi kỹ lưỡng.

– Một yếu tố liên quan khá chặt chẽ đến sự phát sinh của bệnh là thói quen ăn uống. Việc ăn nhiều thực phẩm chứa nitrosamin (rau ngâm giấm, thịt xông khói), thói quen uống các loại nước có cồn và hút thuốc lá nhiều là nguyên nhân chính gây bệnh.

Ngoài ra, việc dùng thức ăn và nguồn nước uống thiếu các chất vi lượng như kẽm, molybeden… cũng là tiền đề cho ung thư thực quản xuất hiện.

Thế nào là ung thư thực quản?

– Thường xuyên kiểm tra sức khỏe: Nếu bạn dưới 49 tuổi nên kiểm tra kính phết cổ tử cung sau mỗi 3 năm, và nếu bạn ở độ tuổi 50 – 64 thì nên kiểm tra định kỳ 5 năm/lần.

Chụp X – quang vú để kiểm tra ung thư vú định kỳ 3 năm/lần trong độ tuổi 50 – 70.

Thường xuyên đi khám răng: Giúp nhận ra những dấu hiệu sớm của ung thư miệng. Hãy đi khám ngay nếu bạn có một trong những triệu chứng sau trong vòng 3 tuần không giảm: sưng nhưng không đau, hoặc nối u trong miệng, đau họng hoặc khó nuốt.

Thận trọng với thực phẩm tăng đường máu: Nên cảnh giác với thức ăn có chỉ số đo tốc độ tăng lượng đường trong máu cao (GL. là một chỉ tiêu do tốc độ tăng lượng đường trong máu).

Đó là bánh mỳ trắng, pasta, khoai tây chiên, khoai tây, bánh quy, bánh ngọt làm thải ra insuline gây ung thư. Nên ăn thực phẩm GL tấp như đậu, trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt.

Phần II: UNG THU THỰC QUẢN

Chương I: KHÁI QUÁT UNG THU THỰC QUẢN
I. KHÁI NIỆM
1. Thực quản là bộ phận nào trong cơ thể con người?

Thực quản là một phần của ống tiêu hóa, nối từ họng đến dạ dày. Thực quản nằm dọc ở vùng cổ, giữa khí quản phía trước và cột sống phía sau. Ở người trưởng thành, thực quản dài khoảng 25cm. Khi chúng ta nuốt, các cơ ở thành thực quản co bóp để lấy thức ăn xuống dạ dày.

Các tuyến trên thành thực quản tiết ra chất nhầy, nó có tác dụng giữ lòng thực quản luôn ấm ướt và bôi trơn thành thực quản giúp việc nuốt thức ăn dễ dàng hơn.

Cũng như tất cả các cơ quan khác trong cơ thể, thực quản được cấu tạo bởi nhiều loại tế bào khác nhau. Các tế bào chỉ cần phân chia để tạo thành những tế bào mới khi cần thiết. Chính điều này góp phần cho chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh.

2. Thế nào là ung thư thực quản?

Ung thư thực quản là một loại ung thư cơ quan tiêu hóa thường gặp. Căn bệnh phát sinh phần lớn ở người trung niên và cao niên, là một khối u ác tính trên lớp niêm mạc của thực quản hay của tuyến thực quản.

– Đây là 1 căn bệnh nạn y, khó chữa, phẫu thuật phức tạp và hóa chất chỉ có vai trò bổ trợ.

II. PHÂN LOẠI

Về tổ chức học, có thể gặp các loại ung thư thực quản sau:

– Caxinom tế bào lấy (Squamous cell carcinoma): Chiếm khoảng 95 % các ung thư thực quản.

– Caxinom thể tuyến (Ađeno carcinoma): Chiếm khoảng 2,5 – 8% các ung thư thực quản nguyên phát.

– Một số loại ung thư tuyến khác hiếm gặp: Ung thư tế bào nhỏ không biệt hoá, Caxinom nang dạng tuyến (Adenoid cystic carcinoma), u sắc tố ác tính (Malignant melanoma)…

Caxino – sacom (Cnrcino – sar coma): Là loại có hỗn hợp các tế bào của Caxinom tế bào vẩy và Sacom tế bào thoi ác tính.

– Sacom thực quản: Về lý thuyết có thể gặp Leiomyosarcoma, Fibrosarcoma, và Rhabdornyosarcoma nhưng trên thự tế rất hiếm gặp .

* Phân loại giai đoạn ung thư thực quản.

1. Theo hệ thống T.N.M

– Khối u nguyên phát: T (Tumor)

– Tx: Không thể xác định được khối u nguyên phát (Khối u dương tính về mặt tổ chức học nhưng không xác định được qua nội soi hoặc xạ hình).

– T0: u nguyên phát không có triệu chứng (ví dụ: Sau điều trị bằng tia xạ và hóa chất).

– Tis: u in situ.

– T1: u đã xâm nhiễm vào lớp dưới niêm mạc nhưng chưa vượt quá lớp này.

– T2: u đã xâm nhiễm vào lớp cơ.

– T3: u đã xâm nhiễm tới lớp bao ngoài thực quản.

– T4: u đã xâm nhiễm vào các cơ quan xung quanh (Ví dụ: động mạch chủ, khí – phế quản, cột sống, màng ngoài tim…)

+ Hạch bạch huyết khu vực: N (Node)

– Nx: Không thể xác định được hạch khu vực.

– N0: Chưa có di căn hạch khu vực.

– N1: Đã có di căn hạch khu vực.

+ Di căn xa: M (Metastasis)

– Mx: Không thế xác định được cổ di căn xa.

– M0: Chưa có di căn xa.

– M1: Đã có di căn xa.

Cắt giảm mỡ thừa.

– Nên ăn chuối: Theo một nghiên cứu của Viện Kardinska (Thụy Điển) trên 61.000 phụ nữ, những người ăn chuối 4-6 lần/tuần sẽ giảm được nửa nguy cơ ung thư gan so với những người không ăn. Đó là vì chuối giàu chất chống ôxy hóa fenolies, giúp chống ung thư.

Một số loại rau củ khác như cà rốt, củ cải cũng có những tác dụng tương tự.

– Nên ăn nghệ: Các nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, bột nghệ chứa hoạt chất curcumin giúp ngăn ngừa các tế bào ung thư vú phát tán. Curcumin và phenethyl isothiocyanate (PEITC), một chất tự nhiên có trong nghệ và rau họ cải, làm chậm sự phát triển của các tế bào ung thư tuyến tiền liệt.

Tập thể dục 30 phút/ngày: Thể dục nhẹ nhàng khoảng 30 phút mỗi ngày và ít nhất 5 ngày/tuần là chiến thuật chính bảo vệ bạn khỏi ung thư.

Theo một nghiên cứu tại Scotland, thể dục làm giảm một nửa khả năng nhiễm ung thư ruột kết.

Phụ nữ tập thể dục thường xuyên có thể giảm được 1/3 nguy cơ ung thư nhờ điều hòa mức hoóc môn có liên quan đến sự phát triển bệnh này, thay đổi tốc độ tiêu hóa thức ăn trong ruột.

– Cắt giảm mỡ thừa: Khi bạn béo hoặc thừa cân so với chuẩn trọng lượng (BMI), bạn có nguy cơ nhiễm các loại ung thư dạ dày, gan, thận và thực quản, ung thư tử cung, buồng trứng và ung thư vú sau thời kỳ mãn kinh.

Béo phì là một trong những nguyên nhân lớn nhất gây ung thư đối với những người không hút thuốc lá. Hãy cố đạt mức chuẩn trọng lượng BMI dưới 25.

– Ăn sốt cà chua: Trong cà chua có lycopene một hoạt chất chống ôxy hóa có tác dụng ngăn nhiều loại ung thư. Chát này cũng dược tìm thấy trong các loại quả ruột màu hồng như dưa hấu và nho hồng.

Sốt cà chua được xử lý nhiệt làm cơ thể dễ hấp thu lycopene hơn, điều này giải thích lý do nam giới ăn nhiều sốt cà chua, pizza, pasta có tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt thấp.

Tận hưởng ánh nắng mặt trời: Nên để da tiếp nhận vitamin D hàng ngày một cách tự nhiên dưới ánh nắng ban mai để giảm 1/2 nguy cơ ung thư vú, ruột kết và buồng trứng. Việc đi dạo 10-15 phút trong ánh nắng nhẹ vài ngày trong tuần cũng tương đương với việc uống 400 mg vitamin D mỗi ngày.

Tuy nhiên, cần tránh ánh nắng mặt trời từ 11 giờ sáng đến 3 giờ chiều; hoặc xoa kem chống nắng.

– Hấp rau xanh: Súp lơ xanh, giá, súp lơ trắng, bắp cải, củ cải rất giàu hoạt chất chống ung thư sul- foraphane, có tác dụng kích hoạt enzyme trong gan dể diệt các hoạt chất gây ung thư.

Cách chế biến tốt nhất là hấp rau vì sulforaphane được giữ lại nhiều nhất khi nấu trong vòng 10 phút ở nhiệt độ 60 độ C, hoặc hấp trong vòng 4 phút đủ chín vừa.

– Kiểm soát lượng protein: Thịt đỏ như thịt, bò, lợn, cừu và các sản phẩm thịt đã qua chế biến công nghệp (xúc xích, thít hun khói…) sẽ làm tăng nguy cơ ung thư ruột. Các loại thịt trên kích thích quá trình sản xuất hợp chất N-nitroso – nguyên nhân gây ung thư trong động vật.

– Không uống rượu say: Đồ uống có cồn làm tăng nguy cơ ung thư họng, gia tăng hàm lượng oestrogen gây ung thư vú.

– Theo dõi những biến chuyển trên da: Những thay đổi ở nốt ruồi, tàn nhang, sẹo có thể là dấu hiệu của ung thư da, vì vậy bạn nên kiểm tra toàn thân thường xuyên, trong đó đặc biệt chú ý đến vùng da dưới vú, lưng, da đầu, móng tay, ngón tay.

Thường xuyên quan sát đôi chân (nơi ung thư da thường xuất hiện ở phụ nữ) và nhờ người khác kiểm tra lưng, thân, đầu, cổ.

– Chọn bác sĩ già: Một nghiên cứu Đại học California cho thấy các bác sĩ già với ít nhất 25 năm kinh nghiệm có khả năng phát hiện ung thư chính xác hơn và thường đưa ra nhận xét ít sai lầm hơn. Vì vậy, nếu bạn cần tư vấn, hãy đến với bác sĩ đã tốt nghiệp y khoa trước những năm 1990.

– Theo dõi thói quen đại tiện: Thói quen này có thể giúp bạn nhận thấy những dấu hiệu ban đầu của bệnh ung thư đường ruột. Bất kỳ ai trên 50 tuổi có biểu hiện đại tiện bất thường kéo dài trong 4-6 tuần, có ra máu hoặc đau bụng đều nên đến cơ sở y tế kiểm tra chứ không nên tự ý dùng thuốc.

– Hạ nhiệt lò nướng: Nướng thịt (thay vi rán) giúp giảm lượng calories trong thịt nhưng nướng ở nhiệt độ cao trong thời gian dài sẽ sinh ra hợp chất heterocyclic amines (HCAs), có khả năng gây hại cho DNA, làm thay đổi cấu trúc tế bào và tăng khả năng ung thư. Vì vậy khi nướng thịt nên để nhỏ lửa như om.

Ướp thịt trước khi nướng để làm giảm đáng kể hàm lượng HCAs trong thịt. Việc lật thường xuyên cũng làm giảm khả năng hình thành HCAs.

Thường xuyên ăn tỏi: Giúp phòng chống ung thư nhờ chất allyl sulphur. Nhưng việc nấu tỏi ở nhiệt độ cao lại làm giảm khả năng này.

– Bỏ hút thuốc: Khói thuốc có trên 60 chất sinh ung thư. Nhưng nếu ngừng hút hẳn, bạn có khả năng giảm được 1/2 nguy cơ ung thư phổi và giảm dần nguy cơ ung thư họng, thực quản, bàn quang, thận và tuyến tụy.

Những cách tự nhiên phòng tránh ung thư vòm họng.

– Đương quy: Cây đương quy Nhật Bản (Angelica acutiloba) đã được di thực, thuần hóa tại nước ta.

Thí nghiệm trên động vật cho thấy, hợp chất polysacharid từ rễ cây này có tác dụng phục hồi miễn dịch đối với những tổn thương do hóa trị; giúp thương tổn cấu trúc của lách và tủy xương phục hồi gần bằng mức bình thường.

Trong ống nghiệm, polysacharid đương quy làm tăng lượng tế bào lim-phô T nói chung và tế bào lim-pho T hoạt động, đồng thời phục hồi khả năng tạo hồng cầu của tế bào này.

Thử nghiệm lâm sàng cho thấy đương quy bảo vệ hệ thống miễn dịch đối với những bệnh nhân ung thư vòm họng đang điều trị bằng tia xạ. Thuốc làm tăng sức đề kháng, tăng lượng chất hồng cầu, và hạn chế sự suy giảm tỷ lệ huyết sắc tố.

Trên bệnh nhân ung thư vú đang điều trị bằng tia xạ và hóa chất hoặc trên bệnh nhân ung thư các loại đang dùng đa hóa trị liệu, polysacharid đương quy với liều 1 g mỗi ngày có tác dụng bổ trợ miễn dịch, giúp phục hồi sớm một số dòng tế bào máu (bạch cầu, tiểu cầu, tế bào lim-phô T) đã bị giảm do trị liệu với hóa chất và tia xạ.

– Nghệ: Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh nghệ có tác dụng dự phòng ung thư dạ dày, ung thư da, ung thư vú, ung thư gan, giảm số lượng và kích thích các ổ ung thư. Hoạt chất curcumin chiết suất từ củ nghệ có khả năng sự phòng và điều trị ung thư do ngăn chặn sự tăng sinh của nhiều tế bào u khác nhau.

Curcumin còn có tác dụng chống viêm và chống oxy hóa mạnh. Trong thử nghiệm lâm sàng, trên bệnh nhân ung thư, việc sử dụng curcumin với liều 10g/kg tỏ ra an toàn, không gây tác dụng không mong muốn.

– Chàm lá nhỏ: Một loại thuốc viên của y học cổ truyền Trung Quốc bào chế từ chàm lá nhỏ và một số vị khác đã được dùng điều trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính. Chàm lá nhỏ được chứng minh là thành phần chính có tác dụng chống căn bệnh này.

Chất indirubin trong chàm lá nhỏ có hiệu quả điều trị rõ rệt với khối u ở động vật và với bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính trên người.

– Hoàng liên, hoàng bá: Ià các dược liệu chứa berberin, có trong bài thuốc trị ung thư của y học có truyền Trung Quốc.

Berberin ức chế sự sinh trưởng tế bào u gan ở người, làm chậm sự tăng sinh các tế bào bệnh bạch cầu trên động vật thí nghiệm và các tế bào ung thư vòm họng, ung thư dạ dày, các tế bào bệnh bạch cầu tiền tủy bào, các tế bào ung thư miệng và ung thư kết tràng.

– Hoàng cầm: Hoàng cầm có trong bài thuốc trị ung thư của y học cổ truyền; chứa các Havonoid, baicalein, baicalin, wogonin và wogonosid…

Baicalin ức chế sự sinh trưởng các tế bào u gan của người và các tế bào ung thư tuyến tụy. Baicalin, baicalcin và wogonin có tác dụng độc hại đối với các tế bào ung thư bàng quang ở người và động vật thí nghiệm, trong đó baicalin có tác dụng mạnh nhất.

Baicalein cũng ức cho sự tăng sinh của 3 dòng tế bào ung thư gan của người, nhiều dòng tẽ bào ung thư tiền liệt tuyến, các tế bào bệnh bạch cầu lym-pho và các tế bào ung thư vú ở người.

Baicalein và wogonin làm thuyên giảm u não, ngăn chặn sự xâm nhập và di căn các tế bào u hắc sắc tố. – Vân mộc hương: Vân mộc hương có bài thuốc chống ung thư của y học cổ truyền, chứa các hoạt chất lappadilacton, dehydro-costuslacton và cos-tunolid, có tác dụng độc hại đối với các dòng tế bào ung thư gan của người.

Tam thất, trinh nữ hoàng cung, đu đủ: Trên mô hình gây u báng thực nghiệm trên động vật bằng cấy tế bào ung thư ác tính, cao chiết tam thất và chế phẩm panacrin sản xuất từ tam thất, trinh nữ hoàng cung, đu đủ đã làm giảm sinh khối của u báng, do đó làm giảm tốc độ phát triển khối u.

Panacrin hạn chế sự di căn của tế bào ung thư và kéo dài thời gian sống của động vật mang khối u được điều trị với thuốc lên gần gấp đôi.

– Chỉ thiên: Deoxyelephantopin từ chỉ thiên ức chế đáng kể sự phát triển của ung thư biểu mô.

Dihydroelephantopin ức chế sự phát triển những tế bào ung thư bệnh bạch cầu.

+ Các bài thuốc

Chữa di căn bệnh bạch cầu lym-pho: Cỏ chỉ thiên trộn với muối và giấm, giã nhỏ và đắp vào nơi tổn thương. Điều trị hỗ trợ ung thư cho bệnh nhân không bị giảm thể trọng:

Đương quy 15g, bạch thược 10g, nghệ 10g, vân mộc hương 6g, đinh hương 5g, sắc uống ngày một thang, chia 3 lần.

Chữa u báng và kết hạch: Xạ can 10g, nghệ đen 8g, xuyên khung 6g, sắc uống ngày một thang.

Trị bệnh bạch cầu hạt: Bột chàm mỗi lần uống 0,9 – 1,5g ngày 3 lần.

Trị bệnh bạch cầu tủy bào mạn tính: Đương quy 15g, hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm mỗi vị 10g; vân mộc hương, bột chàm mỗi vị 5g, sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần uống.

Điều trị hỗ trợ ung thư các cơ quan đường tiêu hóa, ung thư vú, ung thư tử cung: Đương quy 15g; bạch thược, gừng mỏi vị 10g, vân mộc hương 4g, đinh hương 4g, sắc uống ngày một thang, chia làm 3 lần uống.

4. Những cách tự nhiên phòng tránh ung thư vòm họng.

Muốn tránh ung thư vòm họng, bạn đừng uống nước quá nóng. Còn để tránh ung thư gan, nên ăn nhiều chuối, cà rốt và củ cải.

Nếu biết cách đề phòng, căn bệnh ung thư đáng sợ không phải là quá khó để ngăn ngừa:

– Không uống nước quá nóng: Thói quen uống trà, cà phê nóng bốc khói có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ gây ung thư vòm họng do nước nóng làm tổn thương đến các tế bào ở cơ quan này.

Những điều bạn nên biết về ung thư vòm họng.

V. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KHÁC CHỮA UNG THƯ VÒM HỌNG

1. Những điều bạn nên biết về ung thư vòm họng.

Bệnh nhân có một tổ chức loét, sùi ác tính ở bất cứ vị trí nào trong vòm họng. Nguyên nhân chính gây ung thư vòm họng chưa được xác định, nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh có liên quan đến virus EBV. Các yếu tố nguy cơ khác của bệnh là viêm họng mạn tính kéo dài, nghiện thuốc lá, uống rượu nhiều.

Ở giai đoạn sớm có tới 80% bệnh nhân ung thư vòm họng bị nhức đầu lan tỏa, âm ỉ và thường ở một bên đầu. Ù tai chiếm 70% ca bệnh, đa số ù một bên tai, lúc nào cũng như có tiếng ve kêu, ngạt một bên mũi lúc nặng, lúc nhẹ, có khi chảy máu mũi.

Ở giai đoạn muộn, người bệnh nhức đầu liên tục, có lúc đau dữ dội. Ù tai tăng dần dẫn tới nghe kém hoặc điếc. Mũi ngạt nặng liên tục và thường có chảy máu mũi.

Tổ chức ung thư vòm họng khi xâm lấn tới nền sọ (giai đoạn muộn) có thể gây tổn thương các dây thần kinh sọ não. Thường 80% số bệnh nhân khi được chẩn đoán ung thư vòm họng đã có hạch cổ. Hạch thường nằm ở cùng bên với khối u.

Trong số đó có trên 60% bệnh nhân nổi hạch cổ ngay từ đầu và chính sự nổi hạch bất thường này mà người bệnh đi khám. Khi bị ung thư vòm họng, các xét nghiệm cần làm là chẩn đoán tế bào học và mô bệnh học.

Chẩn đoán tế bào học là lấy tế bào bong ở khối u bằng tăm bông hoặc chọc kim nhỏ vào hạch lấy ít tế bào, cố định trên lam kinh, nhuộm rồi soi trên kính hiển vi quang học có độ phóng đại 100 đến 1.000 lần.

Chẩn đoán mô bệnh học là lấy một mảnh nhỏ ở tổ chức u hoặc nghi ngờ khối u, hoặc lấy ở hạch cổ bằng kim bấm chuyên dụng.

Màng sinh thiết được cố định bằng dung dịch chuyên dụng, sau đó vùi trong paraphin rồi cắt mỏng 3-4 phần nghìn milimét nhuộm và soi dưới kính hiển vi quang học.

Ngoài ra, có thể làm các xét nghiệm khác như: chụp X-quang hộp sọ, chụp cắt lớp vi tính, chụp X- quang phổi, siêu âm gan, xét nghiệm miễn dịch về virus EBV.

Ung thư vòm họng được điều trị chủ yếu bằng tia xạ. Các trường hợp muộn có kết hợp hóa trị. Để điều trị di căn tới hạch, xương, phổi, gan…, tùy trường hợp, có thể dùng phương pháp cắt bỏ kết hợp với tia xạ hoặc hóa chất.

2. Uống nước giảo cổ lam.

Đối với những bệnh nhân ung thư vòm họng sẽ xuất hiện các triệu chứng như khô miệng, đắng miệng, ho khan.

Những triệu chứng này đều cho thấy cơ thể đang rất nóng, bởi vậy có thể chọn uống nước giảo cổ lam để giải nhiệt.

Loại dược phẩm mà chúng ta vẫn thường sử dụng để điều trị bệnh ung thư vú, sản sinh ra một loại protein HER2, có thể điều trị được ung thư đầu vòm họng, theo Viên nghiên cứu ung thư Anh ngày 9/11.

Vắc xin điều trị ung thư vú có điều trị được ung thư vòm họng. Các nhà khoa học Mỹ tại trung tâm Ung thư bệnh viện đa khoa Massachusells, trường Y Harvard và hãng công nghệ sinh học, Genentech đã kiểm tra 700 tế bào từ một trong nhiều loại ung thư.

Kết quả cho thấy, tất cả các chất ức chế sản sinh protein HER2 gây ức chế cho cơ quan cảm quan tín hiệu tế bào có hàm lượng protein cao trên bề mặt các tế bào. Chất ức chế HER2 thường được dùng để điều trị ung thư vú với mức độ cao HER2.

Qua thử nghiệm điều trị 1 trong 4 người phụ nữ bị ung thư vú giai đoạn đầu có hàm lượng protein cao trên bề mặt của tế bào. HER2 nhận được những tín hiệu từ các protein khác, tạo ra chất kích thích sinh trưởng và chạy vào sự phát triển của khối u.

Điểm nổi bật, các nhà khoa học đã tìm ra một số tế bào có hàm lượng HER2 thấp, có thể điều trị bệnh ung thư đầu vòm họng mang lại hiệu quả tích cực cho bệnh nhân.

Nghiên cứu này sẽ được công bố chính thức về phác đồ điều trị tại Viện Nghiên cứu ung thư quốc gia Anh trong tuần này.

“Nghiên cứu này cung cấp các mẫu phân tích khối u tỷ mỉ hơn cho các bác sỹ trong việc chẩn đoán điều trị các loại bệnh ung thư khác, đồng thời mở ra liệu pháp điều trị mới cho các bệnh nhân bị bệnh ung thư”, Giám đốc Viện Nghiên cứu ung thư quốc gia Anh, ông Jane Cope, nói.

3. Điều trị hỗ trợ ung thư bằng thảo dược.

+ Cây dương quy Nhật Bản.

Đông y đã có nhiều kinh nghiệm quý để điều trị một số thể ung thư, ức chế các khối u phát triển. Trong khi các nhà khoa học tìm cách bào chế thuốc chữa ung thư từ thảo dược, bệnh nhân có thể sử dụng một số cây thuốc để hỗ trợ điều trị bệnh này.

Thuốc cổ truyền trị ung thư thường có các vị: đương quy Trung Quốc, đương quy Nhật Bản, phụ tử, đinh hương, uy linh tiên, trinh nữ hoàng cung, đu đủ, tam thất, nghệ và những vị khác.

Giữ gìn vòm họng.

III. BẤM HUYỆT GIẢM ĐAU CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ VÒM HỌNG

Hiện nay, những bệnh nhân ung thư vòm họng trị theo phương pháp thực dưỡng của Nhật Bản thường phải chịu nhiều đau đớn vì cách chữa này không cho phép dùng thuốc giảm đau của Tây y. Bấm huyệt để giảm đau theo y học cổ truyền là giải pháp tối ưu trong trường hợp này.

Phướng pháp giảm đau trực tiếp trong Y học dân tộc được gọi là “trấn thống” hoặc “chí thống”. Hầu hết các huyệt trên cơ thể đều có tác dụng giảm đau miễn sao tác động lên chúng một cách hợp lý để đạt tác dụng khơi thông kinh mạch.

Với bệnh ung thư vòm họng có thể sử dụng một số huyệt vị sau:

1. Thái dương: Huyệt ở chỗ lõm phía sau ngoài đuôi mắt một tấc, ấn vào có cảm giác tê tức.

2. Ấn đường: Điểm giữa nối hai đầu lông mày.

3. Phong trì: Chỗ lõm dưới xương chẩm, bên ngoài khối cơ nối sau cổ, ấn có cảm giác tức nặng.

4. Hợp cốc: Nằm ở bàn tay phía mu, giữa hai xương của ngón tay cái và ngón tay trỏ, ấn theo đường phân giác của góc tạo bởi hai ngón tay này, nếu thấy điểm đau tức nhất và có cảm giác lan ra ngón tay út thì đó là huyệt.

5. Khúc trì: Gấp chặt cẳng tay vào cánh tay, huyệt ở đầu nếp gấp khuỷu.

6. Thần môn: Sờ phần cuối lằn chỉ cổ tay phía ngón út thấy có một xương nhỏ như hạt đậu, huyệt nằm ngay chỗ lõm dưới xương này.

Ngoài ra, bất cứ điểm hoặc vùng nào đau đều có thể tiến hành xoa bóp, day ấn theo nguyên tắc “đau đâu trị đó”. Có thể kết hợp xoa bóp toàn thân, đặc biệt là vùng dọc hai bên cột sống lưng.

Khi xoa bóp, day ấn cần thực hiện theo nguyên tắc: Từ nông vào sâu, từ nhẹ đến mạnh. Nghĩa là: đầu tiên dùng phần bụng ngón tay cái xoa nhẹ nhàng vùng huyệt theo chiều kim đồng hồ sao cho chỗ đó thấy nóng lên là được.

Tiếp đó tăng dần cường độ và cuối cùng dùng đầu mút ngón tay bấm mạnh vào huyệt và giữ lực bấm cố định ít nhất trong một phút, sau đó từ từ giảm cường độ cho đến khi ngón tay rời khỏi mặt da.

Sau mỗi lần day ấn, nếu người bệnh cảm thấy dễ chịu là đạt yêu cầu. Mỗi ngày nên day ân hai lần sáng và chiều khi cơn đau xuất hiện có thể tiến hành thêm một lần nữa, cần tránh thực hiện thủ thuật khi người bệnh quá no hoặc quá đói.

IV. GIỮ GÌN VÒM HỌNG

Họng là một bộ phận rất đặc biệt. Đây là nơi thức ăn, nước uống đi qua, cũng là nơi không khí ra, vào. Họng liên thông với rất nhiều cơ quan khác trong cơ thể như mũi, miệng, thực quản, dạ dày, thanh quản, khí quản, phế quản, phổi.

Với vị trí ba đường như vậy nên họng rất dễ bị tổn thương, điển hình là viêm cấp hoặc mãn tính. Nguyên nhân chính gây viêm họng là bị virus, vi khuẩn.

Tuy nhiên, thời tiết quá lạnh hoặc quá nóng, môi trường (khói thuốc, bụi bẩn, hóa chất…), thức ăn cũng là những yếu tố nguy cơ khiến họng dễ bị viêm.

1. Đừng chủ quan

Nhiều người thường chủ quan với bệnh viêm họng, ít ai biết rằng viêm họng mãn tính kéo dài là một trong những yếu tố gây ung thư họng và vòm họng.

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy trên 80% tác nhân gây ung thư bắt nguồn từ môi trường sống, trong đó hai tác nhân lớn nhất là: Ăn uống (35% ung thư đường tiêu hóa do ăn uống gây ra) và thuốc lá (30% ung thư phổi và đường hô hấp, trong đó có ung thư vòm họng do thuốc lá gây ra).

Các thức ăn, đồ uống gây ung thư vòm họng không nằm ngoài các thức ăn gây ung thư nói chung mà chúng ta đã biết, đó là thức ăn nhiều chất béo , động vật, thực vật, nhiều muối, thức ăn rán nướng quá cháy, các thực phẩm bị mốc (nhiễm Afotoxin), rau quả nhiều hóa chất trừ sâu…

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được rằng thói quen ăn thức ăn muối mặn sẽ làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày và vòm họng.

Các loại thức ăn nướng, rán quá cháy, thịt hun khói cũng là nguy cơ của ung thư đường tiêu hóa (đại tràng, dạ dày, trong đó có ung thư vòm họng) vì các loại thịt nướng, cá nướng càng già lửa càng sinh ra nhiều các amin dị vòng.

Đặc biệt khi đang chiên rán mà đổ thêm dầu mỡ làm tăng nhiệt độ bất thình lình khiến những amin dị vòng này gây đột biến tế bào nhiễm độc gen, biến đổi gen là nguyên nhân gây ung thư. Uống nhiều rượu cũng gây ung thư vòm họng, thanh quản, gan, dạ dày.

2. Tránh xa thuốc lá

Còn thuốc lá, như đã nói ở trên, là nguyên nhân gây nên 30% ung thư đường hô hấp, trong đó có ung thư vòm họng. Những ai vừa hút thuốc vừa uống rượu thì nguy cơ mắc ung thư vòm họng cao hơn vì rượu và thuốc lá có tác dụng hiệp đồng gây ung thư vòm họng, phổi và thanh quản.

Nam giới nào uống rượu và hút thuốc lá thì thời kỳ phát sinh ung thư vòm họng và ung thư lưỡi sẽ sớm hơn 15 năm so với người không uống rượu, không hút thuốc.

Thuốc lá và rượu có hiệu ứng hiệp đồng đối với phát sinh ung thư vòm họng lớn hơn 2 – 5 lần so với người chỉ hút thuốc hoặc chỉ uống rượu.

Những thực phẩm có nguy cơ gây ung thư vòm họng.

Chương III: THAM KHẢO NHỮNG THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC PHÒNG – ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÒM HỌNG

I. NHỮNG THỰC PHẨM CÓ NGUY CƠ GÂY UNG THƯ VÒM HỌNG

1. Uống trà quá nóng có thể gây ung thư vòm họng.

Trà xanh lâu nay luôn được xem như một loại “thần dược” đối với sức khỏe. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng, nếu uống trà quá nóng bạn sẽ đi ngược lại lợi ích vốn có của nó và tăng nguy cơ bị ung thư họng.

Các minh chứng đã chỉ ra rằng, những người uống trà quá nóng có nguy cơ mắc phải chứng ung thư họng cao gấp nhiều lần so với những người có thói quen uống trà nguội hay trà ấm.

Chứng bệnh ung thư thực quản có liên quan mật thiết đến thói quen xấu như hút thuốc là và uống nhiều rượu bia.

Nhưng mới đây các nhà nghiên cứu cũng cảnh báo rằng việc sử dụng những đồ uống quá nóng cũng là một trong những nguyên nhân gây nên chứng ung thư thực quản, có thể là do nó gây nên những tác động tiêu cực đối với các tế bào ở họng.

Nghiên cứu thú vị này đã được tiến hành bởi các chuyên gia người Iran, nhà nghiên cứu đã tới thì trấn Golestan – Iran, nơi mà có tỷ lệ người mắc chứng bệnh ung thư thực quản lớn nhất thế giới.

Những người dân ở đây có thói quen uống trà đen với thể tích là hơn 1 lít trà mỗi ngày cho một người, tuy nhiên những người này lại rất ít hút thuốc và sử dụng các loại đồ uống có chứa cồn.

Sau khi tiến hành nghiên cứu các chuyên gia thấy rằng, những người thường xuyên có thói quen uống trà nóng (ở nhiệt độ khoảng 65 – 69 độ C) thì nguy cơ mắc phải chứng bệnh ung thư họng sẽ tăng gấp đôi so với những người uống trà nguội và trà ấm (ở nhiệt độ dưới 65 độ C)

Còn đối với những người uống trà nóng ở nhiệt độ trên 70 độ C thì nguy cơ ung thư họng của họ sẽ cao gấp 8 lần so với những người bình thường khác.

2. Ăn trầu cau làm tăng ung thư vòm họng.

Các chuyên gia y học Đài Loan cho biết, những người có thói quen ăn trầu sẽ có nguy cơ mắc ung thư vòm họng cao gấp 28 lần so với người bình thường.

Cũng theo các chuyên gia, nếu như người có thói quen ăn trầu kết hợp với hút thuốc lá thì tỉ lệ mắc ung thư vòm họng sẽ cao hơn 89 lần so với người thường. Nếu như những người này uống thêm rượu thì nguy cơ sẽ cao gấp 123 lần. Chính vì vậy các bác sĩ khuyên nên bỏ thói quen ăn trầu.

Thói quen ăn trầu, cau khá phổ biến ở Đài Loan. Xu hướng này ngày càng gia tăng và trẻ hóa. Người dân ở đây gọi nó là “kẹo cao su Đài Loạn”. Có nhiều kiến nghị rằng nên bắt buộc các doanh nghiệp bán trầu cau phải đóng thuế gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng, rồi dùng số tiền này cho vào quỹ phát triển đất đai bền vững, vì việc trồng cau gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ đất đai.

Ung thư vòm họng là một căn bệnh ung thư thường gặp ở đàn ông độ tuổi từ 25 đến 44 tuổi. Ở Đài Loan mỗi năm có khoảng 4.700 người mắc bệnh này, trong đó 80% bệnh nhân ung thư vòm họng có thói quen ăn trầu cau. Rõ ràng, việc ăn trầu cau có liên quan đến ung thư vòm họng.

Ung thư vòm họng hay xuất hiện tại niêm mạc trong má hay trên lưỡi. Các bác sỹ cho biết nếu phát hiện trong khoang miệng có đốm ban trắng, ban đỏ, bị xơ hóa hay xuất hiện khối u, khối ban không rõ hay vết loét trong khoang miệng 2 tuần không lành, miệng chảy máu không rõ nguyên nhân, có xuất hiện khối cứng hay lưỡi mất cảm giác…thì có thể đó là triệu chứng của ung thư vòm họng. Với những triệu chứng trên, theo các bác sỹ chúng ta nên lập tức đến bệnh viện để kiểm tra.

II. TIA XẠ TRỊ UNG THƯ VÒM HỌNG

Ung thư vòm họng thường gặp ở người trưởng thành từ 35 – 55 tuổi, nam nhiều hơn nữ.
Nước ta nằm trong kim vực có nguy cơ mắc bệnh ung thư vòm rất cao, gần với ty lệ của người Trung Hoa: 20 – 30 lần so với các nước khác. Ung thư vòm đứng hàng thứ tư trong số mắc bệnh ung thư ở cả hai giới.

Cơ thể con người được cấu tạo bởi hàng tỷ tế bào. Phần sau của họng gọi là vòm mũi họng được lót bằng hàng triệu tế bào mà chúng phát triển và phân chia theo một trình tự nhất định.

Đôi khi các tế bào này không thể kiểm soát được sự phân chia của chúng dẫn đến sự phát triển một khối u. Thông thường các khối u vòm mũi họng là u ác tính, vì thế chúng có thể xâm lấn trực tiếp đến các vùng ở phía sau của họng!

Các tế bào ung thư theo đường bạch huyết, đường máu và lan tràn đến các hạch cổ và các cơ quan ở xa như xương, gan, não….Khi ung thư nan tràn đến các cơ quan đó, sẽ có dấu hiệu di căn hoặc xâm lấn và có thể là nguyên nhân tử vong. Bác sĩ sẽ chuẩn đoán bằng cách khám tai, mũi, họng với dụng cụ chuyên khoa hoặc sinh thiết (dùng kìm sinh lấy một mảnh tổ chức tứ phía sau hốc mũi để chẩn đoán xác định qua kính hiển vi nếu nghi ngờ ung thư).

Tia xạ là phương pháp điều trị chủ yếu cho ung thư vòm họng, thường phải dùng liều cao để diệt hết các tế bào ung thư, tia xạ trực tiếp hướng vào khối u nguyên phát, đường dẫn lưu bạch huyết và hạch cổ.

Nếu ung thư vòm họng được phát hiện sớm điều trị tia xạ có thể chữa khỏi. Phẫu thuật rất hạn chế vì bệnh có thể điều trị triệt để bằng tia xạ. Chỉ mổ lấy những hạch còn sót lại sau tia xạ 2 tháng. Một số loại hóa chất được sử dụng điều trị phối hợp trong ung thư vòm, nhưng rất ít thuốc đem lại kết quả cho người bệnh.

Phòng bệnh bằng cách điều trị sớm những viêm nhiễm đường mũi họng, không hút thuốc lá. Khi thấy các dấu hiệu nhức đầu, xì mũi ra máu, ù tai, hạch cổ to cần khám tai mũi họng, soi vòm để phát hiện sớm.

Điều trị tia xạ có thể đạt tỷ lệ khỏi bệnh 50%. Nói chung, nếu ung thư vòm được phát hiện sớm thì có thể chữa khỏi.

Tiên lượng ung thư vòm họng.

2. Cây lược vàng chữa khỏi ung thư vòm họng.

Năm 1992, bà Thịnh tự dưng thấy nổi hạch dưới cằm, thỉnh thoảng đau đầu, tưởng viêm lợi do hàn răng sâu. Đến năm 1995 thì cổ họng sưng to, ăn cơm không thấy ngon, đi khám Bệnh viện K Hà Nội, bà Thịnh mới biêt mình bị ung thư vòm họng.

Điều trị tại bệnh viện được ít ngày, mặt mày xưng vù, đau nhức. Các bác sĩ quyết định dùng phương pháp xạ trị để ngăn chặn tế bào ung thư phát triển, những chỉ thấy đỡ, người gầy rộc đi.

Cùng lúc, một số bệnh đau khớp tê một bên chân, đau dạ dày (do dùng nhiều kháng sinh) càng thêm trầm trọng khiến bà kiệt sức. Bệnh viện K khuyên về nhà tiếp tục điều trị, bồi bổ sức khỏe.

Tuy không nói ra nhưng ai cũng hiểu bệnh này giỏi lắm thì cầm cự được vài năm là cùng. Thôi thì còn nước còn tát, ai bảo ở đâu có thuốc Đông y tốt bà cũng tìm đến cả nhà dồn hết tiền của chạy chữa, chi phí mất hàng trăm triệu đồng.

Nhưng cả vòm họng dần bị hoại tử, nước qua lỗ thủng dưới cằm chảy ra, mỗi ngày phải mất vài bọc bông băng đắp thấm…

Bà Phạm Thị Thịnh bên vườn cây lược vàng. Một hôm, ông Hồ Đức Thắng (chồng bà) đọc trên Báo Người cao tuổi giới thiệu cây Lược vàng chữa được nhiều bệnh, thấy sẵn có ở chậu cảnh ông hái lấy vài lá cho vào máy xay sinh tố nghiền ra hòa nước cho bà vợ uống, bã đắp vào lỗ thủng ở cằm.

Vài hôm sau, lỗ thủng bớt chảy nước, họng đỡ đau nhức, bà Thịnh cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Cứ như vậy, ngày nào bà cũng nghiền 5 – 6 lá lược vàng hòa nước uống, bã đắp ngoài trong vòng 3 tháng, họng khỏi hẳn đau, ăn được cháo, chỗ thủng liền da chỉ còn vết sẹo.

Đến Bệnh viện K làm lại xét nghiệm, bác sĩ kết luận bà đã khỏi hoàn toàn, không còn mầm bệnh ung thư nữa. Theo đó, các bệnh đau khớp, đau dạ dày tự dưng cũng biến mất. Kể xong câu chuyện, bà Thịnh khoe: “Bây giờ tôi thấy người khỏe ra, đầy đặn, hồng hào như chưa hề mắc bệnh nan y”.

Thấy tác dụng của cây thần dược, vợ chồng bà đã trồng vài luống lược vàng để dùng dần và cung cấp cho bà con trong xã khi cần đến.

F. TIÊN LƯỢNG UNG THƯ VÒM HỌNG

Tiên lượng của bệnh phụ thuộc vào các yếu tố sau:

1. Giải phẫu bệnh.

Ung thư vòm họng tiên lượng khả quan nhất. CS xấu vừa. Sarcome xấu nhiều.

2. Giai đoạn bệnh.

– Ung thư vòm họng để càng muộn tiên lượng càng xấu.

– Tiên lượng của ung thư vòm họng là khả quan vì phần lớn là ung thư vòm họng rất nhạy cảm với tia xạ và hóa chất, do dó tỷ lệ sống trên 5 năm cao hơn nhiều loại ung thư khác.

– Nói chung tỉ lệ sống trên 5 năm ở nước ngoài là 15 – 40%, nhưng ở Việt Nam là 5%.

Nói chung ung thư vòm họng có khoảng 4% sống được 5 năm.

Những bệnh nhân sống sau cắt bỏ thực quản, khoảng 20% sống được 5 năm. Tử vong sau mổ cắt bỏ thực quản có thể < 10% nhưng thường cao hơn đặc biệt với những khối u ở 1/3 trên và 1/3 giữa.

+ Kinh nghiệm đối đầu với ung thư.

Mỗi người đối phó với chẩn đoán ung thư theo cách riêng của mình. Bệnh nhân có thể thấy bị sốc hoặc lo sợ. Hãy cho phép mình có thời gian cảm thấy đau buồn. Một chẩn đoán ung thư có thể làm cho bạn cảm thấy không tự làm chủ được bản thân vì vậy từng bước cho phép mình và kiểm soát những gì bạn có thể tự lo cho sức khỏe của mình. Hãy cố gắng để:

Học hỏi mọi điều có thể được về bệnh ung thư của bạn. Viết ra những câu hỏi xuất hiện trong ý nghĩ của bạn và hỏi bác sỹ trong lần gặp sắp tới. Khi đi khám bệnh nhớ đi cùng người nhà hoặc bạn bè để giúp bạn ghi nhớ những giải thích của bác sỹ.

3. Tạo nên một mạng lưới ủng hộ. Có bạn bè và gia đình xung quanh bạn giúp bạn tự tin hơn. Bạn có thể thấy như được hỗ trợ khi có một người nào đó nói với bạn về sự xúc động của bạn.

4. Dành thời gian cho riêng mình khi cần thiết. Hãy nói với mọi người khi nào bạn cần nghỉ ngơi yên tĩnh một mình. Thời gian yên tĩnh để bạn có thể nghĩ hoặc viết một điều gì đó có thể giúp bạn thoát khỏi những xúc động mà bạn cảm thấy.

5. Tự chăm sóc bản thân. Chuẩn bị cá nhân cho việc điều trị bằng cách lựa chọn một lối sống khỏe mạnh.

Ví dụ như, nếu bạn hút thuốc lá, hãy bỏ không hút thuốc lá nữa, ăn nhiều loại quả và rau. Luyện tập thân khi bạn cảm thấy có đủ sức khỏe. Tuy nhiên, nên đi kiểm tra lại trước khi bắt đầu một luyện tập mới.

Cố gắng ngủ đủ để bạn có thể cảm thấy khỏe khoắn đều đặn. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ nếu bạn thấy khó ngủ. Cố gắng tình trạng căng thẳng (stress).

Một số bài thuốc khác chữa trị ung thư vòm họng.

4. Một số món ăn khác.

4.1 Hoài sơn, hạt câu ký hầm thịt gà.

– Thực phẩm:

+ Gà nửa con

+ Gừng tươi 15g

+ Hoài sơn dược 30g

+ Hạt câu kỷ 15g

+ Muối lượng vừa phải.

– Chế biến:

Thịt gà rửa sạch chặt cục, gừng xắt miếng rửa sạch bỏ vào nấu sôi, gà bỏ vào nước gừng trụng xong vớt ra ngay để khử mùi tanh. Bỏ gà vào nồi hầm, thêm hoài sơn dược, hạt câu kỷ và nước sôi, đậy nắp dùng lửa nhỏ hầm một tiếng là chín.

– Cách dùng: Ăn vào các bữa ăn chính.

– Công hiệu: Có tác dụng ích khí dưỡng âm, bổ tì ích thận.

– Chủ trị: Người mắc phải các chứng ung thư sau phẫu thuật hoặc phóng xạ, hoá trị liệu cơ thể suy yếu.

4.2 Hoàng kỳ hầm gà mái.

– Thành phần:

+ Hoàng kỳ 20g

+ Gà mái 1 con

+ Một ít gia vị.

– Chế biến: Gà bỏ lông và đổ lòng, rửa sạch, rồi lấy hoàng kỳ bỏ vào bụng gà may lại, đặt gà vào trong nồi? thêm nước, gừng hành, hồi hương, muối, gia vị nấu hoặc chưng một giờ.

– Cách dùng: Ăn vào các buổi ăn chính uống nhiều canh.

– Công hiệu: Bổ khí dưỡng máu, ích tinh tuỷ.

– Chủ trị: Dùng cho người bệnh ung thư sau phẫu thuật khí huyết yếu kém.

III. MỘT SỐ BÀI THUỐC KHÁC CHỮA TRỊ UNG THƯ VÒM HỌNG

1. Cây xạ đen ngăn ngừa ung thư.

Thời gian gần đây, ở Quy Nhơn (Binh Định), nhiều bệnh nhân có bệnh đường tiêu hóa (viêm loét dạ dày tá tràng, ung thư dạ dày mới phát hiện, viêm gan mạn tính, xơ gan đơn thuần, ung thư gan giai đoạn đầu, sau mổ sỏi túi mật, viêm đại tràng mạn tính, rối loạn tiêu hóa, ăn chậm tiêu, táo bón…) đã uống nước sắc cây xạ đen thấy có tác dụng tốt.

Tại Thành phố Quy Nhơn có bệnh nhân Trần Trung Toàn (1967) ở tổ 58, khu vực 8, phường Lê Hồng Phong, bị ung thư dạ dày sau cắt 2/3 dạ dày. và cắt bỏ túi (2007). Anh đã điều trị hóa trị liệu liên tục trong nhiều năm.

Tình cờ anh có bạn mách tim mua cây xạ đen uống. Theo anh Toàn, uống xạ đen anh thấy dễ chịu, ăn uống tuy không được nhiều nhưng tiêu hóa tốt, đã hơn 2 năm nay anh không xạ trị nữa.

Từ anh Toàn, chúng tôi có chỉ dẫn cho một số bệnh nhân trong nhóm bệnh tiêu hóa và cả một vài bệnh nhân có chẩn đoán ung thư dạ dày đã điều trị ở Bệnh viện Ung bướu, một số bệnh nhân ung thư gan giai đoạn đầu, ung thư hạch, rối loạn tiêu hóa thể táo, viêm gan nhiễm mỡ, ăn chậm tiêu… uống xạ đen, sức khỏe có khá hơn.

Cây xạ đen có tên khoa học Celastrus hindsii Benth.et Hook. Cây xạ đen đã được nghiên cứu từ lâu ở tỉnh Hòa Bình (khoảng năm 2003) và đã được các nhà khoa học ở Hà Nội điều trị có kết quả rất tốt cho nhiều bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa, kể cả cả ung thư vòm họng, lưỡi.

Tác dụng: Phòng chống điều trị ung thư, hạn chế phát triển của các khối u, tiêu viêm giải độc mát gan, ăn ngủ tốt tăng cường sức đề kháng của cơ thể.

Liều lượng: Lấy 100g xạ đen rửa sạch cho vào siêu đất có 800ml nước lọc vô trùng đun sôi trên 30 phút, gạn lấy nước uống trong ngày, thay nước uống khác.

Dùng khi nào nước sắc trong nhạt màu thì thay ấm khác. Nước xạ đen, nếu để trong tủ lạnh uống càng thơm, ngon rất dễ uống. Qua một thời gian theo dõi hướng dẫn cho các bệnh nhân có nhóm bệnh nói trên uống cây xạ đen đều thấy có tác dụng tốt.

Nhưng với kinh nghiệm của chúng tôi, sử dụng một loại thuốc nam dược nào cũng tùy thuộc vào cơ địa của mỗi bệnh nhân, không phải bệnh nhân nào cũng uống đạt kết quả như nhau. Được biết, từ năm 2003 đến nay, đã qua nhiều ứng dụng trong lâm sàng, cây xạ đen chưa có một tác dụng phụ nào.