Một số bệnh mà nam giới cần cảnh giác.

1. Ung thư trực tràng.

Triệu chứng: trong nhiều trường hợp thì loại bệnh này hầu như không có triệu chứng rõ rệt, do đó luôn phải chú ý tới bất kỳ sự thay đổi nào trong chức năng làm việc của dạ dày.

Nếu thấy có hiện tượng chảy máu trực tràng, thay đổi kéo dài trong quá trình làm việc của dạ dày, mệt mỏi kéo dài, táo bón mãn tính, khó chịu ở dạ dày thì có thể đây là những triệu chứng ban đầu của loại bệnh ung thư trực tràng.

Theo thống kê của các chuyên gia nghiên cứu thì ung thư trực tràng chiếm vị trí thứ 3 trong số các nguyên nhân chính dẫn tới tử vong ở người mà các nhà khoa học vẫn gọi loại bệnh này là “cái chết thầm lặng”.

Bởi vì trước khi phát bệnh, nó hầu như không có triệu chứng rõ ràng nên cũng rất khó phòng chống, ở Mỹ hiện nay có tới gần 50.000 bệnh nhân đang mắc phải loại bệnh này.

Phòng chống và cách điều trị: Do bệnh hầu như không có triệu chứng rõ ràng nên cần phải thường xuyên chiếu chụp mới có thể phát hiện và chữa trị kịp thời trước khi quá muộn vì với khả năng y học ngày nay thì ung thư trực tràng giai đoạn đầu có thể được chữa khỏi.

Triệu chứng: Khát nước, ăn nhiều nhưng vẫn giảm cân, đi tiểu tiện nhiều lần kể cả ngày và đêm, buồn nôn và giảm thị lực từng phần. Đó chính là những triệu chứng ban đầu của loại bệnh này.

Khác với tiểu đường tip 1 (có thể phát hiện ra bệnh ngay từ khi còn nhỏ), tiểu đường tip 2 thường gặp ở độ tuổi trưởng thành.

Nó thường xuất hiện khi cơ thể không còn khả năng điều chỉnh lượng đường trong máu do tuyến tụy không sản sinh đủ số lượng insuline để giảm lượng đường trong máu hoặc cơ thể không có phản ứng với các hoocmon.

Yếu tố chính đe doạ đến nguy cơ mắc bệnh này chính là thừa cân, béo phì. Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như: mức cholesterol, huyết áp cao, tuổi tác … Phòng chống và cách điều trị.

Hiện nay vẫn chưa có loại thuốc nào đặc trị cho loại bệnh này tuy nhiên trong nhiều trường hợp vẫn có khả năng chữa khỏi. Để phòng bệnh, tốt nhất là nên giữ cho trọng lượng cơ thể luôn ở mức vừa phải thường xuyên tập thể dục, hạn chế đến mức tối thiểu các sản phẩm giàu hàm lượng chất béo.

2. Đột qụy.

Triệu chứng: Bất ngờ bị liệt một phần cơ thể (thường là ở tay, chân hay mặt), mất cảm giác, thị lực giảm, nói ngọng, không kiểm soát được hoạt động của mắt và mất trí nhớ.

Nói một cách nôm na thì đột qụy hay “trấn thương não bộ” chính là sự phá huỷ mạnh mẽ quy trình hoạt động của não bộ, làm đông máu não hay còn gọi là chứng phình mạch.

Kết quả là làm phá hủy hoàn toàn hệ thống tuần hoàn trong não bộ, tiêu diệt các tế bào nào và làm tổn hại nghiêm trọng tới não bộ.

Phòng chống và cách điều trị: Điều đầu tiên khi phát hiện thấy dấu hiệu bị trứng đột qụy hãy nhanh chóng đưa bệnh nhân tới bệnh viện cấp cứu để được cứu chữa kịp thời, tốt nhất là đến các trung tâm y tế chất lượng cao, đội ngủ bác sỹ giỏi chuyên sâu về loại bệnh này.

Với loại bệnh này thì cần phải thường xuyên theo dõi và phát hiện kịp thời trước khi quá muộn. Có thể các bác sỹ sẽ cho bạn dùng thuốc để khôi phục quá trình cung cấp oxy cho não bộ.

3. Bệnh mạch vành tim.

Triệu chứng: Đau ở ngực dưới xương ức (thường kèm theo căng thẳng) hoặc đau bất thường ở ngực. Có thể đau ở ngực trái, ở lưng, ở tay hay bụng kèm theo khó thở. Trong một số trường hợp, bạn sẽ không biết mình đau chỗ nào nếu bạn không thấy đau ở tim.

Bệnh mạch vành tim chỉ xuất hiện khi có sự hình thành các tiểu cầu và tế bào mỡ làm co động mạch, dẫn đến giảm khả năng tuần hoàn máu vào tim. Loại bệnh này là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tử vong ở cả nam và nữ ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Nga, Mỹ, Đức.

Các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ mắc loại bệnh này bao gồm: lịch sử gia đình, tức là loại bệnh này có khả năng di truyền, huyết áp cao, tiểu đường, lối sống thiếu lành mạnh, không khoa học lại ít hoạt động, nghiện thuốc lá, thừa cân, béo phì.

Phòng tránh và cách điều trị: Do đa số các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ mắc loại bệnh này xuất phát từ lối sống, cung cách sinh hoạt nên cách tốt nhất để phòng ngừa và ngăn chặn loại bệnh này chính là cần phải có một lối sống khoẻ, lành mạnh, năng hoạt động để làm giảm đi lượng mỡ dư thừa trong cơ thể, giảm nhu cầu sử dụng natri, bỏ thuốc lá.

4. Xơ gan.

Triệu chứng: xuất hiện các khối u ở chân, vàng da, mệt mỏi, giảm cân, nổi các mạch máu đỏ trên da.

Theo các nhà khoa học thì gan của chúng ta được ví như một thiết bị lọc máu đặc biệt. Nó không chỉ giúp giúp cho cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, lọc nước mà còn làm sạch máu khỏi các chất độc hại.

Loại bệnh này có liên quan mật thiết tới chứng nghiện rượu, mặc dù bệnh có thể xuất phát từ chứng viêm gan hoặc các loại bệnh khác. Trong trường hợp xấu nhất, xơ gan có thể phải cắt bỏ thận, nếu cần thiết thì phải cấy ghép gan.

Phòng tránh và cách điều trị: Hiện nay vẫn chưa có loại thuốc nào đặc trị loại bệnh này, nhưng bạn có thể ngăn chặn sự huỷ hoại gan bằng cách ngừng uống rượu khi đang uống thuốc nếu bạn là người nghiện rượu.

Nếu bạn phát hiện ra các triệu chứng ban đầu của một trong 5 loại bệnh phổ biến ở nam giới nói trên thì cũng không nên quá tuyệt vọng, đừng hoảng sợ. Hãy tìm đến các chuyên gia y tế, các bác sỹ ở những bệnh viện chuyên khoa để được chỉ dẫn và điều trị kịp thời.

Ung thư đại tràng – hậu môn.

Cho đến nay vẫn chưa có một loại thử máu nào có thể dùng trong việc truy tầm ung thư ruột già một cách chính xác. CEA, một chất hóa học bài tiết từ các tế bào ung thư ruột già, có thể tăng cao trong một số bệnh nhân bị ung thư ruột già.

Nhưng chất hóa học này có thể hoàn toàn bình thường trong nhiều trường hợp ung thư khác nhau. Vì thế đa số các bác sĩ chỉ thử nghiệm chất CEA này để theo dõi sự phát triển của ung thư nhiều hơn là để truy tầm ung thư.

Thử máu trong phân (Fecal Occult Blood Test) đã và đang được phổ biến và ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

Tuy nhiên phương pháp này cũng không được hoàn hảo, một phần ung thư ruột già không phải lúc nào cũng chảy máu, một phần vì một số thức ăn uống hằng ngày có thể làm kết quả thử máu trong phân trở nên kém chính xác hoặc sai lầm.

Chẳng hạn, như nếu thử phân sau khi ăn tiết canh vịt, cháo huyết, thịt beef steak v.v… kết quả có thể sẽ trở nên dương tính.

Soi hậu môn và tràng sigma chỉ khám phá được những mầm ung thư ở đây mà thôi. Các mầm ung thư đại tràng lên và tràng ngang (ascending and traasverse colon) sẽ không được khám phá ra bằng phương pháp này.

Hiện nay chỉ có một phương pháp độc nhất và chắc chắn nhất để truy tầm ung thư ruột già là nội soi cả đại tràng (Colonoscopy).

Tuy nhiên phương pháp này mắc tiền và tương đối rắc rối. Hy vọng trong một tương lai gần đây, chụp hình quang tuyến theo lối Virtual colonoscopy sẽ được phổ biến rộng rãi hơn.

Hiện nay chỉ một số trung tâm y tế tại Hoa Kỳ mới có những máy móc thích ứng cho phương pháp này.

2. UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG – HẬU MÔN

Ung thư đại tràng là căn bệnh phổ biến, đứng hàng đầu trong ung thư đường tiêu hóa tại các nước Âu Mỹ. Tại Việt Nam và các nước châu Á, ung thư đại tràng đứng thứ hai trong ung thư đường tiêu hóa sau ung thư dạ dày.

+ Nguyên nhân:

– Chế độ ăn uống nhiều chất mỡ và ít chất sợi từ thực vật.

– Những thương tổn tiền ung thư như polyp, viêm loét đại trực tràng xuất huyết, bệnh Crohn..

+ Triệu chứng:

– Bệnh nhân thường có những rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy kéo dài (dễ lầm với viêm đại tràng) và táo bón (đôi khi xen kẽ những đợt tiêu chảy giống như hội chứng lỵ).

– Triệu chứng đi tiêu ra máu rất quan trọng. Tùy thuộc vị trí của ung thư mà người bệnh đi tiểu ra máu đỏ tươi hay phân đen. Người bệnh thường bị thiếu máu.

– Khoảng 3/4 bệnh nhân có triệu chứng đau bụng: Đau ngay vị trí khối u hoặc đau dọc theo khung đại tràng. Thỉnh thoảng có cơn đau quặn bụng, nổi gò bụng và chướng bụng; sau khi trung tiện thì giảm đau và bụng xẹp.

– Ở giai đoạn sớm, bệnh thường khó phát hiện, nhưng khi bệnh nhân đến muộn thì bụng có thể đã bị chướng.

Đôi khi sờ được khối u ở hố chậu phải, hố chậu trái hay ở thượng vị – thường là ung thư đã ở giai đoạn muộn di căn – thường gặp nhất là qua gan (75%), sờ thấy gan to lổn nhổn, bụng báng. Thỉnh thoảng di căn sang xương, phổi, não và buồng trứng. Lúc này thể trạng bệnh nhân thường suy sụp.

+ Chẩn đoán:

Để xác định chẩn đoán các thầy thuốc sẽ cho bệnh nhân chụp X quang đại tràng có chuẩn bị, giúp chẩn đoán chính xác các khối u nhỏ hơn 2 cm. Phương pháp chẩn đoán hình ảnh tốt nhất hiện nay là nội soi đại tràng và sinh thiết với ống soi mềm, giúp nhìn rõ khối u và làm sinh thiết.

Để tìm và đánh giá tình trạng di căn, bệnh nhân còn được làm xét nghiệm định lượng CEA. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác bao gồm:

– Siêu âm bụng.

– Chụp cát lớp điện toán vùng chậu.

– Chụp phổi.

– Chụp hệ niệu có chuẩn bị và nội soi bàng quang.

+ Biến chứng:

Tắc ruột là biến chứng thường gặp nhất (10 – 30%), nhất là ở đại tràng trái. Các biến chứng khác bao gồm: Nhiễm trùng khối u, áp xe, viêm phúc mạc, rò ra ngoài thành bụng hay sang các tạng lân cận.

+ Điều trị:

Đối với ung thư đại tràng chưa biến chứng, phương pháp điều trị triệt để là cắt đại tràng. Đôi khi còn phải cắt bỏ toàn bộ một hay nhiều tạng bị ung thư xâm lấn hay di căn. Trường hợp ung thư di căn không thể cắt triệt để thì cắt bỏ đoạn ruột có khối u hoặc làm hậu môn nhân tạo, để đề phòng các biến chứng.

Trong trường hợp tác ruột, phương pháp điều trị là cắt đại tràng kèm khối u hoặc làm hậu môn nhân tạo hoặc nối tắt nếu không cắt u được. Nếu khối u đã vỡ gây viêm phúc mạc thì phải cắt đại tràng có u và đưa hai đầu ruột ra ngoài.

Ngoài điều trị bằng phẫu thuật, người ta còn sử dụng hóa trị và miễn dịch liệu pháp 5 fluoro-uracil thường được dùng để điều trị bổ túc sau mổ hoặc kết hợp với levamisol, hay acid folinic cho các trường hợp có di căn xâm lấn.

Không dùng xạ trị cho ung thư đại tràng vì dễ gây viêm nhiễm xạ cho các tạng trong ổ bụng.

Tử vong sau mổ ung thư đại tràng là khoảng 3 – 5% nếu chưa biến chứng và 20 – 30% nếu đã có biến chứng. Tiên lượng sống sau 5 năm tùy theo giai đoạn ung thư đại tràng (A: 70 – 85%; B: 50 – 60%; C: 25 – 45%; D: 0 – 6%).

Cách chữa ung thư ruột già.

+ Virtual Colonosopy.

Gần đây nữa, nhờ vào tiến triển của nghành điện toán, người ta đã có khả năng nhận diện ruột già với hình 3 chiều (3 dimensional) tương tự như trong lúc soi ruột bằng máy quay phim, thay vì 2 chiều như Barium Enema và CT Colonography.

Phương pháp này là bước tiến dài của y khoa trong việc truy tầm ung thư ruột già với tên là Virtual Colonosopy. Phương pháp này được xem rất chính xác với khả năng nhận diện những thương tích trên màng ruột già gần bằng với phương thức soi ruột.

Lợi điểm nhất của phương pháp này, là bệnh nhân không cần phải uống thuốc sổ và không phải tiêm thuốc ngủ hay thuốc chống đau như trong trường hợp soi đại tràng. Trong phương pháp này, bệnh nhân sẽ phải uống một ít thuốc huỳnh quang trước khi chụp hình điện toán.

Sau đó ruột già được “thổi phồng” lên bằng một ống cao xu cắm vào hậu môn. Toàn cơ thể bệnh nhân sẽ được đưa vào một máy chụp hình điện toán đặc biệt, và sau một thời gian từ 30 đến 60 phút, những dữ kiện thâu nhặt được từ máy chụp hình điện toán sẽ được sắp xếp lại thành hình để người y sĩ nghiên cứu.

Vì ruột bị “căng cứng” vì hơi trong một thời gian khá lâu, bệnh nhân có thể bị đau “quặn bụng” trong một thời gian ngắn. Khuyết điểm của phương pháp này là không thể khám phá những mạch máu bất bình thường hoặc những bướu quá nhỏ.

Nếu thuốc huỳnh quang không trộn đều trong ruột, một số phần có thổ được nhận diện như là những thay đổi bất bình thường của màng ruột già.

Hơn nữa, nếu đó là bướu hoặc u năng, bệnh nhân cần phải lấy ra hoặc khảo cứu bằng phương pháp tuy cổ điển – nhưng vẫn chính xác và hữu hiệu nhất. Đó là soi ruột già.

+ Lợi điểm của việc soi ruột già.

Ưng thư ruột già thường xuất phát từ một tế bào nào đó trên màng ruột. Lâu dần chúng biến thành những bướu nhỏ (polyp). Khi soi ruột già, các bướu này có thể được cắt đi để thử nghiệm dưới kính hiển vi.

Vì thế, khác với tất cả các cách thức truy tầm ung thư ruột già kể trên, nội soi đường ruột là phương pháp độc nhất có thể chữa và cắt bỏ những bướu ruột già nếu không quá lớn. Sau đây là cách thức cắt bỏ những bướu ruột già trong lúc soi ruột già.

Bướu (Polyp) đại tràng bướu đang được cắt bỏ bướu sau khi cắt xong.

Nếu bướu có đặc tính hoàn toàn lành, người ta gọi là HYPERPLASTIC. Bướu hyperplastic sẽ không biến thành bướu ung thư, nên không cần phải lo lắng gì nữa.

Mặt khác, nếu bướu có trạng thái hoặc khả năng biến dạng thành ung thư, bướu sẽ được gọi là ADENOMATOUS.

Đây là một loại tiền ung thư. Bướu này nếu không được lấy ra sẽ biến thành ung thư trong một thời gian từ ba đến bẩy năm, tùy theo kích thước và cơ cấu. Vì thế bệnh nhân với bướu adenomatous cần được theo dõi kỹ lưỡng hơn. Họ cần soi ruột già định kỳ, cứ 3 năm một lần.

+ Cách chữa ung thư ruột già.

Theo thống kê của hội ung thư Hoa Kỳ, khoảng 50% tất cả các loại ung thư một khi được khám phá ra sẽ được chữa trị hoàn toàn.

Con số này có thể cao hơn nữa, nếu các bệnh ung thư được khám phá ra sớm hơn. Như viết ở trên, vì ung thư ruột già thường không gây ra một triệu chứng nào cả trong giai đoạn dễ chữa, phòng bệnh và truy tìm bệnh vẫn tốt hơn cả.

Nếu ung thư ruột chỉ rất nhỏ tiềm ẩn trong bướu ruột như trong trường hợp carcinoma-in- situ, tế bào ung thư có thể được cắt bỏ một cách dễ dàng trong lúc nội soi.

Nếu bướu hoặc ung thư quá lớn, bệnh nhân cần phải được giải phẫu. Một khi được lấy ra ngoài, bệnh nhân có thể sẽ hoàn toàn hết bệnh và sống lại một cách bình thường.

Một khi ung thư đã lan đến những vùng lân cận hoặc những cơ quan khác nhau, bệnh sẽ khó chữa hơn.

Hiện nay, người ta vẫn chưa khám phá ra một phương thức nào có thể chữa dứt bệnh ung thư ruột già trong trường hợp bệnh đã lan ra khắp nơi (melastatic colon cancer). Sau khi mổ, một số bệnh nhân có thể được tiếp tục chữa trị bằng nhiều loại thuốc khác nhau, danh từ y khoa là Chemotherapy.

Các lối chữa trị bấy giờ, chỉ hy vọng kéo dài đời sống hoặc giúp cho bệnh nhân có một đời sống tương đối bình thường trong những ngày tháng cuối cùng của họ. Điều này một lần nữa nhấn mạnh sự quan trọng trong việc phòng ngừa căn bệnh đáng sợ này.

Một số bệnh nhân vì hoàn cảnh tài chính hoặc lý do riêng tư ngần ngại không muốn mổ ngay sau khi được khám phá ung thư ruột. Điều này sẽ đưa đến những hậu quả đau đớn và tai hại hơn.

Khi ung thư lớn dần, họ sẽ tiếp tục mất máu, mỗi ngày một nhiều hơn. Khi ruột bị tắc nghẽn vì “khối” ung thư, bụng trở nên vô cùng đau đớn và nhiều khi phải mổ khẩn cấp, nếu không sẽ bị thối hoặc lủng ruột.

Hơn nữa, nếu ung thư lan đến những cơ quan khác sẽ gây ra nhiệu triệu chứng như đau nhức xương, lưng, ngộp thở, mệt mỏi, khó chịu…

Tóm lại, ung thư ruột già là một căn bệnh mà chúng ta ai ai cũng có thể bị. Càng lớn tuổi càng dễ bị. Tuy bệnh khó chữa, nhưng ung thư ruột già có thể phòng ngừa được một cách tương đối dễ dàng.

Tiếc thay, cho đến nay, người ta cũng chưa khám phá ra một phương pháp truy tầm ung thư ruột già nào toàn hảo, nghĩa là vừa tốt, an toàn, nhanh chóng không đau đớn khó chịu và rẻ tiền.

Nội soi đường ruột (Colonoscopy).

+ Nội soi đường ruột (Colonoscopy)

Trong tất cả những phương pháp kể trên chỉ có phương pháp “Soi ruột ảo tưởng” (Virtual Colonoscopy) là không cần phải uống thuốc sổ ruột.

Barium Enema: Khi chụp hình quang tuyến với danh từ y-khoa là Barium Enema, một ít chất huỳnh quang (Barium) sẽ được bơm thẳng vào hậu môn.

Sau đó ruột của bệnh nhân sẽ được thổi phồng lên bằng không khí để bác sĩ chuyên khoa về quang tuyến có thể nhận diện các sự thay đổi trên thành ruột già một cách dễ dàng hơn.

Vì trong quá trình định bệnh bằng phương pháp này bệnh nhân không cần thuốc mê hoặc chống đau, nên người bệnh có thể cảm thấy rất khó chịu trong một thời gian ngắn.

Phương pháp chụp hình quang tuyến, tuy rẻ tiền hơn, nhưng không được rõ ràng và chính xác bằng phương pháp nội soi đại tràng (colonoscopy).

Vì thế, từ đầu năm 1998, Medicare (Hãng bảo hiểm sức khỏe cho người lớn hơn 65 tuổi hoặc tàn tật) chỉ cho bệnh nhân chụp hình Barium Enema nếu vì một lý do đặc biệt nào đó bệnh nhân không thể đi soi ruột già được.

Endoscopy: Trong phương pháp nội soi (Gastrointestinal Endoscopy), bác sĩ sẽ dùng một dụng cụ đặc biệt có khả năng phóng đại màng của ruột già lên màn ảnh TV.

Dụng cụ này là một ống cao su mềm lớn khoảng bằng đầu ngón tay út với một máy quay phim tinh vi gọi là colonoscope, ống quay phim này sẽ được luồn từ từ vào hậu môn để tiếp tục đi dần vào ruột già.

Nếu chỉ cần soi hậu môn và tràng sigma (flexible sigmoidoscopy), bệnh nhân có thể được soi tại phòng mạch bác sĩ mà không cần thuốc gây mê hoặc chống đau.

Tuy nhiên, nếu cần phải soi hết đại tràng (colonoscopy), bệnh nhân thông thường sẽ được soi tại một trung tâm ngoại chẩn do một bác sĩ chuyên khoa về hệ thống tiêu hóa đảm nhiệm.

Để giảm đi sự khó chịu và đau đớn, bệnh nhân sẽ được tiêm một ít thuốc ngủ và thuốc chống đau như Versed và Demerol.

Tuy phương pháp này mất công và đắt tiền hơn chụp hình quang tuyến, những tế bào tình nghi hoặc những bướu ruột già nếu không quá lớn, có thể được gắp ra hoặc cắt bỏ đi một cách an toàn mà không cần phải mổ sẻ.

Khác với trường hợp phải gây mê toàn diện khi đi giải phẫu, đa số các bệnh nhân khi soi ruột già chỉ cảm thấy hơi buồn ngủ mà thôi. Với sự tiến triển của y khoa, nội soi đường ruột trở nên an toàn hơn.

Tuy thế, một ít người kém may mắn có thể gặp một số trở ngại khi soi ruột già như bị dị ứng với các loại thuốc chống ngủ/đau nhức, bị chảy máu, nhiễm trùng, lủng ruột hoặc thiệt mạng. May mắn thay, những điều kể trên ít khi xảy ra.

Vì thế, ngày nay nội soi đường ruột đã trở thành phương pháp độc nhất, hữu hiệu nhất, an toàn và thông dụng nhất trong việc định bệnh và trị bệnh liên quan đến ruột già.

CT Colonography: Song song với sự tiến triển trong ngành điện toán, nhiều phương pháp chụp hình quang tuyến tối tân hơn được ứng dụng trong việc truy tầm ung thư ruột già.

Đáng kể nhất là CT ruột già (CT Colonography) và soi ruột già ảo thực (Virtual Colonoscopy). Đặc điểm của hai phương pháp này, là bệnh nhân không cần phải tiêm thuốc ngủ trong lúc thử nghiệm.

CT Colonography là một phương pháp chụp hình quang tuyến chính xác và rõ ràng hơn Barium Enema.

Tuy nhiên, giống như trong lúc chụp Barium Enema, trong phương pháp này bệnh nhân vẫn phải uống thuốc sổ để rửa ruột cho sạch. Sau đó, họ sẽ uống hoặc được bơm một ít chất huỳnh quang vào ruột già.

Để hình ảnh được rõ ràng hơn, một ít không khí hoặc khí CO2 sẽ được đưa vào hậu môn để “ép” chất huỳnh quang vào thành của ruột già.

Tuy nhiên, thay vì dùng quang tuyến X bình thường như trong lúc chụp Barium Enema, trong phương pháp này, người ta dùng máy quang tuyến điện toán (Computer Tomography Scan) để tìm kiếm những sự thay đôi nếu có trên màng của ruột già.

Đây là một phương pháp mới với khả năng khám phá ra bướu ruột già một cách tương đối chính xác.

Người ta ước đoán, khoảng 90% những bướu ruột lớn hơn 10 mm sẽ được nhìn thấy trên hình ảnh của CT Colonography. Con số này giảm xuống khoảng 60% cho những bướu nhỏ hơn 5 mm.

Vì thế, nếu so với phương pháp soi ruột già (colonoscopy), CT Colonography kém chính xác hơn. Nhưng vì đây là một phương pháp không cần phải tiêm thuốc ngủ, nên sẽ đỡ tốn kém hơn và an toàn hơn.

Làm thế nào để tránh bị ung thư ruột già?

Thông thường, ung thư ruột già trong những giai đoạn đầu chỉ chảy rất ít máu, nên mắt trần sẽ không thấy. Đến khi ung thư trở nên lớn hơn nhất là nếu ung thư nằm gần hậu môn, xuất huyết ruột già có thể rõ ràng hơn với những vết máu đỏ tươi hoặc máu bầm pha lẫn với phân.

Mất máu lâu ngày, bệnh nhân có thể cảm thấy khó thở, hoặc chóng mệt. Nếu không chữa kịp thời và đúng lúc, bệnh nhân có thể sẽ tiếp tục mất ký rất nhiều.

Một lần nữa, vì đa số ung thư ruột già không gây ra một triệu chứng nào đáng kể trong những thời gian đầu, bệnh thường trở nên bất trị một khi bệnh bộc phát.

Điều này một lần nữa nhấn mạnh tầm vóc quan trọng của việc khám bệnh thường xuyên và định kỳ.

+ Làm thế nào để tránh bị ung thư ruột già?

Sau đây là những lời khuyên của Hội Ung thư Hoa Kỳ (The American Cancer Society), để tránh bị ung thư ruột già:

Từ 40 tuổi trở đi, cả hai phái nam và nữ cần phải đi khám bệnh tổng quát hàng năm. Trong lúc khám định kỳ, bác sĩ sẽ thử phân xem trong phân có máu hay không.

Vì mục đích là truy tầm ung thư, nên nên đi khám trước khi bị đau đớn hoặc bệnh tật. Nếu chờ đến lúc triệu chứng trở nên rõ rệt, chẳng hạn như đi tiểu ra máu; mới đi bác sĩ, có thể lúc đó ung thư đã quá lớn và rất khó chữa.

Nếu một trong những thân nhân gần của bạn bị ung thư ruột già, hoặc nếu bạn đã hoặc đang bị ung thư vú, ung thư tử cung, bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa về đường ruột, để được truy tìm ung thư ruột già bằng phương pháp nội soi.

Bạn nên ăn nhiều rau, uống nhiều nước. Nhất là các loại rau đậm mầu và nhiều loại trái cây khác nhau. Điều này nói dễ hơn làm.

Trung bình bạn nên ăn khoảng 30 gram chất sơ mỗi ngày. Để nhắc lại một quả cam, hoặc táo chỉ chứa khoảng 3 gram chất sơ mà thôi.

Vì thế, nếu bạn vì một lý do nào đó không thể ăn nhiều chất sơ được, chúng tôi khuyên bạn nên uống thêm chất cám bày bán trên thị trường như Metamucil, Konsyl, Citrucel…
Vitamin A, C, E. Nếu dùng đúng cách có thể làm ung thư ruột già phát triển chậm lại.

Người ta cũng nhận thấy một số các loại thuốc chống đau nhức như trong gia đình của chất Aspirin hay Ibuprofen, nếu được uống đều đặn có thể ngăn cản sự tạo hình của bướu ruột già.

Vì thế, một số các bác sĩ vẫn khuyên nếu bạn hơn 40 tuổi mà không bị đau bao tử, bạn nên uống mỗi ngày một viên Aspirin loại 81 mg. Như thế, Aspirin không những tránh cho chúng ta đỡ bị tắc nghẽn mạch máu mà còn có thể giúp chúng ta đỡ bị ung thư ruột già hơn.

Trong một cuộc khảo cứu gần đây, người ta cũng nhận thấy rằng nếu uống Calcium mỗi ngày có thể giảm đi sự tái phát của bướu ruột già.

Tập thể dục đều đặn không những sẽ tạo cho bạn một cơ thể khỏe mạnh, mà còn áo thể giúp vấn đề đại tiện trở nên tốt đẹp hơn. Người quá mập cũng dễ bị ung thư ruột già hơn.

Từ 50 tuổi trở đi, bạn nên đi soi hậu môn và tràng Sigma (Flexible Sigmoidoscopy). Nếu kết quả tốt, bạn chỉ cần soi định kỳ 3 đến 5 năm một lần.

Gần đây hơn, Hội Ung thư Hoa Kỳ đề nghị từ 50 tuổi trở lên, ngay cả khi chưa có một triệu chứng nào cả, bệnh nhân cũng nên đi soi nguyên cả đại tràng (colonoscopy) thay vì chỉ soi một đoạn ngắn mà thôi.

Lời khuyên căn cứ trên sự nhận xét là ung thư ruột già trong những năm vừa qua có khuynh hướng xuất hiện phần ruột bên trong, nên nếu chỉ soi hậu môn (sigmoidoscopy), một số ung thư sẽ không được khám phá kịp thời.

Vì đây là một khuyến cáo mới cho một phương pháp khá mắc tiến nên một số các bảo hiểm cũng như bác sĩ vẫn chưa ứng dụng một cách triệt để.

Nếu bạn có nhiều nguy cơ bị ung thư ruột già, như gia đình có người bị ung thư ruột lúc còn trẻ, bạn bị ung thư tử cung, ung thư vú tự nhiên bị mất máu hoặc thiếu chất sắt, đi cầu ra máu, hoặc vấn đề đại tiện thay đổi thất thường, bị đau bụng dưới một cách kỳ lạ, nhất là nếu bị mất ký ngoài ý muốn, bạn phải đi bác sĩ càng sớm càng tốt.

+ Cách thức định bệnh.

Nhiều phương pháp khác nhau dược ứng dụng trong việc khám nghiệm và truy tìm những bệnh tật của ruột già:

Chụp hình quang tuyến:

+ Barium Enema

+ CT Colonography

+ Soi ruột “ảo thực” (Virtual Colonoscopy)

Ung thư ruột già.

Ung thư ruột già là một trong những ung thư thường xuyên và nguy hiểm nhất tại Hoa Kỳ. Mỗi năm, tại đây hơn 130 ngàn người bị ung thư ruột già và trong số này gần phân nửa sẽ từ trần trong một thời gian ngắn sau khi bệnh được khám phá.

Nếu so với các loại ung thư khác, ung thư ruột già đứng hàng thứ hai về số tử vong hàng năm, sau ung thư phổi. Người ta ước đoán khoảng 6% dân chúng sống tại Hoa Kỳ sẽ bị ung thư ruột già, và 6 triệu người đang sống tại Hoa Kỳ sẽ lìa trần vì bệnh này.

Điều đáng ngại nhất là trong số những bệnh nhân này, tỷ số người á châu càng ngày càng tăng nhanh.

Ruột già dài khoảng 1,2m, được chia thành đại tràng lên (ascending colon), tràng ngang (tranverse colon), tràng xuống (ascending colon), tràng sigma (sigmoid colon) và đoạn cuối cùng (khoảng 15 đến 20 cm) là hậu môn (rectum).

Tuy hậu môn vẫn được xem là một phần của ruột già, ung thư hậu môn có một số cá tính khá đặc biệt.

+ Ung thư ruột già là gì?

Ung thư xảy ra khi một tế bào nào đó trong cơ thể của chúng ta bỗng dưng trở nên “hoang dại”, sinh sôi nẩy nở một cách nhanh chóng vượt khỏi sự kiểm soát chặt chẽ của các nhiễm thể. (Nhiễm thể với tên khoa học là DNA nằm trong nhân của tế bào chứa đựng những đặc tính di truyền của mỗi một cá nhân).

Vì thế, tế bào ung thư sẽ tăng trưởng từ 1 thành 2, 2 thành 4, 4 thành 8, 8 thành 16… một cách rất nhanh và vô trật tự. Nếu đó là tế bào da, ta bị ung thư da; nếu đó là tế bào ruột ta bị ung thư ruột.

Thông thường ung thư ruột phát xuất từ một tế bào nào đó trên màng ruột già. Ban đầu chỉ là bướu nhỏ và từ từ lớn dần như trong hình số 1 và từ đó biến dạng thành ung thư.
Thông thường bướu lớn hơn 2 cm bắt đầu biến dạng thành tế bào ung thư.

Trong một vài trường hợp hiếm hoi hơn, ung thư ruột thành hình một cách trực tiếp mà không qua trạng thái bướu ruột như đà trình bầy ở trên.

Trong trường hợp này tế bào ung thư không mọc lên như những nấm nhỏ mà chỉ “nhô” lên một chút (flat lesions) hay đôi khi bị lõm xuống (depressed lesions), nên rất khó định bệnh.

Ngay cả khi soi ruột già hoặc chụp hình quang tuyến, bệnh có thể không được khám phá trong những thời gian sơ khởi. Đáng kể hơn cả, loại ung thư này có khuynh hướng phát triển nhanh chóng và lan tràn qua những cơ quan khác một cách dễ dàng hơn.

+ Ai có thể bị ung thư ruột?

Nói một cách tổng quát, ung thư ruột già là bệnh của người lớn tuổi. Nguy cơ bị ung thư ruột già tăng nhanh khi tuổi đời bước sang thập niên thứ năm.

Hơn 90% ung thư ruột già được khám phá ở những người 50 tuổi trở lên, cả hai phái nam và nữ đều có thể bị ung thư ruột già. Người ta ước đoán cứ trong 16 người sống ở Hoa Kỳ sẽ có một người bị ung thư ruột già.

Cách đây không lâu, người ta vẫn cho rằng ung thư ruột già là bệnh của người da trắng, sống trong những thành phố kỹ nghệ, ăn nhiều thịt và chất béo hơn rau và trái cây.

Tuy nhiên, theo một thống kê gần đây, tỷ lệ ung thư ruột già của người á châu đã và đang gia tăng một cách đáng ngại, nhất là với những người á châu định cư lâu năm nơi các quốc gia phồn thịnh.

Nếu phân biệt theo từng sắc dân sống trên Hoa Kỳ, người Nhật Bản tại Hawaii có tỷ lệ bị ung thư ruột già cao nhất Hoa Kỳ, người Trung Hoa tại vùng Los Aiigeles có mức tỷ lệ ung thư ruột già gần như tương đương với người Hoa Kỳ da trắng.

+ Những nguy cơ đưa đến ung thư ruột già.

Có lẽ cách thức ăn uống cũng như lối sống của chúng ta đóng một vai trò quan trọng nhất trong sự phát triển của ung thư ruột già.

Người dùng quá nhiều chất béo, thịt, mỡ, thức ăn với nhiều chất Cholesterol sẽ dễ bị ung thư ruột già hơn, nhất là nếu họ lại không ăn chất sơ, rau hoặc trái cây, hoặc quá mập.

Cũng như một số các loại ung thư khác, ung thư ruột già cũng có đặc tính di truyền. Nghĩa là nếu bố mẹ bị ung thư ruột già, con cái cũng có thể dễ bị mắc bệnh.

Điều này rất đúng cho những trường hợp khi vì đặc tính di truyền, bệnh nhân bỗng dưng có trên màng ruột của mình hàng trăm “cục” bướu (polyp). Các bướu này xuất hiện một cách nhanh chóng và biến dạng thành các tế bào ung thư một cách mau lẹ.

Vì đặc tính di truyền (bẩm sinh) của ung thư ruột già, ung thư vú và ung thư tử cung cùng nằm trên một nhiễm thể, người bị ung thư vú hoặc tử cung dễ bị ung thư ruột già hơn, và ngược lại.

+ Triệu chửng của ung thư ruột già.

Như đà trình bày, ung thư ruột già tăng trưởng tương đối chậm chạp, nên đa số bệnh nhân hoàn toàn không có một triệu chứng nào, đến khi ung thư đã phát triển đến giai đoạn trầm trọng, hoặc lan tràn khắp nơi.

Tùy theo vị trí và tùy theo từng loại ung thư, bệnh nhân có thể chỉ bị đau bụng sơ sài, không đáng kể, hoặc bụng chỉ hơi xinh trướng, khó chịu, hoặc đau “tưng tức” sau hoặc trước bữa ăn.

Vấn đề đại tiện có thể trở nên khác thường. Ngày bị bón, ngày đi tiêu chảy. Phân trở nên nhỏ lại, có thể pha với máu.

Ghép tế bào gốc.

– Xạ trị (Radiation therapy): Với một máy phát xạ lớn, các tia phóng xạ được đưa vào các bộ phận có nhiều bạch cầu ung thư tụ tập, như lá nách, não để tiêu diệt chúng.

Tác dụng phụ gồm có: Mệt mỏi, viêm đau nơi da nhận tia xạ.

– Sinh trị liệu (Biological therapy): Còn gọi là miễn dịch trị liệu, sinh trị liệu sử dụng kháng thể để hủy hoại tế bào ung thư.

Kháng thể là những chất đạm đặc biệt được cơ thể sản xuất khi có một vật lạ xâm nhập. Kháng thể này sẽ phát hiện và tiêu diệt các vật lạ đó khi chúng trở lại cơ thể.

Sinh trị liệu được thực hiện qua hai phương thức: Gây miễn dịch để kích thích, huấn luyện hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư cho bệnh nhân dùng các kháng thể đặc biệt được sản xuất trong phòng thí nghiệm để trị ung thư.

– Ghép tế bào gốc (Stem Gell Transplant):

Ghép tủy là lấy tủy xương (thường là ở xương hông) có tế bào gốc của một người cho khỏe mạnh rồi đưa vào người bệnh với mục đích tái tạo tế bào máu và hệ thống miễn dịch.

Tế bào gốc từ máu, cuống rốn thai nhi và nhau thai cũng được dùng để điều trị một vài loại ung thư máu.

Trong bệnh ung thư bạch cầu, tế bào gốc của tủy trở thành bệnh hoạn, sản xuất ra quá nhiều bạch cầu non yếu nhưng độc ác, gây trở ngại cho sự tăng sinh của tế bào bình thường ở máu.

Chúng cũng xâm nhập vào các bộ phận khác của cơ thể và gây nhiều rối loạn khác. Để tiêu hủy các tế bào bất thường này, cần dùng một số lượng khá lớn hóa chất hoặc phóng xạ.

Các chất này cũng tác hại lên các tế bào lành mạnh trong máu và tủy.

Ghép tủy không hoàn toàn bảo đảm tránh được sự tái phát của ung thư nhưng có thể tăng khả năng trị bệnh và kéo dài đời sống người bệnh.

+ Phòng ngừa.

Một số bệnh ung thư có thể phòng ngừa bằng cách giảm thiểu tiếp xúc với rủi ro gây ung thư (như tránh khói thuốc lá) bằng nếp sống lành mạnh (không hút thuốc lá, uống nhiều rượu), bằng dinh dưỡng đầy đủ hợp lý. Riêng với ung thư bạch cầu thì không có các rủi ro rõ rệt để phòng tránh.

Vì vậy người thường xuyên tiếp xúc với phóng xạ, hóa chất độc mà có những dấu hiệu bệnh bất thường đều nên đi kiểm tra sức khỏe theo định kỳ để sớm khám phá ra bệnh.

+ Ghép tế bào gốc.

Vào giữa thế kỷ thứ 19, các khoa học gia người Italia đã gợi ý rằng tủy xương là nguồn gốc của tế báo máu nhờ có một hóa chất nào đó trong tủy.

Tới đầu thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu chứng minh là một số tế bào ở tủy tạo ra tế bào máu. Họ gọi các tế bào này là tế bào gốc-stem cells. Kết quả nhiều nghiên cứu kế tiếp đã xác định dữ kiện này.

Tế bào gốc có trong tủy xương và máu. Tủy là lớp mô bào xốp nằm giữa các khoảng trống của xương, ở trẻ sơ sinh, tất cả xương đều có tủy hoạt động mạnh.

Tới tuổi trưởng thành, tủy ở xương tay chân ngưng hoạt động trong khi đó tủy ở các xương sọ, hông, sườn, ức, cột sống vẫn tiếp tục sản xuất tế bào gốc.

Vì máu và tủy đều chứa nhiều tế bào gốc cho nên có nhiều đề nghị các chữ ghép tế bào gốc – stem cells transplantation để thay thế cho ghép tủy xương – bone marroiv transplantation.

Đặc tính của các tế bào gốc là có thể tự sinh ra tế bào khác y hệt như mình và tạo ra các tế bào trưởng thành như hồng cầu, bạch huyết cầu, tiểu cầu.

Ngoài tủy xương, tế bào gốc còn có trong dòng máu lưu thông hoặc máu từ cuống rốn thai nhi, nhau thai ở tủy xương, cứ khoảng 100.000 tế bào máu thì có một tế bào gốc, trong khi đó số lượng tế bào gốc ở máu chỉ bằng 1/100 ở tủy.

Khái niệm ghép tủy để trị bệnh được khảo sát một cách khoa học vào cuối thế chiến II khi có nhiều nạn nhân bị hoại tủy do tiếp cận với phóng xạ, đặc biệt là sau vụ nổ bom nguyên tử ở Nhật Bản.

Kỹ thuật ghép tủy xương được thực hiện thành công vào năm 1968 để điều trị các bệnh ung thư bạch cầu, thiếu máu vô sinh (aplastic anemia), u ác tính, các hạch bạch huyết như bệnh Hodgkin, rối loạn miễn dịch và vài loại u như ung thư noãn sào, vú.

Trong ghép tủy, các tế bào bệnh hoạn của tủy bị tiêu diệt và tế bào gốc lành mạnh được truyền vào máu, tập trung vào ổ xương và bắt đầu sinh ra tế bào máu bình thường cũng như thiết lập một hệ miễn dịch mới.

Ghép tế bào gốc cứu sống nhiều người và chỉ thực hiện được khi có người cho thích hợp. Điều này không dễ dàng, vì để phương thức thành công, tế bào đôi bên phải hầu như 100% tương xứng. Chỉ dưới 30% bệnh nhân cần ghép tế bào mầm có thể tìm được tương xứng ở thân nhân người bệnh.

Nếu người nhận và người cho là sinh đôi đồng nhất (identical twins), do một trứng được thụ tinh rồi phân chia tạo ra hai thai nhi, thì mọi sự êm đẹp, không có phản ứng khước từ (reject).

Ngược lại khi người cho và người nhận không là sinh đôi đồng nhất thì cần phải tìm một người cho có loại tế bào gần tương tự như tế bào người nhận. Đây là việc làm khá khó khăn, tốn nhiều thời gian để có đối tác tương ứng.

Nhu cầu của bệnh nhân cần được ghép tế bào gốc rất cao mà kiếm được hai loại tế bào tương xứng giữa người cho và ngưòi nhận rất khó khăn.

Vì thế nhiều tổ chức bất vụ lợi quốc tế đã đứng ra để ghi danh những vị tình nguyện hiến tủy hoặc tế bào mầm trong máu.

Mỗi vị ghi danh là một niềm hy vọng cho những bệnh nhân khao khát chờ đợi được cứu sống. Hiện nay danh sách có khoảng hơn 10 triệu người trên thế giối sẵn sàng dâng hiến.

Hiện tủy được thực hiện tại cơ sở y tế với đầy đủ phương tiện, sau nhiều sửa soạn chu đáo cho nên rất an toàn. Mọi người từ 18 tới 60 tuổi, có sức khỏe tốt và hội đủ một số tiêu chuẩn y tế đều có thể ghi danh.

Ung thư bạch cầu.

Bạch cầu là một trong ba loại tế bào của máu: Hồng cầu, bạch cầu và tiểu bào. Hồng cầu chứa huyết cầu tố, mang dưỡng khí nuôi các cơ quan bộ phận. Bạch cầu có nhiệm vụ chống lại các chất lạ như vi sinh vật, hóa chất xâm nhập cơ thể và tạo ra kháng thể.

Tiểu cầu giúp máu đông cục, tránh xuất huyết ở vết thương. Tế bào máu được tạo ra từ các tế bào gốc đa hiệu (pluripotent stem cells) ở tủy xương. Nơi đây, tế bào máu lớn lên cho đến khi trưởng thành thì chuyển sang dòng máu.

Bình thường, các tế bào này tăng sinh theo nhu cầu của cơ thể. Khi già yếu, chúng tự hủy và được thay thế bằng những tế bào mới trẻ trung, nhiều sinh lực.

Phần dung dịch lỏng của máu là huyết tương, có các hóa chất hòa tan như đạm tùy theo tốc độ tiến triển tình trạng nặng nhẹ của bệnh. Trường hợp cấp tính, xuất hiện nhiều tế bào máu chưa trưởng thành và vô dụng ở tủy xương và máu.

Bệnh nhân bị thiếu máu vì hồng cầu thấp; dễ xuất huyết vì thiếu tiểu cầu; dễ mắc bệnh viêm nhiễm vì khả năng tự vệ giảm.

Do đó bệnh trở nên trầm trọng rất nhanh. Trong mãn tính, dấu hiệu xảy ra hormone, khoáng, vitamins, kháng thể.

Ung thư bạch cầu (thường được gọi là ung thư máu) là bệnh trong đó tủy và hệ bạch huyết bị rối loạn và tạo ra những bạch cầu ác tính.

Chúng tăng sinh ngoài tầm kiểm soát và nhu cầu của cơ thể, lấn át các tế bào khác trong máu khiến cho máu không hoàn thành được các nhiệm vụ thường lệ.

Bệnh có cả ở súc vật như mèo, lợn, trâu bò và dĩ nhiên ở cả người. Với người, bệnh xuất hiện ở bất cứ tuổi nào. Nam giới bị ung thư máu nhiều hơn nữ giới.

Ung thư có thể là mãn tính hoặc cấp tính, chậm hơn, bệnh nhân có đủ thời gian tạo ra tế bào máu trưởng thành nhưng có thể chuyển sang tình trạng cấp tính.

Ung thư bạch cầu mãn tính nhiều hơn cấp tính và thường thấy ở người ngoài 67 tuổi. Trẻ em dưới 19 tuổi thường hay bị ưng thư máu cấp tính lympho bào.

Ung thư cũng được chia loại tùy theo bạch cầu hiểm ác được tạo ra từ hệ bạch huyết hoặc từ tủy xương.

+ Nguyên nhân.

Nguyên nhân đích thực của bệnh chưa được biết rõ, nhưng một số rủi ro có thể gây ra bệnh đó là:

– Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ, như trường hợp các nạn nhân của bom nguyên tử mà Hoa Kỳ đã thả xuống Nhật Bản vào cuối thế chiến thứ II, vụ tai nạn nổ lò nguyên tử Chernobyl (Ukraine) năm 1986 hoặc ở bệnh nhân tiếp nhận xạ trị…

– Bệnh nhân ung thư được điều trị bằng dược phẩm.

– Làm việc trong môi trường có nhiều hóa chất như benzene, formaldehyde.

Một số bệnh do thay đổi gene như hội chứng down, do virus hoặc vài bệnh về máu.

+ Dấu hiệu.

Dấu hiệu của bệnh thay đổi tùy theo số lượng bạch cầu trong máu và tùy theo nơi mà các bạch cầu ác tính tụ tập. Các dấu hiệu này cũng không tiêu biểu cho ung thư bạch cầu.

Sau đây là các dấu hiệu thường thấy:

– Nóng sốt, đổ mồ hôi ban đêm,

– Dấu hiệu thần kinh như nhức đầu,

– Mệt mỏi, suy yếu, xuống cân,

– Dễ mắc các bệnh truyền nhiễm với khả năng miễn dịch suy yếu,

– Xuất huyết dễ dàng vì thiếu tiểu cầu,

– Sưng và chảy máu nướu răng, da dễ bị bầm tím,

– Đau nhức xương, khớp,

– Bụng chướng, gan, lách sưng, đau vì chứa nhiều bạch cầu ung thư,

– Nổi hạch ở cổ, nách.

Nếu không được điều trị, ung thư cấp tính đưa tới tử vong rất mau. Ung thư mãn tính có thể không có dấu hiệu, khó chẩn đoán, dễ tử vong vì bội nhiễm các loại vi khuẩn.

Đôi khi bệnh được khám phá tình cờ trong khi khám sức khỏe tổng quát.

+ Chẩn đoán bệnh.

Để xác định bệnh, bác sĩ sẽ thực hiện các bước như sau:

– Khám tổng quát cơ thể, tìm coi gan, lách, hạch có sưng;

– Thử nghiệm đếm số tế bào máu và số lượng huyết cầu tố, các chức năng của gan, thận;

– Xét nghiệm tế bào tủy xương và nước tủy;

– Chụp hình X-quang cơ thể.

+ Điều trị.

Bệnh cần được các bác sĩ chuyên môn nhiều ngành như huyết học, u bướu, hóa, xạ trị chăm sóc, điều trị. Mục đích điều trị là đưa bệnh tới tình trạng không còn triệu chứng, bệnh nhân bình phục với tế bào máu và tủy xương lành mạnh như trước.

Phương thức điều trị tùy thuộc vào một số yếu tố như loại ung thư, giai đoạn bệnh, tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

+ Các phương pháp trị liệu gồm có:

– Hóa trị (Chemotherapy): Hóa trị dùng các dược phẩm khác nhau bằng cách uống, chích vào tĩnh mạch hoặc vào tủy xương để tiêu diệt tế bào ung thư.

Hóa trị rất công hiệu và được áp dụng cho đa số bệnh nhân. Có nhiều loại thuốc và người bệnh có thể chỉ uống một thứ hoặc phối hợp hai ba thuốc.

Tuy nhiên, hóa trị cũng ảnh hưởng tới các tế bào bình thường và gây ra một số tác dụng phụ như rụng tóc, lở môi miệng, nôn mửa, tiêu chảy, ăn mất ngon, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn sinh sản.

Triệu chứng của nhồi máu cơ tim.

+ Triệu chứng của nhồi máu cơ tim.

– Triệu chứng điển hình và thường gặp nhất là cơn đau thắt ngực, có thể trước ngực sau xương ức.

– Đau ngực trái với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ỏ giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5- 30 phút (kéo dài hơn hẳn so với cơn đau thắt ngực ổn định thông thường), thường không quá 1 giờ. Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm hoặc lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái.

– Có thể có kèm vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt hoặc khó thở.

– Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại biểu hiện như một tình trạng rối loạn tiêu hoá.

Hoặc chẳng hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng), hoặc lại hết sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng rối loạn nhịp, ngừng tim hay đột tử…

+ Chẩn đoán.

Chẩn đoán nhồi máu cơ tim dựa vào đặc điểm cơn đau thắt ngực, các biến đổi trên điện tâm đồ, các thay đổi về nồng độ men tim, siêu âm tim, nghiệm pháp gắng sức, xạ hình tưới máu cơ tim chụp động mạch vành bằng thuốc cản quang…để chẩn đoán không phải trường hợp nào cũng có thể dễ dàng chẩn đoán nhồi máu cơ tim ngay lúc nhập viện.

+ Biến chứng nguy hiểm.

– Nặng nề nhất và không hiếm xảy ra, đó là tử vong.

– Những biến chứng khác: rối loạn nhịp trầm trọng, suy tim tiến triển, sốc tim và ngừng tim…

– Một vài trường hợp, vùng cơ tim bị hoại tử lớn, gây thủng buồng tim (vỡ tim) có thể gây tử vong hoặc đòi hỏi phải phẫu thuật cấp cứu.

+ Xử trí tại nhà.

Khi có cơn đau ngực như mô tả, bạn nên ngưng ngay hoạt động, gọi điện thoại cho thân nhân, nằm nghỉ, có thể sử dụng nitroglycerine ngậm dưới lưỡi (nếu đã được bác sĩ khuyến cáo trước đó).

Nếu cơn đau vẫn không giảm, đặc biệt sau khi ngậm Nitroglycerine dưới lưỡi, cần vào bệnh viện hoặc cơ sở chuyên khoa để theo dõi ít nhất 12-24 giờ nhằm loại trừ hoặc xác định chẩn đoán.

+ Những xử trí nào được thực hiện tại bệnh viện.

Sau khi vào viện, bác sĩ đo huyết áp và thăm khám cho bạn, các xét nghiệm cần thiết sẽ thực hiện khẩn trương . Nếu chẩn đoán được xác minh là có nhồi máu cơ tim, người bệnh sẽ được chăm sóc chặt chẽ hơn tại giường.

+ Điều trị.

Nhồi máu cơ tim là một tình trạng cấp cứu. Nguyên tắc chung là tái lập dòng máu chảy trong đoạn động mạch vành bị tắc càng sớm càng tốt để cứu vãn tối đa phần cơ tim thoi thóp do thiếu máu nuôi dưỡng nằm xen lẫn với những vùng cơ tim đã chết vì hoại tử do thiếu máu.

Dòng chảy động mạch vành chỉ được khôi phục khi loại bỏ được cục máu đông bằng thuốc tiêu cục máu đông hoặc sử dụng các biện pháp can thiệp qua da như nong bắng bóng và hoặc đặt giá đỡ trong lòng động mạch vành (chụp và can thiệp động mạch vành) kết hợp với việc hút bỏ cục máu đông… Chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ cục máu đông tự tan còn đa số phải được can thiệp.

Tuy nhiên hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc rất nhiều vào thời gian áp dụng điều trị:

+ Thuốc tiêu cục máu đông thực sự có lợi khi được dùng trong vòng từ 2 đến 4 giờ kể từ lúc khởi phát.

+ Can thiệp động mạch vành qua da cũng chỉ có lợi rõ rệt khi được tiến hành trong vòng 12-18 giờ kể từ lúc khởi phát.

+ Một tỷ lệ nhất định các trường hợp tới muộn mà các phương pháp trên không phù hợp thì mô bắc cầu nối chủ vành cấp cứu là biện pháp cuối cùng cứu sống bệnh nhân dù tỷ lệ thành công ở giai đoạn cấp không phải là cao.

Đối với những bệnh nhân không được can thiệp thì điều trị nội khoa không hề vô tác dụng mà ngược lại, không ít bệnh nhân vẫn duy trì được chất lượng và thời gian sống.

Sau khi sống sót và phục hồi một phần qua giai đoạn cấp, bệnh nhân sẽ có chương trình phục hồi chức năng phù hợp, điều chỉnh lối sống và chế độ dự phòng cũng như điều trị và theo dõi lâu dài.

+ Phòng ngừa.

Điều chỉnh lối sống thích hợp làm giảm nguy cơ xơ vữa động mạch nói chung và nguy cơ nhồi máu cơ tim nói riêng bao gồm:

– Bỏ hoàn toàn hút thuốc lá.

– Ăn ít chất béo (trứng, bơ, mỡ, phômai, da, nội tạng động vật), ăn thêm hoa quả.

– Giảm cân nặng nếu thừa cân, kiểm soát chặt chẽ huyết áp và đường máu trong giới hạn cho phép.

– Thể dục đều đặn mỗi ngày.

Nhiều thử nghiệm có quy mô rất lớn ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy việc dùng các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (aspirin liều thấp…) và các thuốc hạ mỡ máu nhóm statin có hiệu quả tương đối rõ đối với phòng ngừa xuất hiện các biến cố tim mạch (không những nhồi máu cơ tim mà cả tai biến mạch não..).

Ngoài ra theo dõi sát, điều chỉnh kịp thời, phát hiện từ sớm và xử trí triệt để cơn đau thắt ngực cũng có vai trò hết sức quan trọng để hạn chế và phòng ngừa xuất hiện nhồi máu cơ tim.

Nhồi máu cơ tim chỉ là một biến cố, biểu hiện cấp tính của cả một quá trình bệnh lý xơ vữa tiến triển âm ỉ tiềm tàng. Các biện pháp điều trị trong giai đoạn cấp cũng chỉ giải quyết được hậu quả của đoạn động mạch thủ phạm tức thời ngay lúc đó mà thôi.

Về lâu về dài, điều trị nội khoa bằng thuốc kết hợp với những biện pháp dự phòng khác vẫn là nền tảng cơ bản trong điều trị.

Việc can thiệp động mạch vành qua da, mổ bắc cầu chủ vành có thể được tiến hành nhiều lần về sau để tiếp tục giải quyết những chỗ hẹp khác còn tồn đọng hoặc xuất hiện mới theo thời gian.

Nhồi máu cơ tim.

+ Phương pháp điều trị.

Hiện chưa có cách điều trị hiệu quả, chỉ có một số thuốc làm kéo dài thời gian sống như D- penicillamin (Trolovol), thuổc chẹn canxi và ức chế men chuyển.

– Điều trị vật lý làm mềm da, phục hồi chức năng vận động, đặc biệt là điều trị suối khoáng.

– Điều trị hội chứng Raynaud bằng thuốc chọn canxi như nifedipin, diltiazem…

Trong trường hợp bị trào ngược thức ăn từ dạ dày lên thực quản, nhiễm khuẩn tiêu hóa hay kém hấp thụ thức ăn, nên dùng các thuốc chống axit như Cimetidin, Ranitiđin, Famotidin, Onieprasol, kết hợp với kháng sinh phổ rộng Telracylin.

Nếu không có tác dụng thì chuyển sang các kháng sinh khác như Erythromycin, Metronidazol.

– Đối với tổn thương khớp, nên dùng các thuốc chống viêm không steroid, vật lý trị liệu, tiêm tại khớp bị hủy hoại nhiều như khớp gối và háng.

Dùng Prednisolon 5 mg/ngày, uống cách ngày, giúp cải thiện toàn trạng và đau khớp.

– Với tổn thương thận, đa số bệnh nhân có tăng renin nên dùng các thuốc ức chế men chuyển có tác dụng bình ổn và bảo tồn chức năng thận như captopril enalaprin, lisinopril, peridopril.

– Với tổn thương tim, cần theo dõi cẩn thận việc dùng trợ tim và thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế canxi.

+ Các biện pháp phòng tránh:

– Phát hiện sớm triệu chứng bệnh, đặc biệt ở những gia đình có tiền sử bệnh, hoặc người làm việc trong môi trường độc hại.

– Tránh hội chứng Raynauđ bằng cách mặc ấm, đi găng tay, tất chân trong mùa lạnh, tránh stress. Không dùng thuốc như amphetamin, ergotamin, chẹn beta giao cảm.

– Dùng một số biện pháp hỗ trợ tâm lý như thư giãn, tự luyện tập, tự làm tăng nhiệt độ da bằng cơ chế điều hòa ngược.

– Tránh tổn thương da bằng cách hạn chế tiếp xúc với xà phòng và bôi thuốc mỡ. Tập thể dục thường xuyên để duy trì độ mềm dẻo của chi, ngón và độ nhạy cảm của da.

Xoa bóp da vài lần mỗi ngày. Tránh tổn thương da, gây loét.

Đề phòng trào ngược thực quản, cần ăn nhiều bữa nhỏ, uống thuốc chống axit giữa các bữa ăn. Kê đầu cao khi nằm, tránh ăn đêm và không nằm ngay sau khi ăn.

Tránh cà phê, chè, chocolate, do các chất này gây giảm cơ lực cơ tròn ở vùng thấp của thực quản.

4. NHỒI MÁU CƠ TIM

+ Nguyên nhân.

Đa số trường hợp, nguyên nhân gây ra nhồi máu cơ tim là do sự lấp tắc một trong số các động mạch vành nuôi tim, do cục máu đông hình thành trong mạch vành khi mảng xơ vữa bị vỡ ra.

Một số ít trường hợp, nhồi máu cơ tim có thể do co thắt động mạch vành, chấn thương, thiếu máu nặng nề, cấp tính…

+ Tần suất mắc bệnh.

Nhồi máu cơ tim là một nguyên nhân tử vong và bệnh tật hàng đầu ở Hoa Kỳ. Khoảng 1.3 triệu ca nhồi máu cơ tim không tử vong được ghi nhận hàng năm, với tỉ lệ là 600 ca/100.000 dân.

Trên thế giới, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong của 12 000 000 người mỗi năm, trong đó, nhồi máu cơ tim vẫn là vấn đề phổ biến ở các nước phát triển và ngày càng trở nên phổ biến hơn ở các nước đang phát triển.

+ Đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh là ai ?

– Tỷ lệ mắc nhồi máu cơ tim cao nhất ở nam giới tuổi trên 40 (trung nhiên và cao tuổi).

– Nữ giới sau tuổi mãn kinh. Gần một nửa các trường hợp là gặp ở độ tuổi dưới ngưỡng 60-65.

– Nhồi máu cơ tim gặp với tỷ lệ cao hơn đáng kể ở những người hút thuốc lá, béo phì, rôì loạn mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường.

– Tiền sử gia đình có người mắc bệnh tim mạch sớm trước tuổi 60.

Tuy nhiên không ít các trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra ngay cả ở người trẻ hoặc người không hề có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào.