Nguyên nhân do nhiễm Escherichia Coli, Samonella, Shigella, ampylo-bacter, Rotavirus.

+ Nguyên nhân do nhiễm Escherichia Coli.

Đây là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy trên người và gia súc. K.Coli được xem là vi khuẩn chỉ danh ô nhiễm thực phẩm và nước được đánh giá dựa trên số lượng của chúng.

Với các chủng E.Coli thông thường, có thể dùng bactrim, berberin. Trường hợp E.Coli đã kháng thuốc phải dùng đến fluoroquinolon. Với trường hợp E.Coli sinh độc tố thì không dùng kháng sinh vì chúng làm tăng sự phóng thích độc tố, gây chứng tán huyết, urê huyết cao.

+ Nguyên nhân do nhiễm Samonella:

Salmonella theo thức ăn vào đường tiêu hóa và phát triển ở đó, một số khác đi vào hệ bạch huyết và tuần hoàn gây nhiễm trùng huyết.

Nhưng vì Salmonella là vi khuẩn ưa môi trường ruột nên lại nhanh chóng trở về ruột gây viêm ruột. Nội độc tố sẽ được thoát ra khi vi khuẩn bị phân hủy trong máu cũng như ở ruột, gây nhiễm độc cấp với hội chứng rối loạn tiêu hóa khá nặng nề, nhưng chỉ sau 1-2 ngày bệnh nhân nhanh chóng trở lại bình thường không để lại di chứng, ở người già yếu và trẻ nhỏ có thể nặng hơn, đôi khi có tử vong.

Các chủng Samonella thông thường (gọi .chung là s.non-typhi) hay bị nhiễm vào thức ăn. Chỉ khi nhiễm một lượng lớn, sinh ra đủ độc tố, mới gây nhiễm độc. Biểu hiện thường dữ dội (đau quặn bụng, đi ngoài nhiều lần, sốt).

Nhưng khi tách khỏi nguồn lây (thức ăn) thì bệnh không nặng thêm. Chỉ cần dùng thuốc chữa triệu chứng.Với người khỏe mạnh, không cần thiết dùng kháng sinh. Với trẻ nhỏ, người già nếu cần thì dùng bactrim, nếu bị kháng thì dùng fluoroquinolon.

Riêng trường hợp nhiễm Salmonella enterica tỵphi (chủng thương hàn) cần phải dùng kháng sinh đặc hiệu chữa dứt điểm, cắt đứt nguồn lây (tiệt khuẩn các bệnh phẩm), nếu không, sẽ phát thành dịch, ở một số vùng (xa xôi, ít dùng kháng sinh, chưa bao giờ có dịch thương hàn) có thể dùng một trong các kháng sinh chloramphenicol, bactrim, amoxicillin.

Ở hầu hết các vùng khác (thành thị, đồng bằng, dùng nhiều kháng sinh, đã từng có dịch thương hàn), vi khuẩn kháng hầu hết các thuốc trên “gọi là chủng thương hàn đa kháng”, phải dùng kháng sinh fluoroquinolon (thí dụ như ofloxacin).

Kháng sinh diệt vi khuẩn làm chúng phân giải ra nhiều độc tố gây trụy tim mạch, nên không tấn công bằng liều cao ngay ngày đầu, chỉ dùng liều bằng 2/3 liều điều trị thông thường, rồi tăng lên ở các ngày tiếp theo cho đến khi đạt yêu cầu giảm sốt và duy trì liều ấy (xấp xỉ liều điều trị thông thường).

Sau khi dùng một đợt, bệnh khỏi, tuy nhiên có một số ít người bệnh tuy không còn triệu chứng lâm sàng nhưng xét nghiệm phân vẫn còn vi khuẩn. Cần dùng đợt khác kịp thời để chữa dứt điểm.

+ Nguyên nhân do nhiễm Shigella

Triệu chứng: Tiêu chảy, sốt, đau bụng; có khi là nhẹ hoặc không có triệu chứng, nhiều trường hợp bị bệnh không được phát hiện.

Bệnh lây lan và những người bị nhiễm Shigella có thể phát tán vi khuẩn qua phân của họ sang người khác, ruồi nhặng có thể gây ra sự lây nhiễm Shigella từ phân vào thực phẩm và nếu thực phẩm này được sử dụng cho nhiều người, Shigella theo đó sẽ lấy lan rất nhanh chóng.

Một nguồn lây nhiễm Shigella khác là rau quả đà bị nhiễm khuẩn khi thu hoạch từ những cánh đồng được tưới bón bằng phân tươi. Shigelia cũng có thể lây nhiễm do uống và bơi lội trong nước bị nhiễm Shigella do chất thải chưa qua xử lý.

Vệ sinh kém và không có thói quen rửa tay sau khi đi vệ sinh là yếu tố phổ biến nhất làm tăng khả năng truyền nhiễm của Shigella. Có thể dùng bactrim, negram (acid nalixidic), berberin. Trường hợp bị kháng mới dùng fluoroquinolon.

+ Nguyên nhân do nhiễm campylo-bacter.

Vi khuẩn campylobacter thâm nhập vào đường nội bào, là con đường mà các tế bào sử dụng để tái tạo lại các phân tử từ bề mặt của chúng.

Sau đó, nó nhanh chóng chuyển hướng và tạo ra một mạng lưới nội bào riêng gồm các không bào chứa đầy vi khuẩn campylobacter, hay còn gọi là các túi tế bào, các túi này sẽ tiến dần đến nhân, và cuối cùng khu trú gần bộ Golgi – trung tâm vận chuyển của tế bào.

Nhiễm bệnh thường do ăn thịt gia cầm chưa nấu chín. Với người còn khả năng miễn dịch, dùng erythromycin nhưng phải sau -1 ngày triệu chứng mới giảm. Nếu erythrormycin bị kháng, phải chuyển dùng fluoroquinolon.

+ Nguyên nhân do nhiễm Rotavirus.

Thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Virus gây nên bệnh tiêu chảy do làm giảm hấp thu ở biểu mô ruột do virus và do tác động của độc tố ruột của virus (NSP4).

Những tác động trên biểu mô ruột chủ yếu thông qua cơ chế rối loạn điều hòa hằng định nội môi của Ca2+ trong tế bào biểu mô ruột. Cơ chế tăng tiết của tiêu chảy do rotavirus đường như là hậu quả của sự kích thích hệ thống thần kinh ruột.

Bệnh có thể phát thành dịch nhưng không nguy hiểm. Hiện không có thuốc đặc hiệu nên chỉ cần dùng thuốc chữa triệu chứng.

 

 

 

Bệnh trĩ và bệnh tiêu chảy.

1. BỆNH TRĨ

+ Nguyên nhân và triệu chứng.

Bệnh trĩ (haemorrhoids hemorroiđes) được tạo thành do giãn quá mức các đám rối tĩnh mạch tri. Bệnh trĩ rất thường gặp, nhất là ở những người lớn tuổi.

Thống kê ở nước ngoài cho thấy tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở những người trên 50 tuổi là 50%.

Bệnh trĩ thường gặp ở những người đứng nhiều, ngồi nhiều, ít đi lại, táo bón kinh niên, hội chứng lỵ, các nguyên nhân tăng áp lực ổ bụng (viêm phế quản mãn gây ho nhiều, suy tim, xơ gan), những u bướu vùng hậu môn trực tràng cũng là nguyên nhân của trĩ.

Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất của bệnh trĩ. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, vài tia máu rất nhỏ dính vào thỏi phân rắn, máu chỉ có khi táo bón, khi đại tiện phải rặn. Về sau chảy máu thường xuyên hơn và lượng máu cũng nhiều hơn.

Khi búi trĩ lớn hoặc trương lực cơ vòng hậu môn yếu thì búi trĩ sa ra ngoài, tùy thuộc vào mức độ sa của búi trĩ để chia độ nặng nhẹ. Bệnh trĩ thường không gây đau, khi có biến chứng tắc mạch, sa nghẹt, hoặc tổn thương gây nứt hậu môn đi kèm thì gây đau.

+ Chẩn đoán và diều trị.

Để chẩn đoán bệnh trĩ, ngoài các dấu hiệu trên, soi hậu môn đại trực tràng là bắt buộc giúp xác định chẩn đoán và loại trừ những bệnh lý u đại trực tràng.

Ngày nay có rất nhiều phương pháp điều trị bệnh trĩ: nhẹ thì điều trị bằng thuốc và cải thiện chế độ ăn uống, nặng thì can thiệp bằng phẫu thuật.

2. BỆNH TIÊU CHẢY

+ Nguyên nhân gảy bệnh.

Tiêu chảy là một bệnh của hệ tiêu hóa. Trong dân gian có vùng gọi là “thác dạ” hoặc “tháo dạ”. Các triệu chứng điển hình là đi ngoài trên 3 lần mỗi ngày, phân có nước dính, có hoặc không lẫn máu.

Tác nhân gây bệnh có nhiều nhưng chủ yếu là nhiễm khuẩn, nhiễm virus do ăn uống không vệ sinh, ăn phải đồ thiu, mốc, đồ ăn nhiễm khuẩn, virus hoặc ăn nhiều đồ ăn sống, nấu không kỹ.

Nếu bệnh phát nhanh và khỏi trong vòng 14 ngày thì gọi là tiêu chảy cấp còn kéo dài hơn là tiêu chảy mạn tính.

+ Chẩn đoán và điều trị.

– Bù nước vả chất điện giải.

Tiêu chảy là một trong những bệnh tuy không khó chữa nhưng lại là bệnh nguy hiểm do làm mất nước, rối loạn điện giải trong cơ thể dẫn đến suy kiệt, trụy tim mạch và tử vong.

Vì thế, trong điều trị tiêu chảy, việc bù nước, chất điện giải được coi trọng hàng đầu. Khi bị bệnh tiêu chảy, hệ nhung mao trong niêm mạc ruột tăng tiết khiến lượng nước và chất dinh dưỡng không được hấp thu.

Mặt khác, nhu động ruột lại tăng lên vì thế khiến ngưòi bệnh thường đau bụng, tăng số lần đi ngoài, tăng lượng phân và nước theo phân.

Tuy nhiên, hệ niêm mạc này lại vẫn có khả năng hấp thu nước nên việc bổ sung nước và chất điện giải vẫn có tác dụng rất tốt. Mặt khác, lúc bị bệnh, bệnh nhân thường khát nên thuận lợi cho việc bổ sung nước.

Các dung dịch bù nước thông dụng là ORS (hay Oresol), viên Hydrite, dung dịch muối đường… Pha dung dịch bù nước đúng giúp người bộnh mau hồi phục và giảm thiểu sụt cân lúc tiêu chảy. Mỗi gói ORS pha với 1 lít nước chín để nguội (không nên pha nửa gói ORS với nửa lít nước).

Mỗi viên Hyđrite pha với 200ml nước. Dung dịch muối đường pha từ 1 lít nước với 1 muỗng cà phê muối gạt ngang và 8 muỗng cà phê đường gạt ngang. Dung dịch bù nước pha quá 12 giờ phải bỏ đi và pha lại dung dịch mới.

Trường hợp mất nước, chất điện giải nhiều phải dùng dung dịch tiêm truyền natriclorua 0,9% hay dung dịch ringer lactat. Việc bù nước cần phải đủ lượng và kịp thời. Nếu bù nước chậm, hiệu quả sẽ kém, thậm chí gây tử vong.

Nhưng cũng không truyền thừa, truyền quá nhanh, vì sẽ gây rối loạn do thừa hay gây sốc. Phải truyền trong điều kiện nhà cửa, phương tiện bảo đảm, có nhân viên chuyên môn theo dõi, chuẩn bị sẵn phương tiện và thuốc chống sốc.

Theo quan niệm của một số nhà y học, tiêu chảy thực chất là một phản ứng tích cực của cơ thể trước tấn công của các tác nhân gây bệnh xâm nhập qua đường tiêu hóa.

Vì thế, theo họ việc cần thiết là bù nước và điện giải, ngoài ra không cần dùng bất kể loại thuốc nào khác. Việc sử dụng các thuốc “cầm di ngoài” sẽ ngăn cản quá trình đào thải tự nhiên này của cơ thể dẫn đến bệnh lâu khỏi.

+ Thuốc điều trị.

Cũng phải thừa nhận vai trò của việc sử dụng kháng sinh trong điều trị các trường hợp đã được xác định có nguyên nhân do nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, sử dụng kháng sinh nào, liều lượng ra sao phải căn cứ vào việc xác định chính xác các vi khuẩn gây bệnh.

 

 

 

Yếu sinh lý.

+ Yếu sinh lý.

Yếu sinh lý (YSL) là hiện tượng người đàn ông không thực hiện được chức năng làm chồng của mình trong phòng the.

Ở những ngưòi bị YSL, tỷ lệ thành công trong những lần ân ái là rất thấp. Xuất tinh sớm là một trong bốn tình trạng của bệnh bất lực.

Nếu số lần sinh hoạt tình dục mà người đàn ông không kéo dài đủ thời gian để cho bạn tình thỏa mãn thì gọi là xuất tinh sớm.

Ngoài ra còn được đánh giá bằng thời gian giao hợp (từ khi giao hợp tới khi xuất tinh), trung bình 4-7 phút, nếu sớm hơn bốn phút xem như xuất tinh sớm.

Liệt dương hay còn gọi là bất lực hay YSL là tình trạng không có khả năng cương cứng, chuyện sinh hoạt vợ chồng giảm đi rõ rệt, ước muốn giao hợp tăng nhưng hành động giao hợp thì không thực hiện được, không làm thỏa mãn được bạn tình.

Rối loạn cương (RLC) chiếm 52% tổng các bệnh lý liên quan, trong đó 10% là bất lực hoàn toàn, 25% RLC mức trung bình, 17% ở mức nhẹ.

Suy giảm ham muốn tình dục là một bệnh lý khác với các bệnh lý trên thường có liên quan nhiều đến căng thẳng thần kinh (stress).

+ Nguyên nhân gây YSL

Ở tuổi sau 40, con người có những thay đổi quan trọng về mặt sinh học, bắt đầu có những mầm mống bệnh tật xuất hiện, các bệnh mạn tính do uống rượu, hút thuốc, ăn chơi quá đà thời tuổi trẻ bắt đầu lộ ra, như bệnh tim mạch, thừa chất béo, cholesterol, cao huyết áp, tiểu đường, thấp khớp, phì đại tuyến tiền liệt…

Đồng hành với nó là những rắc rối trong sinh hoạt và ham muốn giảm rõ rệt, dẫn tới trạng thái lãnh cảm, thờ ơ với “chuyện ấy” hoặc chỉ thực hiện theo “nghĩa vụ”.

Ở nam giới lứa tuổi này, các tế bào tinh hoàn bắt đầu thoái hóa, thay bằng các sợi collagen; lượng testosterone giảm dần, ham muốn tình dục giảm theo, nhịp độ giao hợp thưa ra, các cơ trơn trong các thể bao quanh các mạch máu trong dương vật dưới tác dụng của adrenalin và do hệ giao cảm co thắt thường xuyên hơn khiến kích thước dương vặt như thun lại, rất lâu mới cương lên được, xuất tinh sớm hơn, chất lượng của sinh hoạt tình dục giảm…

Những hiện tượng trên xuất phát từ các nguyên nhân:

Do thần kinh căng thẳng, làm việc quá sức dẫn đến stress. Trong thời đại công nghiệp hiện nay, công việc nhiều, phức tạp đòi hỏi làm hao tổn sức lực, trí tuệ của bạn. Quá trình này kéo dài sẽ dẫn đến rối loạn giấc ngủ, rối loạn sinh lý và mất ham muốn tình dục.

Do cảm xúc âm tính kéo dài, bao gồm: Lo sợ quá mức, người nhà bị bệnh nan y, gia đình lục dục, con cái hư hỏng, công danh trắc trỏ, bất mãn với cuộc sống, thường có tâm lý lo sợ, tinh thần bất an dẫn đến mất ngủ, rối loạn tâm-sinh lý có thể dẫn đến liệt dương.

Do yếu tố nội tiết. Testosteron là kích tố nam duy trì sự phát triển của dương vật, kích thích các trung tâm điều phối quá trình tình dục ở não.

Khi tỷ lệ kích tố nam testosteron huyết tương giảm dưới 2 mg/ml (trung bình 6 mg/ml) sẽ làm giảm hưng phấn và giảm ham muốn tình dục.

Do bệnh tật. Một số người bị bệnh tim mạch, huyết áp, đái tháo đường, béo phì, bệnh cột sống… cùng bị yếu sinh lý. Một số loại thuốc điều trị huyết áp, thuốc an thần cũng ảnh hưởng đến việc cương dương.

+ Điều trị cho những người yếu sinh lý:

Tùy theo nguyên nhân gây ra sự rối loạn trong việc cương dương vật, mức độ cương cũng như thời gian cương cứng. Nếu là do :

Tổn thương thực thể trên mạch máu ở dương vật hay tổn thương thần kinh thực vật, tủy sống, khiếm khuyết trong cấu trúc dương vật thì việc điều trị phải dựa vào khoa giải phẫu để phục hồi lại các chức năng bị mất.

Do bệnh tật như bị bệnh tim, cao huyết áp, tiểu đường, cường tuyến giáp, suy gan, suy thận, phì đại tuyến tiền liệt… thì vấn đề là điều trị các bệnh gây ra tình trạng suy yếu sinh lý là chính.

Do dược phẩm, rượu, thuốc lá, thì cần phải thay thế, hạn chế hay dứt bỏ mới mong tái lập lại tình trạng cường dương.

Do lão hóa, do suy nhược, do tâm lý các nguyên nhân này là vấn đề thuộc từng mỗi một cá nhân.

Việc đánh giá lượng định của thầy thuốc đối với một cá nhân này đôi khi rất khác với một cá nhân khác cho nên không thể đưa ra một phác đồ chung trong việc điều trị được đôi khi chỉ cần giải tỏa một vướng mắc trong đời sống vợ chồng, hoặc khuyên thay đổi nếp sống, môi trường, hay chỉ thêm một cánh cửa của phòng ngủ là có thể giải quyết được vấn để tưởng chừng như nan giải và đôi khi ngược lại.

Vấn đề là biết được điều cốt yếu của sự rối loạn cương dương vật ở đâu để đưa ra phương pháp điều trị.

 

 

 

Điều trị sỏi đường tiết niệu như thế nào?

+ Khi bị sỏi đường tiết niệu thì có dấu hiệu gì?

– Trong nhiều trường hợp sỏi thận, sỏi có thể rất to, thậm chí thành sỏi san hô mà bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ đau âm ỉ vùng hông lưng bên có sỏi, do đó nhiều bệnh nhân đến bệnh viện khi đã có biến chứng nhiễm trùng hoặc suy thận.

– Sỏi không tắc nghẽn thường được phát hiện tình cờ khi bệnh nhân đi khám bệnh tổng quát, hoặc đôi khi bệnh nhân có dấu hiệu tiểu máu.

– Sỏi gây tắc nghẽn thường có triệu chứng đau vùng hông lưng. Trường hợp điển hình sẽ có cơn đau quặn thận do sỏi.

– Cơn đau có thể lan xuống bẹn, đùi tùy vị trí và mức độ bế tắc. Trong lúc đau quặn thận thường có kèm tiểu máu đại thể hoặc vi thể, buồn nôn, nôn, triệu chứng nhiễm trùng.

– Sỏi bàng quang thường có biểu hiện lâm sàng là đau ở vùng hạ vị, tiểu ngắt quãng, tiểu khó, bí tiểu hoặc tiểu máu. Bệnh nhân có thể bị nhiễm trùng tiểu nhiều lần.

+ Làm gì để khẳng định có sỏi đường tiết niệu?

– Cần chụp phim hệ niệu không sửa soạn (KUB) và làm tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu. Khoảng 80% trường hợp là sỏi cản quang nên có thể thấy trên phim KUB.

– Siêu âm bụng cũng rất hữu ích, nhất là trong việc đánh giá mức độ ứ nước của thận. Siêu âm có thể giúp phát hiện sỏi đường tiết niệu.

– Chụp phim hệ niệu nội tĩnh mạch (UIV) cho phép đánh giá chức năng và hình ảnh hộ niệu. Đôi khi cần phải chụp các phim muộn (sau 4-6 giờ, thậm chí 24 giờ) nhất là trong trường hợp sỏi không cản quang hoặc thận chậm bài tiết.

– Hiện nay, chụp điện toán cát lớp (CTscan và mới hơn là MSCT) với ưu điểm là nhanh không cần rửa ruột và một số trường hợp không cần dùng thuốc cản quang, giúp xác định chính xác sỏi đường tiết niệu, chức năng và hình dạng đường tiết niệu.

+ Điều trị sỏi đường tiết niệu như thế nào?

– Các nguyên tắc chính trong điều trị sải dường tiết niệu như sau:

– Điều trị nội khoa (không cần mổ) được áp dụng đối với sỏi không gây bế tắc, không gây triệu chứng, không có nhiễm trùng, sỏi nhỏ hơn 4-5mm có thể tự ra theo dòng nước tiểu, bệnh nhân được khuyên nên uống nhiều nước, sỏi niệu quản có kích thước nhỏ hơn 4mm thì 90% sẽ tự tiểu ra. (Tuy nhiên, nếu sỏi lớn hơn 6mm thì khả năng tiểu ra sỏi chỉ khoảng 20%).

– Sỏi đường tiết niệu gây nhiễm trùng hoặc bế tắc có chỉ định can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt.

– Tùy kích thước và vị trí của sỏi trên đường tiết niệu và đặc điểm bệnh nhân mà có những phương pháp điều trị khác nhau như:

Mổ mở, tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL), phẫu thuật nội soi lấy sỏi qua da (PCNL), nội soi bàng quang niệu quản tán sỏi, phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản. Mỗi phương pháp có những chỉ định cũng như ưu nhược điểm khác nhau.

– Chế độ ăn uống cho bệnh nhân sỏi đường tiết niệu:

Uống nhiều nước: Nên uống khoảng 2,5-3 lít nước lọc mỗi ngày hoặc ăn uống làm sao để có lượng nước tiểu đạt trên 2,5 lít trong một ngày sẽ giúp tránh bị sỏi niệu.

Ăn lạc, ăn ít thịt động vật: Ăn thực phẩm chứa ít muối, ăn ít các loại thịt.

Ăn uống điều độ thực phẩm chứa calci như sữa, phômai. Mỗi ngày có thể dùng khoảng 3 ly sữa tươi hoặc một số lượng tương đương các sản phẩm từ sữa như bơ, phômai (khoảng 800- 1.300mg chất calci).

Không nên kiêng cữ quá mức những thực phẩm chứa calci vì như thế sẽ gây ra mất cân bằng trong việc hấp thu calci, khiến cơ thể hấp thu nhiều hơn oxalate từ ruột và sẽ tạo sỏi niệu, ngoài ra kiêng cữ thực phẩm chứa calci sẽ bị bệnh loãng xương.

Kiêng cữ thực phẩm chứa nhiều oxalate như trà đặc, bột cám, ngũ cốc, rau muống, sôcôla, cà phê khi lượng oxalate bài tiết trong nước tiểu gia tăng hơn bình thường (khoảng 45mg/24giờ).

Nên uống nhiều nước cam, nước chanh tươi, nước bưởi: những loại thức uống này chứa nhiều citrat giúp chống lại sự tạo sỏi niệu.

Nên ăn nhiều rau tươi có chất xơ: giúp tiêu hóa nhanh, giảm hấp thu các chất gây sỏi niệu.

Tránh ăn nhiều thực phẩm chứa chất purine gây sỏi niệu như cá khô, thịt khô, khô mực, tôm khô, lạp xưởng, các loại mắm nêm, mắm thái, lòng heo, lòng bò.

 

Đau niệu đạo do sỏi.

+ Nguyên nhân

Đây là hiện tượng niệu đạo bị đau rát dữ dội, thường là do bị tắc bởi sỏi. Niệu đạo như một ống dẫn có thành ống dày có chức năng dẫn nước tiểu từ thận tới bàng quang (bọng đái). Niệu đạo bị căng sẽ gây ra cảm giác rất đau.

Nguyên nhân thường do có viên sỏi làm tắc ống khiến nước tiểu bị tích tụ lại, làm thành ống căng ra.
Việc đi lại, cử động mạnh, sự mệt nhọc, bị stress, uống nhiều nước quá hoặc ngược lại khi cơ thể bị mất nước đều làm cho niệu đạo đau thêm.

Nước tiểu bị tích lũy ở thận không chảy xuống bàng quang làm cho thận có thể bị viêm, bị nhiễm trùng gây ra đau. Bệnh nhân cần phải được điều trị gấp.

+ Triệu chứng

Bệnh nhân bị tắc niệu đạo thường cảm thấy đau nhói như bị dao đâm ở cạnh sườn và một bên lưng. Cảm giác đau có thể lan xuống tới cả tinh hoàn hoặc âm hộ.

Bệnh nhân đứng ngồi không yên vì không tìm được một tư thế nào phù hợp để đỡ đau. Bệnh nhân đi tiểu rất khó, cố rặn mà chỉ ra được vài giọt gây nóng, rát đường tiêu. Hiện tượng sốt, người run có thể là triệu chứng của sự viêm nhiễm niệu đạo.

+ Cần phải làm gi?

Lần đầu tiên bị đau, người bệnh cần tới bác sĩ ngay để được điều trị và làm giảm đau. Người đã từng qua nhiều cơn đau tương tự, đã biết mình bị bệnh sỏi niệu đạo, khi bị đau có thể tự uống thuốc chống co thắt cơ đã được bác sĩ chỉ định từ trước.

Nếu không thấy đỡ và nhất là trong trường hợp bị bí tiểu tiện, sốt, người run như bị lạnh, cần phải tới ngay bác sĩ để được điều trị.

+ Chẩn đoán và điều trị

Khi khám bệnh, bác sĩ sẽ kiểm tra xem những triệu chứng của bệnh nhân có liên quan tới những bệnh sau đây không: viêm ruột thừa, viêm vòi trứng, viêm hoặc tắc ruột, viêm thận.

Bệnh nhân được điều trị bằng các loại thuốc giảm đau, chống co thắt cơ, chống viêm và nếu cần, được dùng cả các thuốc có moóc-phin.

Trường hợp bí đái hoặc sốt miên man, bệnh nhân cần phải nằm lại bệnh viện để tìm sỏi hoặc xác định những điểm bị căng giãn ở niệu đạo bằng phương pháp X-quang hoặc siêu âm.

Nếu niệu đạo bị tắc bởi sỏi, người ta có thể tiến hành thông niệu đạo. Đa số trường hợp các hạt sỏi sẽ được tống ra ngoài theo nước tiểu, trừ trường hợp hạt sỏi to quá mới cần phải sử dụng các phương pháp đặc trị khác.

+ Có các loại sỏi nào trong đường tiết niệu ?

Sỏi đường tiết niệu được chia ra sỏi đường tiết niệu trên gồm sỏi thận và sỏi liệu quản, sỏi đường tiết niệu dưới gồm sỏi bàng quang và sỏi niệu đạo.

Các loại sỏi: sỏi calci chiếm 80% gồm calcium oxalate (monohydrate và dihydrate), calcium phosphate, calcium oxalate and phosphate; sỏi struvite (magnesium ammonium phosphate) 10%; sỏi uric acid 8%; sỏi cystine 1%; các loại khác chiếm 1% gồm triamterene, xanthine, matrix.

+ Vi sao bị sỏi đường tiết niệu?

Quá trình hình thành sỏi đường tiết niệu rất phức tạp, do nhiều yếu tố gây ra.

Hòn sỏi có một cấu trúc đặc thù gồm 2 yếu tố:

– Chất mucoprotein có tác dụng như chất keo kết dính các tinh thể với nhau để tạo sỏi.

– Các tinh thể của các chất bình thường được hòa tan trong nước tiểu, chủ yếu là calci và oxalate, ngoài ra còn có phosphate, magne, urat, cystinẹ.

Khi nước tiểu bị cô đặc quá mức hoặc khi pH nước tiểu thay đổi thì các chất hòa tan trong nước tiểu sẽ kết tinh lại thành các tinh thể, và các tinh thể sẽ bị loại trừ theo dòng nước tiểu, cần phải có chất mucoprotein thì các tinh thể mới liên kết được với nhau để tạo ra hòn sỏi.

Nhiễm trùng tiết niệu dễ gây kết tụ sỏi. Những bất thường ở đường tiết niệu làm chậm hoặc bế tắc dòng nước tiểu dễ gây kết tụ sỏi.

+ Các yếu tố nguy cơ tăng tạo sỏi:

– Rối loạn về chuyển hóa.

– Rối loạn về nội tiết.

– Yếu tố môi trường.

– Chế độ ăn.

– Các bất thường về giải phẫu của đường tiết niệu.

+ Hòn sỏi trong đường tiết niệu diễn tiến ra sao?

Sau khi được hình thành trong đường tiết niệu, hòn sỏi khi còn nhỏ thông thường sẽ đi theo dòng nước tiểu và được tống ra ngoài. Nhưng nếu hòn sỏi bị vướng lại ở một vị trí nào đó trên đường tiết niệu nó sẽ to ra gây bế tắc ứ đọng nước tiểu, lâu ngày sẽ đưa đến các biến chứng là:

– Ứ nước thận niệu quản.

– Nhiễm trùng.

– Phát sinh thêm các hòn sỏi khác.

– Và cuối cùng sẽ phá hủy dần phần thận đã sản sinh ra nó gây ra thận mất chức năng, suy thận, thận mủ.

-Trong trường hợp sỏi niệu quản 2 bên, có thể gây ra suy thận cấp, vô niệu.

 

 

 

 

 

Viêm cột sống dính khớp.

+ Nguyên nhân

Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Chỉ riêng ở Trung Quốc, đã có ít nhất 2,3 triệu người mắc bệnh này. Nam giới trẻ tuổi thường hay mắc bệnh VCSDK nhất, chiếm tới 95% tổng số người mắc bệnh. 80% người mắc bệnh có độ tuổi dưới 30.

Bệnh có tính gia đình, liên quan chặt chẽ với yếu tố kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA B 27. Những yếu tố môi trường như nhiễm khuẩn, chấn thương có thể kích thích khởi phát bệnh.

+ Các biểu hiện lâm sàng của bệnh VCSDK

Trong thời kỳ đầu phát bệnh, các triệu chứng thường nhỏ nên không được bệnh nhân chú ý. Khi triệu chứng đã rõ thì bệnh đã tiến triển được nhiều tháng, cho đến vài năm.

Dấu hiệu sớm thường gặp là đau cột sống thắt lưng và viêm các khớp chi dưới. Biểu hiện ở cột sống thường bắt đầu từ khớp cùng chậu nằm phía sau khung chậu, sau đó tổn thương tiếp tục lan theo chiều từ dưới lên trên cho đến tận cột sống cổ.

Những triệu chứng cột sống đầu tiên là đau vùng mông, thắt lưng hay đau thần kinh tọa. Đau tăng lên về đêm và cứng cột sống thấy rõ nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy.

Ở giai đoạn muộn, người bệnh VCSDK có các biến dạng cột sống rõ rệt như eo lưng dẹt do teo cơ cạnh cột sống, lưng gù, cổ vươn về phía trước. Khớp háng bị viêm trong khoảng 70% trường hợp, thường xuất hiện trong 5 năm đầu bị bệnh.

Viêm khớp háng có biểu hiện đau vùng bẹn, sau mông, hạn chế vận động phần hông thường ỏ trạng thái co gấp. Các cơ mông và đùi teo nhanh chóng. Viêm khớp gối, chủ yếu sưng đau, ít nóng đỏ, có thể kèm theo tràn dịch khớp, làm hạn chế các động tác gấp duỗi chân, đi lại khó khăn.

Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai. Đau gót chân và đau hay sưng tấy những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận.

Ngoài ra bệnh còn có một số biểu hiện toàn thân và ngoài khớp như sốt, gầy sút, viêm mống mắt, hở van tim.

Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai, đau gót chân và đau hay sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận.

Viêm mống mắt thể mi của màng bồ đào mắt xảy ra trong 25% trường hợp VCSDK, có biểu hiện đau mắt, sung huyết kết mạc, sợ ánh sáng.

Người bị VCSDK có thể bị hoại tử tầng giữa vùng gốc động mạch chủ, làm cho vòng động mạch chủ bị giãn rộng ra, làm cho van động mạch chủ không đóng kín được hoàn toàn, dẫn đến hở van động mạch chủ.

Các tổn thương viêm có thể làm tổn thương đường dẫn truyền của tim, gây nên loạn nhịp tim. Những bất thường đó có thể chẩn đoán khi chụp X-quang tim phổi, làm siêu âm tim.

Tóm lại, nếu bệnh nhân nam giới trẻ tuổi (tuổi từ 15-30) đau cột sống thắt lưng, có đau khớp háng hay sưng đau khớp gối, khớp cổ chân cần phải nghĩ đến bệnh VCSDK và cần đến khám ngay ở chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán xác định và điều trị kịp thời.

+ Chẩn đoán VCSDK bằng cách nào?

Bệnh nhân có các biểu hiện nói trên sẽ được làm các xét nghiệm máu, dịch khớp, chụp X-quang cột sống, đặc biệt là khớp cùng chậu.

Trên phim X-quang có thể phát hiện thấy các triệu chứng điển hình của bệnh như viêm khớp cùng chậu hai bên, hình ảnh cầu xương nối liền hai thân đốt sống do xơ hóa bao khớp, cột sống có hình ảnh thân cây tre do cầu xương nối liền nhiều thân đốt sống, dải xơ dây chằng cạnh cột sống trông như những đường ray tàu hỏa, đốt sống biến dạng thành hình vuông.

Ngày nay để chẩn đoán sớm bệnh người ta có thể áp dụng phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân hay tìm yếu tố HLA B27, dương tính trong 90% bệnh nhân VCSDK trong khi đó chỉ có 4% dân số mang yếu tố này.

Xét nghiệm tìm yếu tố dạng thấp trong VCSDK thường âm tính, do vậy bệnh còn được xếp vào nhóm bệnh lý cột sống có huyết thanh âm tính. Yếu tố dạng thấp do vậy thường chỉ dùng để chẩn đoán phân biệt với bệnh viêm khớp dạng thấp.

Người ta còn làm xác định tốc độ máu lắng và protein C phản ứng để xác định xem bệnh có đang hoạt động hay không. 80% người bệnh VCSDK có tốc độ máu lắng cao và protein C phản ứng cao.

Thông thường sau khi khống chế được bệnh thì tốc độ máu lắng và protein C phản ứng có thể trở lại bình thường.

 

 

 

Bệnh vẩy nến và viêm cầu thận cấp.

1. VẨY NẾN

+ Nguyên nhản, triệu chứng:

Vẩy nến là một bệnh da thường gặp, chiếm 1,5-2% dân số. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp ở độ tuổi 20-30.

Bệnh mang yếu tố di truyền; nếu cha hoặc mẹ bị vẩy nến thì con có 8% khả năng sẽ bị. Nếu cả cha và mẹ đều bị thì nguy cơ là 41%. Chấn thương tâm lý là một yếu tố làm khởi phát bệnh và làm bệnh diễn tiến xấu thêm.

Tổn thương của bệnh thường là những mảng màu hồng, hình tròn hoặc bầu dục, có khi tập hợp thành một mảng rộng, bề mặt có vậy màu trắng như xà cừ xếp chồng chất lên nhau.

Vị trí thường gặp: da đầu (rìa chân tóc ở trán, sau gáy), khuỷu tay, đầu gối, vùng da bụng, lưng, đùi, mặt…

Việc điều trị vẩy nến rất khó khăn, dễ gây chán nản vì không có thuốc đặc trị. Thuốc có thể có hiệu quả với trường hợp này nhưng lại không hiệu quả với trường hợp khác.

Một số trường hợp thương tổn ổn định (nếu số lượng thương tổn ít và diện tích thương tổn nhỏ). Nếu bệnh nặng, thương tổn xuất hiện toàn thân, thường rất khó điều trị. Bệnh có thể thuyên giảm rồi lại tái phát, ít khi khỏi hoàn toàn.

+ Điều trị:

– Tại chỗ: Bôi các thuốc làm tiêu sừng như vaselin chẳng hạn. Có thể dùng thuốc uống kết hợp chiếu tia cực tím… Hạn chế bôi corticoid vì các thuốc này có thể làm giảm nhanh các triệu chứng ở da nhưng khi ngừng thuốc thì bệnh rất dễ tái phát.

– Toàn thân: dùng vitamin A liều cao hay dapson, methotrexat, cyclosporin, vỉ ta min D… Không nên dùng corticoid toàn thân vì có nhiều tác dụng phụ và dễ đưa đến biến chứng đỏ da toàn thân.

Thuốc điều trị vẩy nến có nhiều tác dụng phụ nên phải do thầy thuốc da liễu chỉ định và theo dõi.

Ngoài ra, bệnh nhân cần giữ tinh thần thoải mái, bớt căng thẳng thần kinh, ăn uống giảm chất béo, chất đường; tránh dùng chất kích thích như rượu, thuốc lá, cà phê…

Tránh lo âu phiền muộn về bệnh của mình để bệnh không tiến triển nặng thêm. Cháu phải dũng cảm xác định rằng, đã mắc bệnh vẩy nến là sẽ phải chung sống với nó suốt đời.

2. VIÊM CẦU THẬN CẤP

Viêm cầu thận cấp do liên cầu khuẩn tán huyết bêta nhóm A gây ra, bệnh thường gặp ở lứa tuổi mẫu giáo và học sinh. Bệnh diễn biến nói chung lành tính, nhưng có thể gây một số biến chứng trong giai đoạn cấp và dẫn đến tử vong.

+ Chẩn đoán:

Dấu hiệu lâm sàng:

– Phù: Đa số trường hợp phù nhẹ, bắt đầu phù từ mặt rồi đến chân.

– Tăng huyết áp: Cả huyết áp tâm thu và tâm trương. Thông thường huyết áp tăng lên 10- 20mmHg.

– Đái ít và đái máu đại thể hoặc vi thể.

– Ngoài ra bệnh nhi có thể sốt, mệt mỏi, đau bụng.

Xét nghiệm: Phân tích nước tiểu có tính chất quyết định:

– Hồng cầu niệu rất nhiều, trụ hồng cầu.

– Trụ hạt

– Protein niệu tăng, nhưng ít khi quá 2g/m2/24 giờ.

Biến chứng: Có thể gặp gồm: Suy tim cấp; suy thận cấp và phù não cấp.

– Điều trị: Thể thông thường chưa có biến chứng.

– Ăn nhạt trong 3 tuần.

– Hạn chế nước, số lượng nước uống có thể tính bằng số lượng nước tiểu ngày hôm trước cộng thêm 200ml.

– Kháng sinh: thường dùng PenicillinG tiêm bắp từ 7 đến 10 ngày.

– Thuốc lợi niệu: Purosemid 1-2mg/kg/ngày hoặc Hypothiazid 2mg/kg/ngày uống.

– Hàng ngày cân, do huyết áp và đo lượng nước tiểu. Giữ ấm và vệ sinh răng miệng, thân thể.

 

 

Bệnh Herpes sinh dục.

Herpes sinh dục là gì?

Herpes sinh dục là một bệnh có khả năng lây nhiễm qua đường tình dục cao. Nguyên nhân là do virus Herpes simplex (HSV). Các virus này xâm nhập vào cơ thể qua những lỗ hổng trên da hoặc trên màng nhầy của bạn.

Bệnh đặc trưng với những triệu chứng như đau, ngứa, khó chịu ở vùng cơ quan sinh dục. Đường lây truyền chủ yếu là do quan hệ tình dục.

Virus này hầu như không thể lây truyền qua bàn cầu ngồi, khăn tắm hoặc những vật sử dụng chung với người bị nhiễm, do chúng rất dễ bị chết trong vòng 1 giờ sau khi rời khỏi cơ thể ký chủ.

HSV gây nhiễm ở cả nam và nữ. Chưa có liệu trình điều trị cụ thể cho các trường hợp nhiễm virus tái phát, thường gây ra những nỗi đau khổ tế nhị cho người mắc bệnh. Nhiễm Herpes sinh dục hầu như luôn luôn có liên quan với quan hệ tình dục.

Nếu bạn hoặc người phối ngẫu bị nhiễm HSV, bạn có thể kiểm soát được sự lây truyền của virus bằng cách thực hiện các bước bảo vệ cho chính bạn và người phối ngẫu của bạn.

+ Dấu hiệu và triệu chứng:

Đau và ngứa da vùng cơ quan sinh sinh dục.

Những mụn nước, bọng nước hoặc những vết loét da.

Các dấu hiệu khởi đầu là đau và ngứa, thường xảy ra sau 2-7 ngày sau khi nhiễm virus. Vài giờ đến vài ngày sau giai đoạn đầu này thì vết loét bắt đầu xuất hiện.

Ở nữ, vết loét có thể xuất hiện ở vùng âm đạo, cơ quan sinh dục ngoài, mông, hậu môn, hoặc bên trong cổ tử cung, ở nam, vết loét có thể ở dương vật, bìu, mông, hậu môn, đùi, niệu đạo,…

Các vết loét gây ra đau đớn rất nhiều khi đi tiểu. Vết loét đầu tiên chỉ là một chỗ sưng đỏ nhỏ, mềm, đau, rồi trở nên mọng nước trong vòng một vài ngày.

Sau đó chúng vỡ miệng ra trở thành vết loét, gây rỉ dịch hoặc chảy máu. Sau 3-4 ngày vết loét đóng mài (vảy) và dần dần lành lại. Bạn phải chịu đựng những đau đớn và nhiều cảm giác khó chịu khác ở vùng sinh dục cho đến khi sạch virus.

Trong giai đoạn bộc phát, có thể có các triệu chứng nhiễm virus thông thường giống bệnh cúm, gồm sốt, nhức đầu và nổi hạch bẹn.

Chu kỳ bị Herpes sinh dục rất đặc biệt. Các dấu hiệu và triệu chứng trên có thể tái phát qua hàng năm. Có những người bị tái phát hàng tháng.

Tuy vậy hầu hết bệnh nhân bị bộc phát không thường xuyên.

Một số yếu tố có thể gây bộc phát trở lại, bao gồm:

– Stress.
– Kinh nguyệt.
– Suy nhược cơ thể.
– Bệnh tật.
– Kích ứng hay dị ứng da.
– Phẫu thuật.
– Quan hệ tình dục quá mạnh.

Một số trường hợp, virus nhiễm vào rất hoạt động và có thể lây truyền ngay cả khi không hề có triệu chứng. Tuy nhiên trường hợp này không phổ biến lắm.

+ Nguyên nhân:

Có hai loại virus Herpes simplex. HSV type 1 (HSV-1) gây tổn thương vùng da và niêm mạc miệng, mỗi. HSV type 2 (HSV-2) là loại gây Herpes sinh dục.

Virus lây truyền trực tiếp từ da qua da trong quá trình quan hệ tình dục. HSV-2 có tính lây nhiễm rất cao nếu bạn đang có những vết loét do herpes trên da (giai đoạn hoạt động), nhưng nếu bạn không ở giai đoạn này vẫn có thể lây nhiễm cho người khác. Nhiễm HSV-2 rất thường gặp trong cộng đồng.

Hàng triệu người Việt nam hiện nay đang bị nhiễm Herpes sinh dục, trong đó có không ít người không có triệu chứng hoặc vì lý do tế nhị không đến khám và chẩn đoán ở bệnh viện.

+ Biến chứng:

Ở người trưởng thành, ngoài vết loét da, Herpes sinh dục không gây ra các biến chứng gì nặng nề khác. Khi mẹ mang thai bị Herpes sinh dục với các vết loét da có thể lây qua cho con trong quá trình đứa trẻ được sinh ra qua ngã âm đạo.

Trường hợp này, Herpes sinh dục có thể gây tổn thương não, mờ mắt hoặc tử vong cho trẻ. Nhiễm Herpes sinh dục từ mẹ qua con thường gặp hơn nếu mẹ bị nhiễm và bộc phát lần đầu khi mang thai hoặc đang ở trong giai đoạn hoạt động của herpes sinh dục.

+ Điều trị:

Hiện chưa có liệu trình điều trị cho herpes sinh dục. Tuy nhiên có thể dùng thuốc ức chế virus như Acyclovir (Zovirax), Famciclorvir (Kamvir) và Valacyclovir (Valtrex) có thể giúp vết loét lành nhanh chóng hơn cũng như hạn chế tái phát. Có thể dùng trong đợt bộc phát hoặc sau khi bộc phát (phòng ngừa đợt kế tiếp).

+ Phòng ngừa:

Tương tự như với các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Mấu chốt là ở chỗ tránh sự lây lan của virus HSV, nhất là trong giai đoạn có sang thương loét. Một khi bị herpes sinh dục, bạn sẽ có nguy cơ cao mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, kể cả HIV và AIDS.

Để phòng tránh Herpes sinh dục, tốt nhất là bạn nên quan hệ tình dục với chỉ một người chác chắn không bị nhiễm. Nếu không, bạn nên:

– Dùng bao cao su khi quan hệ tình dục.

– Quan hệ tình dục an toàn trong những lúc không có triệu chứng.

– Giới hạn số người phối ngẫu.

– Hãy cẩn thận

– Nêu bạn đang bị Herpes sinh dục thể hoạt động, cần:

– Tránh quan hệ tình dục

– Giữ cho vết loét sạch sẽ và khô ráo

– Tránh đụng chạm đến vết loét, và rửa tay kỹ sau khi tiếp xúc với vết loét.

Hãy ghi nhớ rằng, virus cũng có thể lây truyền ngay ca khi bạn hoàn toàn không có triệu chứng bệnh. Hãy đợi đến khi các vêt loét hoàn toàn lành lặn trước khi quan hệ tình dục trở lại. Tốt nhất là nên bảo vệ bằng bao cao su.

 

Bệnh tâm thần phân liệt.

Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh lý của não, có những biến đổi sinh học phức tạp, chịu tác động mạnh của môi trường tâm lý xã hội không thuận lợi.

Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh phổ biến trên thế giới và ở nước ta tỷ lệ từ 0,3 – 1% dân số.

Bệnh có thể chữa được hoặc thuyên giảm tốt nếu được phát hiện sớm, chữa trị kịp thời, hợp lý.

+ Biểu hiện:

Bệnh nhân cho rằng ý nghĩ của mình bị phát thanh, ý nghĩ của mình bị người khác biết, hoặc họ đọc được ý nghĩ của mình.

Nghi ngờ có người điều khiển chi phối, kiểm tra; bị theo dõi, ám hại hay đầu độc mình, ghen tuông vô lý.

Cho mình có khả năng đặc biệt, có quyền lực như siêu nhân có khả năng làm được những việc kỳ lạ, là người nhà trời, điều khiển được mưa gió.

Nghi ngờ mình mắc bệnh nặng như ung thư, lao, HIV, giang mai, tim mạch, mà thực tế không bị bệnh gì.
Nghĩ rằng mình có những khuyết điểm lớn, có tội phải bị trừng phạt nặng nề.

Bệnh nhân nghe, nhìn, ngửi hoặc cảm thấy những gì mà người khác không thấy (không có trong thực tế). Thí dụ, nghe thấy tiếng nói trong đầu hoặc tiếng nói phát ra từ một bộ phận nào đó của cơ thể.

Tiếng nói bình luận hành vi của bệnh nhân hoặc thảo luận với nhau về bệnh nhân.

Các bất thường về hành vi cảm xúc: Kích động, đập phá, hò hét vô cớ, hành hung với người thân hoặc hàng xóm; ít nói, hói gặng cũng không nói, không ăn, thu mình lại, tính tình khô lạnh không muốn tiếp xúc với người thân. Tính khí vui buồn, giận dữ thất thường.

+ Điều trị:

Về phía gia đình:

Phát hiện sớm những thay đổi bất thường kể trên.

Đưa người bệnh đến với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần để nhận được tư vấn cần thiết của thầy thuốc.

Quản lý và cho uống thuốc đều đặn, đúng liều lượng, giờ giấc theo chỉ định của bác sĩ.

Bệnh tâm thần phân liệt tái phát phần lớn là do không uống thuốc đều đặn hoặc tự ý cắt thuốc.

Bệnh sẽ thuyên giảm và ổn định tốt nếu được gia đình quan tâm, tạo môi trường thích ứng, dung nạp tốt.

+ Những hiểu biết sai lầm cần tránh:

Cho rằng thuốc tâm thần là loại thuốc ngủ, nay bệnh nhân đã ngủ tốt thì không cần dùng nữa.

Cho rằng thuốc chữa bệnh tâm thần là thuốc độc, e ngại không sử dụng mặc dù đã có chỉ định của bác sĩ.

– Cộng đồng:

Cần thông cảm, chia sẻ với bệnh nhân và gia đình, không mặc cảm, riễu cợt trêu trọc, ngược đãi.

Giúp đỡ bệnh nhân có việc làm.

Giúp đỡ bệnh nhân và gia đình khi gặp tình huống khó khăn.

– Cán bộ y tế:

Định kỳ kiểm tra bệnh, tư vấn về điều trị và tái phục hồi chức năng tâm lí xã hội, cấp phát thuốc đầy đủ cho bệnh nhân.

Hướng dẫn gia đình quản lý và cho uống thuốc đều.

Hướng dẫn gia đình phát hiện kịp thời các biểu hiện tái phát bệnh và những tác dụng phụ khi uống thuốc an thần.

– Điều trị tại:

Bệnh viện tâm thần tỉnh hoặc thành phố.

. Trạm sức khỏe tâm thần tỉnh.

. Phòng khám tâm thần tại các quận.

. Trạm y tế xã, phường.

. Các bệnh nhân tâm thần phân liệt được điều trị ngoại trú được miễn phí theo khu vực cư trú.

 

 

 

Biến chứng và điều trị bệnh Alzheimer.

Để giúp ích cho chẩn đoán Alzheimer từ nhiều nguyên nhân gây mất trí nhớ, người ta dựa vào những yếu tố sau:

Tiền sử bệnh. Thầy thuốc cần hỏi kỹ về tình trạng sức khỏe chung và các vấn đề bệnh lý đã xảy ra trước đây, nhất là những vấn đề xảy ra trong các hoạt động hàng ngày của bệnh nhân. Cần thu thập thêm thông tin từ người thân và bạn bè của bệnh nhân.

Các thử nghiệm thường quy. Xét nghiệm máu, nước tiểu giúp thầy thuốc có thể loại trừ những nguyên nhân gây sa sút trí tuệ khác.

Các test tâm thần. Các test này dùng để đánh giá trí nhớ, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng chú ý, kỹ năng đếm và ngôn ngữ. Các test này giúp cho bác sĩ lượng giá chính xác khả năng nhận thức của bệnh nhân.

Ví dụ, bác sĩ có thể kiểm tra trí nhớ gần và trí nhớ dài hạn bằng cách hỏi: Hôm nay là ngày gì? Chiến tranh Thế Giới thứ II xảy ra năm nào? Các test nhắc lại cũng là một ví dụ. Bác sĩ liệt kê tên những người thân trong gia đình bệnh nhân, bệnh nhân nhắc lại ngay rồi lặp lại sau 5 phút.

Kiểm tra não bộ bằng chụp cắt lớp điện toán CT scan, chụp cộng hưởng từ hạt nhân MRI, chụp phát xạ positron PET, dựa vào đó có thể định vị được những bất thường có thể thấy được.

Nhờ vào những phương pháp này, các thầy thuốc có thể chẩn đoán chính xác đến 90% các trường hợp Alzheimer. Chẩn đoán chính xác 100% chỉ có thể qua phương pháp phẫu tích não bộ tử thi để tìm các mảng và đám rối – điều không thể thực hiện khi bệnh nhân còn sống.

Những xét nghiệm về gen và di truyền học vẫn còn trong vòng thử nghiệm. Thử nghiệm máu chỉ cho biết rằng một người có mang gen bất thường có thể có liên quan với Alzheimer mà không thể cho biết người nào mang các gen đó sẽ bị tiến triển thành bệnh.

+ Biến chứng:

Hầu hết bệnh nhân Alzheimer không tử vong do bệnh chính mà thường do các bệnh kèm theo, như viêm phổi hoặc các nhiễm trùng khác.

Ở Alzheimer giai đoạn nặng, bệnh nhân mất tất cả các khả năng tự chăm sóc cho bản thân. Họ ăn uống khó khăn, không kiềm chế hoặc không thể kiểm soát bước đi và thường đi lang thang khỏi nhà.

Mất các khả nàng kiểm soát này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như:

Viêm phổi. Khó nuốt thức ăn và các dịch uống làm bệnh nhân dễ hít các chất này vào phổi, gây ra viêm phổi hít.

Nhiễm trùng. Bệnh nhân thường đi tiểu không tự chủ nên phải đặt thông tiểu, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường niệu, nếu không được điều trị sẽ càng nặng hơn, có thể đe dọa mạng sống bệnh nhân.

Té ngã và các biến c hứng. Người bệnh thường bị mất định hướng và dễ dàng bị vấp ngã, làm tăng nguy cơ gãy xương. Hơn nữa, té ngã thường làm chấn thương đầu nặng, như xuất huyết nội sọ, bệnh nhân phải chịu phẫu thuật nằm viện dài ngày, càng làm tăng nguy cơ huyết khối trong nào, tim, phổi, loét da do tư thế, tất cả đều đe dọa mạng sống người bệnh.

+ Điều trị:

Cho đến gần đây vẫn chưa có phương pháp nào thực sự điều trị cho bệnh Alzheimer. Thuốc và chăm sóc bệnh nhân là những biện pháp chủ yếu.

– Thuốc.
Các thuốc hiện hành không thể làm ngăn chặn hay nghịch đảo quá trình bệnh nền tảng, nhưng chúng có thể làm chậm quá trình diễn tiến bệnh hay làm suy giảm các triệu chứng. Các thuốc được khuyến cáo dùng trong bệnh Alzheimer gồm:

Tacrine (Cognex). Tacrine có thể cải thiện khả năng trí tuệ khoảng 30% bệnh nhân Alzheimcr mức độ từ nhẹ đến trung bình bằng cách làm chậm sự suy giảm chất dẫn truyền thần kinh trong não. Tác dụng phụ gồm: buồn nôn, tiêu chảy, một mỏi, thường chỉ nhẹ và ngắn hạn.

Rivastigamine (Exelon). Cùng giống như tacrine và donepezil, rivastigamine ngăn chặn sự giảm sút các chất dẫn truyền thần kinh, giảm các triệu chứng. Tác dụng phụ: Buồn nôn, nôn.

Các thầy thuốc cũng thường sử dụng hỗ trợ các thuốc nhằm cải thiện triệu chứng đi kèm, như mất ngủ, lơ đãng mất tập trung, lo âu, kích động và trầm cảm.

Việc điều trị bệnh Alzheimer hiện nay vẫn còn trong giai đoạn non trẻ. Nhưng các nhà nghiên cứu vẫn lạc quan tin tưởng rằng trong một tương lai không xa, nhiều thuốc mới ra đời, hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn trong triệt thoái các triệu chứng của bệnh Alzheimer.

Các chuyên gia hiện đang khảo sát các triệu chứng giống bệnh Alzhcimẹr trên chuột thí nghiệm nhằm thúc đẩy việc chế tạo các loại thuốc có thể trì hoãn hoặc làm kéo dài quá trình tiến triển bệnh.

– Chăm sóc bệnh nhân.

Trước khi tìm ra một phương pháp hữu hiệu điều trị bệnh Alzheimer, người bệnh rât cần sự quan tâm chăm sóc và giúp đỡ từ những người xung quanh.

Theo Hiệp hội bệnh Alzheimer quốc gia Hoa Kỳ, cứ 10 gia đình thì có 1 có liên quan đến bệnh này. Trong 4 triệu người mắc bệnh Alzheimer tại Mỹ, 70% sống tại nhà và được sự chăm sóc của những người thân trong gia đình.

Chăm sóc bệnh nhân là một thử thách rất lớn. Sự suy sụp chậm chạp và không rõ giới hạn đòi hỏi người chăm sóc phải rèn luyện tính nhẫn nại, sự hiểu biết, tình thương và óc sáng tạo.

Mấu chốt của việc chăm sóc là tập trung vào những công việc mà người bệnh Alzheimer vẫn còn thấy thích thú. Thực chất những phương cách làm giảm tiếp xúc va chạm đến những khả năng bị suy yếu và các rối loạn cư xử hành vi có thể tránh được một số khó khăn của bệnh.

Mỗi bệnh nhân Alzheimer đều phải trải qua những triệu chứng và những thời kỳ hết sức khó khăn. Cho nên các kỹ thuật chăm sóc cũng thay đổi cho từng trường hợp cụ thể.